GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 10:54 16/04/2017 (GMT+7)

Phật học vấn đáp (Phần cuối)

(PGVN)

Sắc mà không phải sắc, nên không kẹt trong chỗ tướng sắc, không mà chẳng phải không, nên không kẹt trong chỗ tướng không. Không kẹt trong tướng có tướng không... Chấp có pháp tướng là chấp hữu, chấp không pháp tướng là chấp vô. Sở dĩ Kim Cang dạy chúng ta không nên biên kiến như thế là vì sắc cũng tướng, mà không cũng là tướng nữa. Đó là cái chân lý đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo vậy.

Chương X: Chân lý sắc không của Tiểu thừa và Đại thừa

312. Có pháp nào làm cho mình hiểu thêm thật rộng, thật sâu chân lý Tuyệt đãi Trung đạo chăng?

- Nếu tỏ ngộ được pháp lý sắc không của Đại thừa thì thấu triệt được Tuyệt đãi Trung đạo.

313. Sắc không là gì?

- Sắc, tiếng Phạn là rūba, tức là những sắc tướng, những hình dạng (formes) vật chất. Sắc có hai thứ: thứ nhất là sắc trần cảnh, thuộc về thế giới ngoại cảnh (ngoại thân); thứ nhì là sắc căn thân, thuộc về các căn trong thân thể.

Sắc trần cảnh lại chia làm hai thứ: một là hiển sắc, như các màu đỏ, đen, trắng v.v... Những màu này nó hiển hiện ra cho ta thấy cái sắc của nó, nên gọi là hiển sắc. Hai là đối sắc, là những vật chất có hình, có tướng, có dạng khác nhau, hoặc cứng, hoặc mềm, hoặc khô, hoặc ướt v.v... Những hình dạng này từ vật nhỏ như vi trần, điển tử, lớn đến núi non, sông bể, địa cầu...

Trên đây là nói chung về sắc trần cảnh, nó thuộc năm món trong lục trần là: sắc, thinh, hương, vị, xúc. Còn cái sắc trong Bát Nhã Tâm kinh thuộc về sắc căn thân, gồm có năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Sắc căn thân tức là sắc uẩn, một uẩn trong năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Sắc uẩn mặc dầu thuộc về căn thân, nhưng nó là vật chất, nên cũng đồng với sắc trần cảnh không khác, đều là tướng phần của a lại da thức (hàm tàng thức). Nhưng, dầu căn thân, dầu trần cảnh cũng thuộc về sắc pháp (các pháp có hình sắc như vật chất), trái với tâm pháp (các pháp thuộc giới hạn của tâm, của tinh thần).- Định nghĩa chữ sắc như thế, thì biết rằng sắc là những món thuộc về hiện tượng vật chất (phénomène matériel) tức là vạn hữu trong thế gian vậy.

Đã hiểu chữ sắc rồi, thì chữ không (arūba) cũng chẳng có gì là khó hiểu, như chữ hữu đối với chữ vô vậy. Nhưng, đó là thuộc về nghĩa của danh từ. Còn về chân lý thì sắc không của Tiểu thừa chẳng đồng nghĩa với Đại thừa. Ấy là chưa nói tới cái chân lý huyễn sắc huyễn không của Sai biệt trí Bồ tát, nó không đồng nghĩa với chân lý Tiểu thừa và Đại thừa.

314. Thế nào gọi là sắc không của Tiểu thừa?

- Pháp lý của Tiểu thừa còn trong vòng tương đối; vì lẽ ấy, cách định nghĩa sắc không cũng ở trong vòng đối đãi tức là cái "có” đối với cái "không,” chớ chẳng có gì lạ. Cái không của Tiểu thừa là không có gì hết, nó tiêu mất cái hữu hình, thành ra cái vô hình, gọi là không. Sắc không của Tiểu thừa là như thế. Tất cả vạn hữu là sắc, khi vạn hữu tiêu trầm là không. Vì quan niệm như thế, nên pháp tu của Tiểu thừa, kỳ cho tiêu diệt cả thân tâm, đó là cảnh giới cứu cánh, gọi là Niết bàn tịch diệt.

315. Khi một người tu hành có một quan niệm sắc không như Tiểu thừa, thì được những lợi ích gì?

- Có lợi ích về mặt không mê nhiễm trần thế, không bị trần thế buộc chặt và nhận chìm trong cảnh tham dục, chừng đó mới có thể tấn tới con đường giải thoát. 

Khi người tu hành nhận thấy vạn vật là vô thường, là biến đổi, thoạt có rồi thoạt không, khi còn khi mất, chừng đó đối với đời mới có lòng tỉnh ngộ: cho tình đời là đen bạc; đối với tài sắc danh lợi, xem như bọt xà bông, như ảnh trong gương, như hình dưới nước. Nhờ vậy mà dứt được cái lòng dính cảnh, tham luyến hồng trần khổ hải, diệt được tâm phan duyên, lòng không còn một vọng tưởng mê nhiễm, gọi là Niết bàn vắng lặng.

316. Thế nào gọi là sắc không của Sai biệt trí Bồ tát?

- Đối với vạn hữu trong thế gian, pháp lý của Sai biệt trí Bồ tát cho ta biết: "Vạn hữu trong vũ trụ không phải thật sắc, mà cũng chẳng phải thật không. Đó là huyễn sắc huyễn không của Sai biệt trí Bồ tát.” Pháp lý này nói rằng: Các sắc pháp (sắc căn thân và sắc trần cảnh) do nhân duyên mà có, nghĩa là do nhiều món có tên khác nhau hiệp thành.

Ví dụ như cái bàn viết, phải hiệp đủ các món có những tên là: cây, ván, đinh, ốc, ống khoá, gia công cưa, bào, đục, đẽo, sơn phết... mới thành ra cái bàn viết. Cái bàn viết là một tên giả (giả danh) tạm đặt ra để chỉ tên một món đồ, mà trong đó mỗi món, món nào cũng có tên riêng của món nấy. Cái bàn viết không có thật thể (hình thể chân thật bất diệt), không trường tồn, không tự tính, hay hoại diệt, đến lúc tan rã, thì không còn có cái hình dáng nào đáng gọi là cái bàn nữa. Thế thì cái bàn chẳng thật có, nó là một vật dối giả, chẳng qua do nhân duyên hội hiệp mà có hình tướng cái bàn vậy thôi, vì lẽ ấy, cái bàn là huyễn sắc. Khi cái huyễn sắc này tan rã, thì thành cái không, nhưng là huyễn không, chớ chẳng phải thật không. Bởi vì, nếu đủ nhân duyên, thì cũng có cái bàn viết khác nữa.

Tất cả vạn vật đều như cái bàn viết, hễ có nhân duyên hội hiệp thì thành ra huyễn sắc, khi nhân duyên chia lìa thì thành ra huyễn không. Nếu các sắc pháp mà thật có, thì chẳng bao giờ hoá ra không được. Nếu cái không mà thật không, thì chẳng bao giờ thành sắc được. Thế thì, sắc cũng như không, toàn là như huyễn như hóa, như hoa đốm giữa hư không, khi sinh khi diệt. Rốt lại, sự sinh diệt của sắc không cũng đều là huyễn sinh huyễn diệt.

Nói tóm lại, dầu sắc dầu không cũng đều do nhân duyên. Nên biết thêm rằng, chẳng những các món nhân tạo mới gọi là nhân duyên mà thôi, cho đến những món nào thuộc trong tự nhiên giới cũng là nhân duyên cả, như non sông, bể cả, rừng rú, khoáng vật, v.v... cũng đều là do nhân duyên tạo thành. Cho đến tu hành thành Phật cũng là nhân duyên nữa. Sắc không còn là như huyễn, thì nhân duyên há không như huyễn? Cho đến như huyễn tu hành, như huyễn thành Phật, đó là chân lý huyễn sắc huyễn không của Sai biệt trí Bồ tát.

317. Khi người tu hành đã nhập tâm cái thuyết sắc không đều do nhân duyên như huyễn sinh, như huyễn diệt, thì được ích lợi gì?

- Được ích lợi về mặt giải thoát, không bị trần thế ô nhiễm mê hoặc. Trong lúc tu hành, người nào nhờ thuyết "sắc không như huyễn” mà tỉnh ngộ được, thì người ấy phá được pháp chấp, tức là cái lòng chấp trước đeo níu theo ngoại duyên trần cảnh không còn nữa. Bởi chấp rằng các pháp thật có, mới có lòng đeo níu ấy. Một khi phá được pháp chấp, dầu không cầu thanh tịnh tịch diệt, lòng mình cũng vẫn trong sạch vắng lặng luôn luôn. Trái lại, trong khi chưa phá được pháp chấp, nghĩa là trong khi còn đeo níu theo ngoại cảnh lục trần, hễ cảnh sinh thì tâm của mình sinh theo, cảnh diệt thì tâm của mình cũng diệt theo. Chừng đó, dầu mình có muốn thanh tịnh, muốn vắng lặng cũng không bao giờ được. 

Nên để ý rằng, nếu chưa phá được pháp chấp, thì dầu có tĩnh toạ tập thiền, tập định, học huệ, cầu chân, cũng chỉ kết quả trong lúc công phu mà thôi. Ngoài giờ công phu ra, lòng mình vẫn tán loạn và ô nhiễm như thường.

Do cái lẽ trên đây, người tu hành nên biết rằng, nếu nhờ chân lý sắc không như huyễn làm cho mình tỉnh ngộ mà xa lìa pháp chấp, thì sự thanh tịnh này bắt nguồn từ trong nội tính mà phát ra, dầu không dùng công phu tham thiền nhập định, lòng mình cũng vẫn tịnh định luôn luôn cả ngày lẫn đêm. Bởi cái lẽ rất dễ hiểu, là tâm dính cảnh đâu còn nữa mà có vọng niệm tạp tưởng. Nếu tâm dính cảnh không có thì tâm phan duyên (tâm leo chuyền theo ngoại cảnh) cũng không còn, làm sao có sự ô nhiễm trần thế? Thật là bông sen ở trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Chừng đó trọn ngày làm ăn tính toán đối với vấn đề sinh sống, cùng là ở trong gia đình đối với vấn đề nhân luân, vấn đề xã hội, v.v... đều là những phương tiện tuỳ duyên chớ chẳng phải đắm sa lưu chuyển mê tình.

318. Sau khi phá được pháp chấp, thì tình trạng của nội tâm như thế nào? Có phải là cảnh giới tịch diệt chăng? Nhất là phải an trụ như thế nào? 

- Khi đã phá được lòng chấp pháp thì vọng tâm không còn, vọng tâm không còn tức là niệm tưởng ba đời(1) phải tiêu vong, đó chứng nghiệm cảnh giới nội tâm vô sở trụ tướng. Khi nội tâm đến cảnh giới này, thì lòng mình luôn luôn vẫn trong sạch (thanh tịnh) và vắng lặng (tịch diệt). Nếu nội tâm đã đạt được cảnh giới vắng lặng mà không biết soi chiếc (diệu dụng trí huệ)(2) thì trong kinh gọi là tịch mà không chiếu, đó là lạc vào cảnh giới tứ thiền diệt tận định của cõi trời phi tưởng phi phi tưởng, hoặc lạc vào cảnh giới Niết bàn tịch diệt của Tiểu thừa. Người tu hành lọt vào cảnh giới này, hạnh yếm thế hay phát hiện, ưa thích cảnh thanh vắng, không muốn chuyện trò tiếp khách, không muốn làm ăn sinh sống, chuyện nhà giao phó cho vợ con, cách xử thế tiếp vật ngày càng lạnh lùng, thành ra sống một đời lặng lẽ ích kỷ. Thật trạng này tuy người tu Đại thừa không thích, nhưng nếu chẳng gặp người mở nẻo, thì không thế nào tránh khỏi "lâm vào hành vi tu chứng của Tiểu thừa.”

Người tu hành đến trình độ này có hai cách để ngăn ngừa, không lạc vào cảnh giới của Nhị thừa đã nói trên. Một là áp dụng chân lý viên dung bình đẳng vào đời sống thực tế. Chân lý này cho ta biết rằng: Còn chấp tịnh tức là lòng còn động, còn an trụ vào cái không tức là còn mắc kẹt trong cái sắc, v.v... Nghĩa là còn ở trong vòng tương đối của phàm phu, chưa phải siêu việt trên mọi hành tướng đối đãi của thế pháp. - Hai là nhập thế, đi sát với nhân loại quần sinh, ra tay dìu dắt tế độ người đời thoát sông mê bể khổ. Phải hòa quang hỗn tục, xử thế tiếp vật bằng cách tùy duyên mà không mê nhiễm.

Nếu dùng hai cách trên đây thì trí huệ của mình chẳng phải để giác ngộ (tỉnh thức lấy mình) mà là để làm việc lợi lạc cho chúng sinh, đó là tịch mà chiếu, mà cũng là chỗ an trụ(3) của bậc Đại thừa.

1. Quá khứ, hiện tại, vị lai.
2. Trí huệ của bậc này dùng để tùy duyên, hoặc lập nhiều phương tiện độ sinh, chớ chẳng phải trí huệ dùng để tu tập.
3. An trụ mà không chấp, không dính mắc nghĩ tưởng an trụ.

319. Thế nào gọi là sắc không của Đại thừa?

- Chân lý sắc không của Đại thừa khó hiểu hơn hết. Nếu tỏ ngộ rốt ráo cái chân lý này, gọi là hoàn toàn minh tâm kiến tính.

Chúng tôi đã nói cái sắc đối với cái không cũng như cái hữu đối với cái vô là chân lý của Tiểu thừa. Trái với cái nghĩa này, cái sắc tức là cái không, cái không tức là cái sắc. Cái sắc chẳng khác gì cái không, cái không chẳng khác gì cái sắc; đó là chân lý viên dung bình đẳng của Đại thừa. Nên biết rằng: cái không của Đại thừa là chân không bất không hay là chân không diệu hữu. Cái không này chẳng phải không có gì hết, chẳng phải trống rỗng, chẳng phải vô hình vô tướng, cũng chẳng phải tiêu diệt cái hữu hình hữu tướng thành ra vô hình vô tướng. Vì lẽ ấy, khi xem kinh thấy danh từ chân không, thì mình phải biết đó là diệu hữu. Còn như nói diệu hữu, đó là chỉ cái chân không. Cũng có khi trong kinh nói tức sắc, thì mình hiểu đó là nói cái chân không. Còn như nói tức không, thì mình phải biết đó là diệu hữu.

Chúng ta nên hiểu sắc không của Đại thừa như thế này mới rộng nghĩa: Đương sắc tức không, đương không tức sắc (đương có mà không, đương không mà có). Trong Trung Luận có giải thích sắc-không của Đại thừa như thế này:

Nhân duyên sở sinh pháp,
Ngã thuyết tức thị không (chân không).
Diệc danh thị giả danh,
Diệc danh Trung đạo nghĩa. 

Câu thứ nhất nói: các sắc pháp do nhân duyên hội hiệp mà sinh ra. Câu thứ nhì cho ta biết rằng: Các sắc pháp ấy là chân không. Đã là chân không, thì dù sắc dủ không, cũng đều là giả danh, cũng đều là cái nghĩa của Trung đạo, đó là hai câu thứ ba và thứ tư.

Tóm lại, đối với chân lý sắc không của Đại thừa, dù nói có dù nói không, đều chẳng trúng nghĩa. Thế mới biết: chân lý của Đại thừa là phủ nhận cái có với cái không của phàm phu (gồm Nhị thừa), phủ nhận cái huyễn sắc huyễn không của Sai biệt trí Bồ tát. Hơn nữa, nói chẳng có chẳng không; chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không; hoặc nói cũng có cũng không; chẳng phải cũng có, chẳng phải cũng không, đều sai với cái chân lý viên dung bình đẳng tức sắc tức không của Đại thừa vậy.

320. Chân lý của Đại thừa khó hiểu quá, có thể dùng khoa học thí dụ cho dễ hiểu chăng?

- Có hai cái thí dụ: một là dùng phép phân tích, hai là dùng tia sáng quang phổ (spectre). Về sự phân tích, chúng tôi xin đem cái bàn viết ra phân tích thêm một tầng nữa:

Đối với cái bàn viết, Sai biệt trí Bồ tát chỉ phân tích những món hội hiệp về phần thô, tức là phần hữu vi, còn phần vô vi thì không thấy. Ở đây Đại thừa phân tích cho chúng ta thấy xa hơn: cho ta thấy cái nguyên động lực phát sinh ra vật chất, tức là phần tinh hoa cốt tuỷ của vạn hữu. Đối với cái bàn, nếu phân tích tới chỗ cực vi, thì không có cái gì đáng gọi là cái bàn, nó chỉ là một mớ nguyên tử quay cuồng không ngừng nghỉ mà thôi. Thế, có phải đúng với lời nói: đương sắc tức không chăng (đương có mà không)?

Tại sao đương có mà không? Bởi vì theo con mắt thịt mà nói, thì còn sờ sờ đó, còn rờ đụng được, nghĩa là còn có chỗ công dụng mà nói là không thì chẳng là khó tin lắm sao? Thì đây, chúng ta thử đem cái bàn ra mà hỏi các nhà khoa học, họ sẽ trả lời với chúng ta rằng: đó chỉ là một mớ nguyên tử phối hợp mà thôi. Nếu ai không tin, thì các nhà khoa học còn có khí cụ làm cho người ta có thể thấy được cái bàn ấy chỉ là nguyên tử với nguyên tử.

Nhà Phật học lại cao hơn nhà khoa học nữa, ở đây không thể lấy giác quan phàm trần hay dùng khí cụ khoa học mà có thể thấy được, chỉ có Phật huệ mới thấy suốt mà thôi. Đối với giác quan phàm trần, người ta phân tích từ phân tử (molécule) đi đến nguyên tử (atome), mỗi nguyên tử có một cái nhân (noyeau), bao chung quanh cái nhân này là âm điện tử. Cái nhân của nguyên tử lại chứa dương điện tử và trung hoà tử (neutron). Trung hoà tử hữu danh mà vô thật, vì nó là những phần tử trung hoà (neutre), chẳng những nó không chứa âm điện mà cũng không chứa dương điện.

Phân tích cho cùng cực, nhà khoa học chỉ thấy tinh chất âm dương là căn bản hoá sinh vạn vật, cũng như nhà Nho nói: âm dương hoà hiệp, vạn vật hoá sinh; ngoài tinh chất âm dương ra, khoa học không còn thấy biết gì nữa. Nhưng, chúng ta phải biết rằng, tới đó cũng chưa phải là cùng nguyên cực lý của vật chất.

Nếu nói rằng âm dương sinh ra nguyên tử, vậy thì cái gì sinh ra âm dương? Và phải phân tích bao nhiêu lần nữa mới tới cái bản thể của vũ trụ vạn hữu mà trong sách Phật gọi là chân như? Chân như là nguồn gốc, là căn bản của vũ trụ vạn hữu. Chân như sinh ra vạn pháp, tức là bản thể sinh ra hiện tượng. Nhưng, bản thể với hiện tượng là đồng nhất hay khác nhau? Nếu ai từng nghiên cứu kinh luận nhà Phật, thì thấy rằng bản thể và hiện tượng, theo lý tính thì là nhất như. Vì lẽ ấy, cái bàn tuy sờ sờ đó, nói có cũng trật mà nói không cũng chẳng trúng. Khoa học còn không dám nhìn nhận vật chất là thật có, cho vật chất là hiện thân của nguyên tử, hiện thân của khí lực. Hay nói một cách cao hơn, vật chất là hiện thân của âm dương. Thế thì, chỉ có kẻ mê mới nhận vật chất là có thật, vì vậy cho nên, mới bị vật chất nhấn chìm trong biển tham ái. 

Về mặt vật chất, khoa học chia ra có: chất rắn (matière solide), chất lỏng (matière liquyde), chất hơi (matière gazeuse), chất tinh khí thứ tư (matière ou éther IVe), chất tinh khí thứ ba hay chất tinh khí (éther IIIe ou matière superéthérique), chất tinh khí thứ nhì hay hạ nguyên tử (éther IIe ou matière sous atomique), chất tinh khí thứ nhất hay chất nguyên tử (éther Ière ou matière atomique). Theo sự phân tích này, thì chúng ta thấy rằng, từ nguyên tử đến chân như còn rất xa, nhất là chân như không thể dùng giác quan phàm tục mà nghiên cứu được.
 
Thế thì, vật chất là không vậy. Nhưng không mà chẳng phải không hẳn, bởi vì còn hình tướng, còn tên kêu gọi theo hình tướng (danh sắc), còn công dụng của một cái pháp, nên gọi là chân không diệu hữu, tức là có. Nhưng chẳng phải có hẳn, vì nó không có thật thể (hình thể chân thật bất biến), không thường trụ. Thế có phải là có mà không chăng? Có phải không mà có chăng?

321. Xin đem quang học ra giải thích tức sắc tức không luôn thể?

- Theo quang học (optique), thì con mắt phàm tục của chúng ta chỉ thu được (œil réduit a un système optique) có một phần mười của tia sáng quang phổ (spectre) mà thôi. Vì lẽ ấy, đối với sắc pháp mới thấy hình này tướng nọ, gọi chung là sắc tướng.

Nếu một ngày kia nhờ khoa học hay nhờ sự tu hành, làm cho con mắt của nhân loại thu được trọn vẹn ánh sáng cỡ 1.225.900.000.000.000 (con số được làm tròn, đọc là một triệu hai trăm hai muơi lăm ngàn chín trăm TỈ) lần rung động trong một sao đồng hồ như quang tuyến X, thì chừng đó không còn thấy thật trạng của vật chất, bất cứ vật gì ta nom cũng thấy suốt qua như pha lê, cơ hồ như không thấy có vật chất nữa. Nếu dùng quang tuyến X mà soi, thì vạn vật chung quanh ta, những cái gì gọi là hữu hình hữu sắc, đều là vô hình vô sắc cả.

Theo quang tuyến X mà nói, thì cái sắc tức là cái không vậy, thật là một bằng cớ hùng biện cho những người còn mê chấp, bị các giác quan phỉnh gạt phải trầm luân, sống chết tạo nghiệp trong sự phỉnh gạt của sắc sắc không không, chẳng biết bao giờ mới tỉnh ngộ. Đó là chưa nói tới sự sai lầm của thị ảo giác (illusion d’optique) trong khi xem thấy màu sắc và hình tướng. Thí dụ màu này xem lầm màu kia, hình này ngó lộn ra hình nọ, v.v...

Nói về thị giác, thì loài người xem vật chất thấy có ngăn ngại, xem không khí thấy nó trống không. Trái lại, chư thiên xem vật chất thấy nó trống không, các ngài đi ngang qua vật chất không thấy có chướng ngại, còn xem không khí thì thấy có lầu đài tráng lệ, cung điện nguy nga, không khác nào các loài thuỷ tộc xem dưới nước toàn là tốt đẹp cả. Đó là chưa nói tới các loài ngạ quỷ, xem đồ ăn toàn là lửa hồng,* v.v...

Nói tóm lại, sắc mà không phải sắc, nên không kẹt trong chỗ tướng sắc, không mà chẳng phải không, nên không kẹt trong chỗ tướng không. Không kẹt trong tướng có tướng không, trong Kim Cang có chỉ dạy: "Bằng chấp có pháp tướng, tức là chấp có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. Tại vì sao? Bằng chấp không pháp tướng, cũng tức là chấp có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. Vì vậy cho nên chẳng đặng chấp có pháp tướng, mà cũng chẳng đặng chấp không pháp tướng.”**

Chấp có pháp tướng là chấp hữu, chấp không pháp tướng là chấp vô. Sở dĩ Kim Cang dạy chúng ta không nên biên kiến như thế là vì sắc cũng tướng, mà không cũng là tướng nữa. Đó là cái chân lý đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo vậy.

* Do nghiệp thức xoay chuyển, nên mỗi loài có sự thấy biết chẳng đồng nhau.

** Nhược thủ pháp tướng, tức trước ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược thủ phi pháp tướng, tức trước ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Thị cố bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp.

322. Khi một người tu hành chứng được chân lý viên dung bình đẳng của Trung đạo thì phá được những tâm bệnh nào?

- Trước hết phá được năm thứ tâm sai biệt là tổng tướng của vô lượng tâm chấp trước, kế đó đoạn được trần sa hoặc, nghiệp vô minh căn bản không còn, thành bậc Chính giác.

Năm thứ Tâm sai biệt là:

1- Tâm thắng sai biệt: Thắng là trỗi hơn, là được việc, là thành công. Người nào có cái tâm này không bao giờ nhường nhịn ai. Luôn luôn mưu toan tranh lèo giật giải, hoặc trăm phương ngàn kế đua tranh giành phần hơn. Trong lúc tranh đua, hễ thắng thì vui mừng, còn bại thì đau khổ. Trọn đời hầu như giam mình trong cảnh vui cảnh khổ.

2- Tâm y sai biệt: Y là dựa theo ngoại cảnh lục trần, mà lục trần thì lúc nào cũng dời đổi, khi vầy khi khác. Nói tắt là tất cả sự vật đều vô thường, đều ở trong cái luật sinh, trụ, dị, diệt, chúng nó biến đổi từng sát na (nháy mắt). Sự vật biến đổi bất thường như vậy, mà ta nào có tỉnh ngộ, nên đem tâm y trụ vào đó, cho nên trong lòng không được duy nhất, lúc nào cũng tán loạn muôn sai ngàn biệt, gọi là tâm y sai biệt.

* Duy nhất tâm thanh tịnh: Chỉ có một lòng trong sạch.

3- Tâm chấp trước sai biệt: Do tâm y sai biệt nên mới có tâm chấp trước sai biệt, tức là có cái lòng đeo níu chấp trước cảnh vật, bởi vì tâm y trụ vào đâu thì mê chấp vào đó.

Nếu tâm ta trụ vào sắc tướng, thì tâm thức bèn phân chia hình này tướng nọ, phân biệt màu này sắc kia. Nói tắt là hễ phân biệt sắc tướng thì đi lần tới sự phân biệt pháp tướng, từ sự phân biệt pháp tướng mà đi lần tới sự phân biệt danh tướng,* cho nên lúc nào cũng mắc kẹt trong muôn ngàn sự tướng của trần thế mà trầm luân bể khổ. Trong cái cảnh vọng tâm tương tục** đó, tâm thức tạo ra cả một dòng niệm tưởng biến dịch (biến hoá dời đổi) mau lẹ phi thường, không thể lường được. Những cái tâm chấp trước đó, từ tế tướng đến thô tướng, khó mà phân tích cho rành mạch, mặc dầu chúng nó kết cấu lại có hệ thống, có thành phần.

Hễ cảnh biến đổi thì tâm cũng biến đổi theo, thành ra tâm này biến làm tâm kia, tâm kia biến làm tâm nọ, vì vậy mà có vô lượng tâm sai biệt (khác nhau), cũng như phim chiếu bóng trên màn bạc, luôn luôn linh hoạt và thay đổi, gọi là tâm chấp trước sai biệt.

* Danh tướng: Danh là tên các pháp. Ví như tên của sự vật. Người Pháp nói "Phải gọi mỗi vật bằng cái tên của nó” (Il faut appele chaque chase par son nom).

** Đừng để cho tâm trí chúng ta kẹt vào danh, bởi có danh thì có tướng; có danh có tướng hoàn toàn thuộc về vọng tưởng, làm cho chính trí và chân như phải bị khuất lấp.

4- Tâm thi sai biệt: Thi là thi hành. Như trên đã nói: Nhất thiết sự vật đều là biến dịch phi thường, không ngừng nghỉ một giây nào, vì lẽ ấy mà tâm của ta dời đổi luôn. Bởi vậy cho nên, muốn có một sự thi hành đúng với lòng ước mong và sự sắp đặt trước của mình, thật là một điều khó khăn. Có khi lòng ước ao như thế này, lại thi hành sai khác đi, gọi là tâm thi sai biệt. Tâm cảnh không đi đôi, ngôn hành không hiệp nhất, đó là tâm thi sai biệt.

5- Tâm thành kiến sai biệt: Tất cả những cái tâm sai biệt gom góp lại, tạo thành một năng lực của thói quen (habitude), bắt người phải khuất phục không mấy người cưỡng lại được, gọi là tâm thành kiến sai biệt. Thành kiến là một cái nghiệp nặng nề hơn hết trong các thứ nghiệp mê lầm. Bởi vậy cho nên, khó mà học đạo nghe pháp, vì nó bắt mình cố chấp những sự hiểu biết riêng biệt của mình, dầu ai nói đúng chân lý mình cũng không nhìn nhận. Những người nào có thành kiến sai biệt sâu dày, khó mà thảo luận Phật pháp với ai được, do lẽ này mà nhiều khi người ta nói khác với sự hiểu biết của mình, đáng lẽ phải quán xét trở lại và so sánh hai tiếng chuông; trái lại, chẳng những không nghe mà còn nổi sân là khác. Nhiều người tu hành không có lấy một người bạn để cùng nhau thức tỉnh, cùng nhau học hỏi tu tập, cũng do thành kiến cố chấp mà ra. Hễ thành kiến càng sâu thì sự cố chấp càng lắm, cố chấp càng lắm, thì tính sân lại càng như dầu sôi lửa đổ.

Một pháp Trung đạo, chẳng những phá được tâm thành kiến sai biệt, mà lại còn phá luôn sáu mươi hai món kiến chấp cùng là vô lượng tâm sai biệt cũng bị đánh tan. Huyền diệu thay!

323. Muốn tỏ ngộ rốt ráo cả bề sâu cũng như bề rộng về chân lý sắc không của Đại thừa, cần phải đi sâu vào pháp nào nữa?

- Còn rất nhiều không thể nói hết được, nhưng có một pháp đại đa số người tu hành đều nhờ đó mà hiểu sâu và rộng chân lý sắc không của Đại thừa Phật học, ấy là pháp "bất sinh bất diệt.” Nhưng, trước khi học hỏi pháp bất sinh bất diệt, nên biết qua pháp sinh diệt của Tiểu thừa và pháp huyễn sinh huyễn diệt của Sai biệt trí Bồ tát, đặng cho dễ hiểu theo phương tiện đi từ thấp lên cao.

Chương XI: Chân lý sinh diệt của Tiểu thừa và Đại thừa

324. Thế nào là pháp sinh diệt của Tiểu thừa?

- Vạn vật trong thế gian do nhân duyên hội hiệp mà thấy có sinh, đến khi nhân duyên chia lìa thì thấy có diệt. Cái cảnh trạng lúc có lúc không, khi còn khi mất, làm thành một ấn tượng* do tâm của ta chấp trước nơi vạn hữu, nên trong lòng lúc nào cũng hết sinh tới diệt, hết diệt tới sinh, không giây phút nào ngừng nghỉ. Tâm sinh diệt là tâm mê muội (vô minh) của phàm phu, còn tâm không sinh diệt là tâm sáng suốt của các bậc thánh. Theo sách Phật thì Tiểu thừa diệt bỏ cái duyên sinh** của phàm phu mà chứng cõi Niết bàn tịch diệt chớ chẳng phải Niết bàn bất sinh bất diệt của Đại thừa. Vì lẽ ấy, sự sáng suốt của Tiểu thừa sánh với Đại thừa không khác nào trăng mùng năm so với trăng rằm.

Phàm phu thì chấp sinh, Nhị thừa chấp diệt. Thế nào gọi là chấp sinh? Nghĩa là đối với vân hữu trong vũ trụ, phàm phu nhận thật là có, nên đem lòng mong cầu ao ước, tìm mưu này kế kia để lập quyền sở hữu những vật mình sẽ có, mặc dầu phải tạo ra các ác nghiệp chẳng hạn. Trong khi còn ở nhân địa phàm phu, đem lòng nhận sự vật có sinh như vậy, cho nên khi tu hành, quyết chí diệt cái tâm sinh ấy để chứng quả hoàn diệt*** của Niết bàn (Tiểu thừa). Vì lẽ đó, trong sách Phật mới cho Tiểu thừa là bỏ "sinh” mà tìm "diệt”, dùng cái công phu đem diệt mà dứt sinh, để làm chỗ cứu cánh trong sự tu chứng của mình.

* Ấn tượng là hình bóng sự vật in vào lòng, tức là lục trần duyên ảnh làm cái tướng của tự tâm.
** Duyên sinh: Do nhân duyên hội hiệp mà thấy có.
*** Hoàn diệt: trở lại cảnh giới tịch diệt của nguyên thỉ.

Nếu dùng lý luận của Đại thừa mà xét trường hợp tu chứng của Tiểu thừa, thì thấy rằng cái sinh tương đối với cái diệt, nếu bỏ cái duyên sinh mà tìm cái tịch diệt, thì chưa hoàn toàn bỏ hẳn. Bởi vì sinh với diệt là hai pháp đối đãi với nhau mà thành, nương nhu mà có, không thể chia lìa nhau mà có mỗi cái riêng biệt. Bởi vậy cho nên, hễ không thì cả hai đều không, còn có thì cả hai đều có. Vì lẽ ấy, nếu còn bỏ pháp kia, còn dùng pháp nọ, thì đâu phải là hoàn toàn bỏ hẳn, nghĩa là chưa phải hoàn toàn giải thoát, tức là giải thoát một cách tương đối vậy. Đối với chân lý này, các vị Tiên đức có nói:

Có, thì có cả thảy vậy vay,
Không, thì không chẳng mảy may nào.

Dựa vào luật tương đối trên đây mà luận lý ra, thì thấy rằng tuy Tiểu thừa đã dứt sinh, nhưng cũng chưa phải là thiệt dứt, bởi vì còn chấp diệt, tức là còn chấp sinh. Vì lẽ ấy, đối với chân đế, Tiểu thừa còn thuộc về phàm phu, mặc dầu đã chứng quả thánh.

325. Còn chân lý huyễn sinh huyễn diệt của Sai biệt trí Bồ tát thế nào?

- Pháp lý của Sai biệt trí Bồ tát nói rằng: Các pháp không thật có sinh, không thật có diệt, nghĩa là các pháp vốn là huyễn sinh huyễn diệt. Cái chân lý huyễn sinh huyễn diệt có phần cao hơn Tiểu thừa. Pháp lý này nói rằng: Nếu các pháp thật có diệt, thì làm sao mà tái sinh? Làm sao mà các pháp nối nhau tồn tại mãi mãi từ thế hệ này đến thế hệ khác? Quả thật, nếu các pháp thật có diệt, thì thế gian này không còn cái gì nữa, nó sẽ trống rỗng như không trung. Trái lại, các pháp cũng không thật có sinh. Bởi vì nếu các pháp thiệt có sinh, thì ít nữa chúng nó được trường tồn vĩnh viễn mãi mãi, đàng này nó vẫn tiếp tục tiêu trầm tan rã luôn luôn, thì sao gọi là thật có sinh. Nói tóm tắt cho dễ hiểu: Nếu thật có thì không bao giờ tiêu tan, thật không thì chẳng bao giờ có trở lại. Vì lẽ ấy, sinh là huyễn sinh, mà diệt là huyễn diệt vậy.

Bọt nước này tan, bọt nước kia hiện, bọt tan mà không phải thật tan, vì nó còn hiện cái khác. Bọt hiện mà không phải thật hiện, vì nó sẽ tan rã trong chốc lát. Sự tan và sự hiện của bọt nước là không thật, là luống dối, như ảnh trong gương, như bóng tùy hình, lúc có lúc không, khi còn khi mất, đều là do tác dụng của bao nhiêu nhân duyên, hoặc hội hiệp, hoặc chia lìa. Hễ nhân duyên hội hiệp thì thấy có huyễn sinh, còn nhân duyên chia lìa thì thấy có huyễn diệt. Cái sinh và cái diệt còn như huyễn như hóa thì nhân duyên lại há không huyễn hóa ư? Cho đến như huyễn tu hành, như huyễn trị bịnh, như huyễn thành Phật, đó là pháp huyễn sinh huyễn diệt của Sai biệt trí Bồ tát.

326. Thế nào gọi là chân lý bất sinh bất diệt của Đại thừa?

- Tiểu thừa nhìn nhận các pháp thật có sinh, thật có diệt, nên gắng công tu hành đến cảnh giới tịch diệt. Sai biệt trí Bồ tát thì cho rằng vạn hữu là huyễn sinh huyễn diệt. Sở dĩ hai bậc trên đây nói như thế, là chỉ thấy cái giả tướng của vạn hữu mà thôi, còn cái thật tướng của vạn hữu thì không thấy nổi.

Trái lại, pháp lý của Đại thừa phân tích cho chúng ta biết rằng: hai bậc trên đây chỉ thấy cái hiện tượng vô thường biến đổi của các pháp, nên không thấy được cái bản thể bất biến và thường trụ, tức là không thấy được cái thể bất sinh bất diệt, đó là chân lý bất sinh bất diệt của Đại thừa. Cái chỗ chấp mắc của hai bậc thừa trên đây, chỉ thấy được hiện tượng mà không thấy được bản thể. Nhưng phải biết rằng, ngoài tướng không có tính, ngoài bản thể không có hiện tượng. Bởi vậy cho nên, đối với các pháp, Đại thừa cho rằng các pháp vốn vắng lặng bất sinh bất diệt, chẳng qua cái lòng sinh diệt vô thường của phàm phu dấy lên, chấp theo bề ngoài của sự tướng, nên nhận thấy các pháp như thế này như thế nọ. Không khác nào người đau mắt thấy hoa đốm giữa hư không, lúc còn lúc mất, khi ẩn khi hiện, khi hiệp khi tan. Hơn nữa, đối với vạn hữu mà chúng ta dùng con mắt phàm để thấy, là thấy cái bóng tiền trần hiện trong chân tính, không khác nào thấy cái bóng ảnh hiện trong gương, chớ nào có thấy được cái thật tướng của vạn vật như bậc Đại thừa đâu.

Một khi tâm thể viên minh tịch chiếu (minh tâm kiến tính) thì chừng đó mình mới thấy (sự hiểu biết bằng trí tuệ) các pháp vốn là như như bất động, không có gì sinh mà cũng không có cái gì diệt (rien ne se crée, rien ne se perd).

Cái chân lý bất sinh bất diệt của Đại thừa, bàn tới đây cũng chưa có gì là khó hiểu, chưa có gì cao siêu. Nếu cái chân lý ấy chỉ có thế, thì ai ai cũng tỏ ngộ được hết. Khó nhất là cái lý rốt ráo: Cái sinh tức là cái diệt, cái diệt tức là cái sinh; cái sinh không khác nào cái diệt, cái diệt không khác nào cái sinh, để biểu thị đặc tính (caractérisé) viên dung bình đẳng của Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Hễ bình đẳng, thì số nhiều với số ít bình đẳng; tà với chính bình đẳng, chân với vọng bình đẳng. Còn nói viên dung, thì số ít với số nhiều không khác, chân với vọng không khác, tà với chính không khác. Nói tóm lại, tất cả những pháp tương đối, hễ đứng về mặt tuyệt đãi, thì không một không hai, không sai biệt riêng khác, bao hàm tất cả toàn thể đại dụng của các pháp.

327. Cái chân lý bất sinh bất diệt của Đại thừa do đâu mà thành lập và tiêu biểu bằng một danh từ nào?

- Cái chân lý bất sinh bất diệt do pháp vô sinh mà lập thành. Đó là một danh từ chỉ về bản thể (substance) bất biến của chân như. Cái bản thể này không do cái gì sinh ra, tự có và hằng có (tự hữu hằng hữu). Cái thể vô sinh này, chẳng phải nhờ nhân duyên mà sinh ra (phi nhân duyên sinh), cũng chẳng phải do tự nhiên sinh ra (phi tự nhiên sinh), siêu việt ra ngoài hạn lượng đối đãi của thế pháp này, không có không không, không thường không đoạn, không thêm không bớt.

Cái bản thể bất sinh bất diệt ấy, là cái bản thể của vũ trụ vạn hữu, mà cũng là cái bản thể thường trụ diệu minh chân tâm, là tâm bồ đề vậy. Cái tâm này khi làm chúng sinh đoạ lạc luân hồi cũng không bớt, khi làm thánh chứng quả Niết bàn cũng không thêm. Nó không có tướng bị tu (bị trau giồi), không cần cầu làm Phật vì vốn nó là Phật, không cầu thanh tịnh bởi vốn nó trong sạch, không cầu tịch diệt bởi vốn nó vắng lặng, không cầu bất động bởi vốn nó như như, không cầu tham thiền bởi vốn nó tịch chiếu. Cái tâm bồ đề như thế, chẳng phải người tu hành thành chính quả mới có, tất cả chúng sinh đều có, nhưng vì không tu hành nên chẳng tỏ ngộ đó thôi. Chính bên Thiền tông cầu minh tâm kiến tính là cầu tỏ ngộ cái tâm bất sinh bất diệt này.

Để kết luận về pháp Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, pháp sắc không, pháp bất sinh bất diệt (vô sinh) của Đại thừa Phật học, có một điều cần nhất đáng quan tâm hơn hết là: Chẳng những chân tâm thường trụ diệu minh (Phật tính) mới là viên dung bình đẳng bất sinh bất diệt mà thôi, cho đến vạn pháp cũng đều viên dung bình đẳng bất sinh bất diệt cả. Tỏ ngộ được như vậy mới gọi là hoàn toàn rốt ráo (hoàn toàn minh tâm kiến tính).

328. Theo lời giải thích của ông, thì biết rằng chân lý của Đại thừa Phật học là viên dung bình đẳng của Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Cái chân lý này, phá tất cả tâm sai biệt chấp trước để hoàn lại cái tâm vô sai biệt. Nếu vô sai biệt thì con người tới chừng đó chắc là con người điên, bởi vì không còn biết phân biệt nên hư, phải quấy, đâu còn biết phân biệt dơ sạch, thiện ác, v.v...

- Nên biết rằng con người tu tới bậc đó thì sáng suốt vô cùng, đâu phải là con người điên, đâu phải là không còn biết phân biệt nên hư, phải quấy, thiện ác. Chính cái nghĩa Vô sai biệt, cái nghĩa viên dung bình đẳng là ở nơi phân biệt mà không mắc kẹt trong các tướng sai biệt, không bị những tướng sai biệt nhận chìm trong biển tham, sân, si, nhận chìm trong trường tranh đấu ác liệt, … chớ đâu có phải không hiểu biết gì hết như kẻ điên!

Ở trong chỗ sai biệt của muôn pháp mà tỏ ngộ được tâm viên dung bình đẳng, chứng được vô sai biệt trí. Ở trong cảnh trí viên dung bình đẳng vô sai biệt mà biết phân biện để áp dụng từng phương tiện khác nhau, nghĩa là biết tuỳ theo căn cơ trình độ bất đồng của chúng sinh đặng tuỳ chứng lập phương, mới có thể tròn cái sứ mạng hoằng khai đại Đạo, hiển dương chính pháp. Thế thì, sai biệt mà không mê chấp theo sai biệt, viên dung mà không mê chấp theo viên dung, còn gì rõ nghĩa hơn. Còn hoài nghi gì nữa mà không hoàn toàn giác ngộ chân lý của Đại thừa Phật học.

- Vui mừng thay! Nhờ ông giải thích một cách rành mạch bằng cách so sánh: giữa sự sai biệt và viên dung bình đẳng của chân lý Tiểu thừa và Đại thừa, làm cho chúng tôi tỏ ngộ được một cách dễ dàng. Vậy chúng tôi cầu nguyện khắp tất cả chúng sinh trong pháp giới, nhờ Phật lực hộ trì, sau khi xem sách này, đồng được ngộ giải đạo mầu, chứng quả vô thượng chính đẳng chính giác.

- Chúng tôi cũng đa tạ quý ngài có lòng đến viếng Giáo hội để bàn về câu chuyện Phật pháp. Trong lúc thảo luận, nếu chỗ nào còn sơ sót, mong quý ngài chỉ dạy, chúng tôi vô cùng cảm tạ.

(HẾT)
--------------------------------------
Trích trong: Phật học vấn đáp
Soạn giả: Cư sĩ Như Pháp
Giấy phép số: 753/X.B



Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Phật học vấn đáp (Phần cuối)

Sắc mà không phải sắc, nên không kẹt trong chỗ tướng sắc, không mà chẳng phải không, nên không kẹt trong chỗ tướng không. Không kẹt trong tướng có tướng không... Chấp có pháp tướng là chấp hữu, chấp không pháp tướng là chấp vô. Sở dĩ Kim Cang dạy chúng ta không nên biên kiến như thế là vì sắc cũng tướng, mà không cũng là tướng nữa. Đó là cái chân lý đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo vậy.
Phật học vấn đáp (Phần cuối) Phật học vấn đáp (Phần cuối)
610 700
Sắc mà không phải sắc, nên không kẹt trong chỗ tướng sắc, không mà chẳng phải không, nên không kẹt trong chỗ tướng không. Không kẹt trong tướng có tướng không... Chấp có pháp tướng là chấp hữu, chấp không pháp tướng là chấp vô. Sở dĩ Kim Cang dạy chúng ta không nên biên kiến như thế là vì sắc cũng tướng, mà không cũng là tướng nữa. Đó là cái chân lý đệ nhất nghĩa đế của Trung đạo vậy.