GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 13:59 11/01/2017 (GMT+7)

Hiểu lời Phật dạy trong kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân

(PGVN)

Tám điều như vậy, chư Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân đã giác ngộ, tinh tấn hành đạo từ bi và tu luyện trí tuệ, nương thuyền pháp thân mà lên bờ Niết Bàn, rồi lại trở về cõi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát, lấy tám điều giác ngộ này mà chỉ dẫn cho hết thảy cho mọi chúng sinh, giác ngộ được nỗi khổ sinh tử mà buông bỏ năm dục lạc hướng tâm về con đường Thánh đạo. Nếu là đệ tử của Phật thì phải đọc tụng tám điều này. Ở trong mỗi ý niệm đều, diệt được vô lượng tội, hướng đến Bồ đề, mau lên chánh giác. Vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, thường ở trong sự an lạc.

Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân được quý thầy, quý cư sĩ dịch, giảng giải nhiều. Sau thời gian thọ trì, đọc, tụng kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân, Phật tử Hoàng Phước Đại (PD: Đồng An) xin chia sẻ với bạn đồng tu những hiểu biết khi học kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.

Đây là kinh phật tử cần phải học, bởi theo lời dạy của Phật nếu phật tử ngày đêm tụng và ghi nhớ tám điều này thì sẽ diệt được vô lượng tội và đạt được quả bồ đề chứng chánh giác. Chánh giác là đích mà đệ tử Phật, ai cũng có lòng ham muốn chứng được.

Đoạn mở đầu:

Hán văn

為 佛 弟 子常 於 晝 夜。至 心 誦 念。八大 人 覺。

Dịch Nôm

Vi Phật đệ tử, thường ư trú dạ, chí tâm tụng niệm, Bát Ðại Nhân Giác.

Dịch Việt

Là đệ tử Phật, thường phải hết lòng ngày đêm, tụng niệm tám điều giác ngộ bởi bậc đại nhân.

Hiểu đoạn kinh văn trên: Phật dạy, là đệ tử của Phật, phải chí tâm tụng và niệm tám điều mà Bậc Đại Nhân đã giác ngộ.

Đoạn kinh văn có hai từ mà đệ tử Phật thường gặp là tụng 誦 và niệm 念. Chữ tụng thuộc bộ Ngôn, gồm chữ ngôn 言 chữ dũng 甬. Chữ ngôn 言 có nghĩa nói, đọc. Chữ dũng 甬có nghĩa là lối giữa. Tụng 誦 phải đọc rõ ràng, không to làm phiền người xung quanh, không nghiêm trang nhưng không phải là quá nhỏ như thầm thì. Chữ niệm 念 thuộc bộ tâm 心. Chữ niệm 念 gồm chữ kim 今 ở trên và chữ tâm心 dưới. Chữ kim 今 nghĩa là hiện tại. Chữ tâm 心 là nhớ. Hàm ý niệm 念 là nhớ, ghi khắc trong tâm giây phút hiện tại. Tâm phải trở về hiện tại, tâm đừng có rong đuổi theo quá khứ và mơ về tương lai.

Khi tụng niệm phật tử phải chí tâm 至 心, tức là đưa tâm quay trở về với hiện tại để học và hành trì tám điều mà Đại nhân đã giác ngộ.

Giác thuộc bộ Kiến 覺, giác là cái thấy do học, hành trì, tu tập mà nhận biết được. đại nhân 大 人 chính là các vị Mahasatvas. Ma Ha là lớn là đại 大, Sattvas những chúng sinh, là nhân (人) như chúng ta. Mahasatvas là chúng sinh sau khi tu tập đã đạt đến bến bờ của giác ngộ, là đại nhân. 

Giác ngộ thứ nhất

Hán văn

第 一 覺 悟。 世 間 無 常。國 土 危 脆。四 大 苦 空。五 陰 無 我。生 滅 變 異。虛 偽 無 主。心 是 惡 源。形 為 罪 藪。如 是 觀 察。漸 離 生 死。

Dịch Nôm

Ðệ nhứt giác ngộ, thế gian vô thường quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu, như thị quán sát tiệm ly sinh tử.

Dịch Việt

Giác ngộ thứ nhất, cuộc đời là vô thường, đất nước mong manh. bốn đại là trống rỗng, tập hợp năm uẩn là vô ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, không thực và không có chủ thể. Tâm ta là cội nguồn phát sinh điều ác, thân ta là nơi tích tụ tội lỗi. Quán chiếu như thế dần dần thoát ly sinh tử.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Đoạn kinh văn, dạy đệ tử Phật phải giác ngộ (覺 悟) được những điều sau:

Vô thường (無 常). Vô thường là không ổn định là biến đổi.

Mọi vật trên thế gian biến đổi trong từng giây từng phút, gọi là thế gian vô thường (世 間 無常). Chế độ chính trị cũng vô thường, không có thể chế chính trị nào tồn tại vĩnh viễn nếu không tự đổi mới. Phật dạy, vạn vật trên thế gian đều trải qua những giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt. Đó là vô thường. phật tử phải quan sát tính cách vô thường của vạn vật mới có thể tránh khỏi cái áo tưởng về thường hằng, không bị sự vật lôi kéo ràng buộc.

Tứ đại (四 大) là đất, nước, lửa, gió. Vật do tứ đại kết hợp không phải là những cá thể tồn tại vĩnh cửu, cho nên vạn vật có tính không(空) và vô ngã (無 我). Với những người chưa đạt được đến bậc giác ngộ thì xem vạn vật là thường hằng, bị ràng buộc vào vạn vật. Xe là của ta, nhà cửa, công danh này là của ta. Khi cái của ta mất đi thì sinh ra đau khổ. Chỉ khi nào phật tử nhận thức được sự có mặt của khổ không trong vạn vật” tứ đại khổ không” (四 大 苦 空), thì phật tử mới thấy được ánh sáng của con đường tu hành. Thấy được khổ đau mới có cơ hội tìm ra nguyên nhân của khổ đau để mà đối trị.

Ngũ uẩn vô ngã (五 陰 無 我). Con người do năm yếu tố hợp nên, gọi là ngũ uẩn: tướng (vật chất), thọ (cảm giác), tưởng (tư tưởng), hành (hành nghiệp) và nhận thức. Con người thay đổi từng giây từng phú vì thế bậc Đại Nhân nhìn sâu vào ngũ uẩn mà thấy được “ngũ uẩn vô ngã, sinh diệt biến đổi” (五 陰 無 我。生 滅 變 異,) và đánh tan được ảo giác cho rằng thân này là một bản ngã vĩnh cửu, hư vị vô chủ (虛 偽 無 主).

Tâm thị ác nguyên (心 是 惡 源), hình vi tội tẩu (形 為 罪 藪). Khi chưa tu, khi chưa thấy được vạn vật vô thường, khổ không và vô ngã, tâm chứa đầy dục vọng làm cho thân chạy theo cái xấu, tạo ra bao nhiêu lỗi lầm, tâm là nguồn suối phát sinh điều ác (Tâm thị ác nguyên 心 是 惡 源) và thân là cội nguồn tội lỗi (hình vi tội tẩu 形 為 罪 藪).

Phật tử khi quan sát được như vậy (như thị quán sát 如 是 觀 察), rời được khổ đau của vô thường (tiệm ly sinh tử 漸 離 生), bước qua được bờ bên kia của Giác ngộ.
 
Giác ngộ thứ hai

Hán văn

第 二 覺 知。多 欲 為 苦。生 死 疲 勞。 從 貪 欲 起。 少 欲 無為。 身 心 自 在。

Dịch Nôm


Ðệ nhị giác tri, đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi, thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.

Dịch Việt


Giác ngộ thứ hai, ham muốn nhiều thì đau khổ, khốn khổ trong cõi sinh tử, đều do tham dục khởi sinh. Người ít ham muốn, không tạo nghiệp, thân tâm an lạc tự tại.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Ham muốn nhiều thì đau khổ (đa dục vi khổ 多 欲 為 苦). Chữ dục 欲 là ham muốn. Chữ dục 欲thuộc bộ khiếm 欠, gồm chữ chữ cốc 谷 và chữ khuyết 欠. Chữ cốc 谷 nghĩa là cùng đường, chữ khuyết 欠nghĩa là thiếu thốn. Khi con người không thể chế ngự được thiếu thốn, thèm khát thì dục vọng 欲 tất sẽ khởi.

Người tu không khéo, chưa quán được vô thường của vạn vật, cứ nghĩ rằng càng giàu về vật chất, càng say đắm trong lưới tình thì càng hạnh phúc. Họ cho rằng hạnh phúc là được thỏa mãn những ham muốn. Nhưng ham muốn của con người là vô hạn mà năng lực con người thì hữu hạn, cho nên chẳng bao giờ con người thỏa mãn. Có khi ham muốn làm con người tìm mọi cách đạt được. Khi đạt được trong tay về tiền bạc, tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp, thì lúc đó họ lại đau khổ vì đã đánh mất người thân, đánh mất sức khỏe, đánh mất tuổi tác vì mãi mê tìm cách thỏa mãn dục vọng. Chỉ khi xuôi tay, nhắm mắt mới ngộ đắm mình trong vòng sinh tử là khổ (sinh tử sinh tử bì lao 生 死 疲 勞).

Các Thầy thường dạy các đệ tử của mình ngũ dục chính là cái lưới nhốt chúng sinh vào trong bể khổ đau. Tham dục khởi sinh mọi khổ đau (tùng tham dục khởi從 貪 欲 起)。Người nào thoát được lưới ngũ dục thì người đó mới hạnh phúc, thảnh thơi của thân và của tâm sẽ đến với người đó.

Phật dạy, người ít ham muốn (thiểu dục vô vi,少 欲 無為), không tạo nghiệp, thì thân tâm an lạc (thân tâm tự tại. 身 心 自 在).

Giác ngộ thứ ba

Hán văn


第 三 覺 知。 心 無 厭 足。 唯 得多 求。增 長 罪 惡。菩 薩 不 爾。常 念 知 足。安 貧 守 道。唯 慧 是 業。

Dịch Nôm

Ðệ tam giác tri, tâm vô yểm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác, Bồ tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp.

Dịch Việt


Giác ngộ thứ ba, tâm không biết no đủ, luôn muốn dược nhiều, vì vậy tội ác tăng trưởng. Bậc Bồ tát thì không như vậy, họ luôn nghĩ đến sự biết đủ, sống an vui thanh đạm để hành đạo, lấy trí tuệ làm sự nghiệp của mình.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Tâm không biết no đủ (tâm vô yểm túc 心 無 厭 足). Túc 足 là đủ. Vì Tâm không biết no đủ, nên tâm đắm mình trong lưới dục vọng (duy đắc đa cầu 唯 得多 求), để từ đó, càng tìm kiếm càng gây ra đau khổ cho mình và cho người khác (tăng trưởng tội ác 增 長 罪 惡). Vị Bồ tát đã đạt được giác ngộ (Bồ tát bất nhĩ 菩 薩 不 爾), thì tri túc. Tri là biết, túc là đầy đủ. Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tạm đủ để sống mạnh khỏe mà hành đạo. Bồ tát luôn ghi nhớ và biết đủ (niệm tri túc 常 念 知 足), sống an vui thanh đạm để hành đạo (an bần thủ đạo 安 貧 守 道), lấy trí tuệ làm sự nghiệp của mình (duy tuệ thị nghiệp 唯 慧 是 業).

Tri túc là một phương pháp hữu hiệu nhất để phá lưới tham dục, để đạt được sự thảnh thơi của thân tâm, để có thì giờ giúp đỡ người chung quanh. Tri túc biết chỉ cần vài bộ áo quần để mặc đi làm, để sinh hoạt, tri túc không cần phải ăn thật no, phải ở nhà thật rộng và dùng điện thoại hàng hiệu. Tri túc tránh cho ta tiêu xài quá mức và sự ô nhiễm môi trường sinh hoạt. Tri túc giúp ta biết được, mỗi cái điện thoại cầm tay, một cái sim điện thoại ta đang dùng, trái đất phải gánh thêm một lượng không nhỏ CO2 khi để chế tác ra điện thoại cầm tay, cái sim đó đó.

Giác ngộ thứ tư

Hán văn

第 四 覺 知。懈 怠 墜 落。常 行 精 進。破 煩 惱 惡。摧 伏 四 魔。出 陰 界 獄。

Dịch Nôm

Ðệ tứ giác tri, giải đãi trụy lạc, thường hành tinh tấn, phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.

Dịch Việt

Giác ngộ thứ tư, lười biếng đưa đến sa đọa. Nên thường tinh tấn tu tập để phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, vượt thoát ngục tù của năm ấm và ba cõi.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Tu không phải là bi quan, sống phó thác, lười biếng (giải đãi trụy lạc 懈 怠 墜 落) để cho tháng ngày trôi qua một cách uổng phí. Đệ tử Phật phải hành trì ngày đêm (thường hành tinh tấn 常 行 精 進). Tinh tấn là sự cần mẫn, cần mẫn dùi mài sự nghiệp trí tuệ (duy tuệ thị nghiệp 唯 慧 是 業). Phải dùng thì giờ của mình để ngày đêm đọc nhớ (tụng niệm 誦 念) lời Phật dạy, thiền định về các điều mà bậc đại nhân đã giác ngộ đó là :

- Thế gian vô thường 世 間 無 常,

- Tứ đại khổ không 四 大 苦 空,

- Ngũ ấm vô ngã 五 陰 無 我,

- Tâm thị ác nguyên 心 是 惡 源,

- Hình vi tội tẩu 形 為 罪 藪。

Khi quán chiếu thấy rõ về vô thường, khổ, không, vô ngã và bất tịnh, ngày đêm hành trì (thường hành tinh tấn 常 行 精 進), thì thân tâm phá được tham, giận, si mê (phá phiền não ác 破 煩 惱 惡), hàng phục bốn loài ma (tồi phục tứ ma, 摧 伏 四 魔), vượt thoát ngục tù của năm uẩn (出 陰 界 獄).

Giác ngộ thứ năm

Hán văn


第 五 覺 悟。愚 癡 生 死。菩 薩 常 念.廣 學 多 聞。 增 長 智 慧。 成 就 辯 才。 教化 一 切。悉 以 大 樂。

Dịch Nôm

Ðệ ngũ giác ngộ, ngu si sinh tử, Bồ tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.

Dịch Việt

Giác ngộ thứ năm, ngu si trong sinh tử. Bồ tát thường nhớ rằng cần phải học rộng, nghe nhiều, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu khả năng biện tài để giáo hóa cho tất cả đều đạt được hạnh phúc.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Bởi vì ngu si (愚 癡) nên không giác ngộ được thế gian vô thường (世 間 無 常), tứ đại khổ không (四 大 苦 空), ngũ ấm vô ngã (五 陰 無 我), tâm thị ác nguyên (心 是惡 源), hình vi tội tẩu (形 為 罪 藪)

Bậc giác ngộ thì quán chiếu được ngu si là chìm đắm trong vòng sinh tử (ngu si sinh tử 愚 癡 生 死). Bồ tát biết được vô thường, vô ngã và nhân duyên sinh của vạn hữu nên đã hành trì tụng niệm (Bồ tát thường niệm 菩 薩 常 念) lấy sự tu học (quảng học đa văn 廣 學 多 聞), để trau dồi trí tuệ (tăng trưởng trí tuệ 增 長 智 慧), khi đạt được khả năng thuyết pháp (thành tựu biện tài 成 就辯 才), người tu không những tự giải phóng được cho bản thân mà còn giáo hóa cho những kẻ khác (giáo hóa nhất thiết 教 化 一切) đem chúng sinh ra khỏi sinh tử để có được niềm vui trong cuộc sống (tất dĩ đại lạc 悉 以 大 樂). Giác ngộ này là giác ngộ độ người. Bốn điều giác ngộ đầu là giác ngộ tự độ.

Giác ngộ thứ sáu

Hán văn 


第 六 覺 知。 貧 苦 多 怨。 橫 結 惡 緣。 薩 布 施。 等 念 冤 親。 不 念 舊 惡。 不憎 惡 人。

Dịch Nôm 

Ðệ lục giác tri, bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên, Bồ tát bố thí, đẳng niệm oan thân, bất niệm cựu ác, bất tăng ác nhân.

Dịch Việt

Ðiều thứ sáu giác ngộ, nghèo khổ sinh ra oán hận, tạo thêm duyên nghiệp bất thiện. Vì thế, Bồ tát cần thực hành hạnh bố thí một cách bình đẳng giữa kẻ ghét với người thương. Hãy quên đi những điều xấu ác mà họ đã gây cho mình, không nên ghét bỏ những người ác.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Nghèo khổ sinh ra oán hận (bần khổ đa oán,貧 苦 多 怨). Chữ oán 怨 thuộc bộ tâm 心, gồm chữ đãi 夕có nghĩa là xấu ác, chữ tiết卩 là che đậy ở trên và chữ tâm 心ở dưới. Oán là căm thù, là tâm mình muốn trả thù nhưng thù đó có thể còn che đậy trong tâm. Nghèo thường có những hành động bất thiện (hoạnh kết ác duyên, 橫 結惡 緣). Oán thù và ác nghiệp có thể do sự nghèo khổ mà có, nhưng không phải ai nghèo đói đều có lòng oán hận và tạo những hành động xấu. 

Những đại nhân, những vị bồ tát khi thực hành bố thí (Bồ tát bố thí 菩 薩 布 施), thường nhớ phép bố thí bình đẳng (đẳng niệm oan thân等 念 冤 親), không phân biệt người mình thương hoặc người mình ghét. Bậc Bồ tát vì giác ngộ khổ, không, vô thường thực hành phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình (bất niệm cựu ác 不 念 舊 惡) và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác (bất tăng ác nhân 不 憎 惡 人).

Giác ngộ thứ bảy

Hán văn
 

第 七 覺 悟 。 五 欲 過 患。 雖 為 俗 人。 不 染 世 樂。念 三衣, 瓦 鉢 法 器。 志 願 出 家。守 道 清 白。 梵 行 高 遠。 慈 悲 一 切。

Dịch Nôm 

Ðệ thất giác ngộ, ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc, niệm tam y, ngõa bát pháp khí, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao viễn, từ bi nhất thiết.

Dịch Việt 

Giác ngộ thứ bảy, năm loại dục là nguyên nhân gây ra tội lỗi và tai họa. Vậy tuy làm người sống ở đời mà không đắm nhiễm năm thứ vui phàm tục ấy. Tâm nghĩ đến ba y và bình bát. Tâm nguyện hướng về đời sống xuất gia. Vì vậy, sống thanh tịnh, giữ gìn đạo hạnh, tu tập phạm hạnh thanh cao, thương yêu tất cả muôn loài.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Năm loại dục là nguyên nhân gây ra tội lỗi và tai họa (ngũ dục quá hoạn 五 欲 過 患) đó là tài, sắc, danh, thực và thùy dục. Người không thấy được vô thường, khổ, không, vô ngã, thường chạy theo tiền tài, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp và ham muốn thụ hưởng. Chữ 欲 là ham muốn, thuộc bộ nhân. Ham muốn là ham muốn của con người, chủ thể. Chữ quá 過 vượt quá, lỗi lầm. Chữ quá thuộc bộ sước, 辵 nghĩa là chạy. Chữ 患 thuộc bộ tâm là lo lắng, tai họa. Dục quá hoạn (欲 過患) là chạy theo dục vọng mà gây ra tội lỗi, tai họa.

Kinh dạy, đệ tử Phật dù tại gia hay xuất gia, tuy chúng ta đang sống người trần (tuy vi tục nhân 雖 為 俗 人), chúng ta phải có chính kiến không để dục lạc của cuộc đời làm cho ô nhiễm (bất nhiễm thế lạc 不 染 世 樂。). Mặc dù chúng ta ở trong cuộc đời (tuy vi tục 雖 為 俗 人), chúng ta phải thuận theo cuộc đời để cứu độ cho người đời mà không bị nhiễm (bất nhiễm 不 染) bởi ngũ dục. Cũng như hoa sen mọc dưới bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Nhà Phật thường lấy hoa sen làm hình tượng là vậy.

Để có thời gian tu tập độ cho mình và cho người khác người tu phải luôn luôn quán niệm sống y áo chỉ ba y là đủ (niệm tam y, 念 三衣), bình bát (ngõa bát 瓦 鉢) làm phương tiện hành trì đạo pháp (pháp khí 法 器), giữ vững ý nguyện của người xuất gia (chí nguyện xuất gia, 志 願 出 家), sống thanh tịnh, giữ gìn đạo hạnh (thủ đạo thanh bạch 守 道 清 白), tu tập phạm hạnh thanh cao, (phạm hạnh cao viễn 梵 行 高 遠), thương yêu tất cả muôn loài (từ bi nhất thiết 慈 悲 一 切).

Giác ngộ thứ tám

Hán Văn

第 八 覺 知。 生 死 熾 然。 苦 惱 無 量。 發 大 乘 心。 普 濟 一 切。 願 代 眾 生。 受 無 量 苦。令 諸 眾 生。 畢 竟 大 樂。

Dịch Nôm 

Ðệ bát giác tri, sinh tử xí nhiên, Khổ não vô lượng, phát đại thừa tâm, phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sinh, thọ vô lượng khổ, linh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc.

Dịch Việt

Giác ngộ thứ tám, lửa sinh tử bừng cháy, sinh khổ não vô lượng. phát tâm Ðại thừa cứu giúp tất cả. Nguyện thay thế cho chúng sinh chịu các khổ não vô lượng ấy. Làm cho mọi loài chúng sinh đạt được niềm vui tối thượng.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Lửa sinh tử bừng cháy (sinh tử xí nhiên 生 死 熾 然), vô lượng phiền não, đau khổ (khổ não vô lượng 苦 惱 無 量) là những khó khăn và gian khổ đệ tử Phật hàng tại gia, xuất gia đều gặp phải. Người tu phải có hạnh nguyện sâu rộng mới có thể vượt thắng những khó khăn và gian khổ khi thực hành lời dạy của Phật.

Đau khổ của cuộc đời là vô lượng (khổ não vô lượng 苦 惱 無 量) thì chí nguyện hành đạo cũng phải vô lượng.(phổ tế nhất thiết 普 濟 一 切), bởi chí nguyện hành đạo, đệ tử Phật thường nguyện thay thế cho chúng sinh chịu các khổ não vô lượng ấy (nguyện đại chúng sinh, thọ vô lượng khổ, 願 代 眾 生。 受 無 量 苦) Làm cho mọi loài chúng sinh đạt được niềm vui tối thượng (linh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc, 令 諸 眾 生, 畢 竟 大 樂).

Tuy kinh văn ngắn, dễ hiểu, nhưng thực hành lời kinh không phải dễ, cho dù kinh chỉ dạy phật tử thực hành pháp môn đơn giản tụng niệm, thiền định để tự độ cho mình và độ cho người khác.

Phần kết

Hán văn

如 此 八 事。 乃 是 諸 佛 菩 薩 大 人 之 所 覺 悟。 精 進 行 道 慈 悲 修 慧。 乘 法 身 船 至 涅 槃 岸。 復 還 生 死 度 脫 眾 生。 以 前 八 事。 開 導 一 切。 令 諸 眾 生 覺 生 死 苦。 捨 離 五 欲 修 心 聖 道。 若 佛 弟 子。 誦 此 八 事。 於 念 念 中。 滅 無 量 罪。 進 趣 菩 提。 速 登 正 覺。 永 斷 生 死。 常 住 快 樂。

Dịch Nôm

Như thử bát sự, nãi thị chư Phật, Bồ tát Ðại Nhân, chi sở giác ngộ, tinh tấn hành đạo từ bi tu huệ, thừa pháp thân thuyền chí Niết Bàn ngạn, phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh, dĩ tiền bát sự, khai đạo nhất thiết, lịnh chư chúng sinh, giác sinh tử khổ, xả ly ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự, ư niệm niệm trung, diệt vô lượng tội, tiến thú Bồ Ðề, tốc chứng chánh giác, vĩnh đoạn sinh tử, thường trụ khoái lạc.

Dịch Việt

Tám điều như vậy, chư Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân đã giác ngộ, tinh tấn hành đạo từ bi và tu luyện trí tuệ, nương thuyền pháp thân mà lên bờ Niết Bàn, rồi lại trở về cõi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát, lấy tám điều giác ngộ này mà chỉ dẫn cho hết thảy cho mọi chúng sinh, giác ngộ được nỗi khổ sinh tử mà buông bỏ năm dục lạc hướng tâm về con đường Thánh đạo. Nếu là đệ tử của Phật thì phải đọc tụng tám điều này. Ở trong mỗi ý niệm đều, diệt được vô lượng tội, hướng đến Bồ đề, mau lên chánh giác. Vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, thường ở trong sự an lạc.

Hiểu về đoạn kinh văn trên: Tám điều như vậy (như thử bát sự 如 此 八 事) được các vị Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân (chư Phật 諸 佛), (Bồ tát 菩 薩), (Ðại Nhân, 大 人), thấy và hiểu (giác ngộ 覺 悟) và hành trì độ chúng sinh. Trong tám điều giác ngộ các bậc đại nhân thì bốn giác ngộ đầu tiên là giác ngộ để tự độ. Tức là tu để tự mình giải thoát. Bốn giác ngộ sau là độ chúng sinh. Tức là khi độ cho mình, mình dùng trí tuệ có được bởi giác ngộ mà độ cho người khác.

Ý kinh thật là thâm thúy. Mình phải đọc và hành trì bốn giác ngộ đầu tiên, sau đó mình mới tiếp tục học hành trì bốn giác ngộ sau.

Các vị Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân su khi tự mình giác ngộ đạt đến bờ Niết Bàn, (thừa pháp thân thuyền chí Niết Bàn ngạn 乘 法 身 船 至 涅 槃 岸), nhưng lại quay trở về cõi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát (phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh 復 還 生 死 度 脫 眾 生). Khi đọc đến đoạn kinh văn trên, là con cháu của Phật, con cảm nhận được tâm đại từ, đại bi của các vị Phật, Bồ tát, Đại nhân với chúng sinh. Chỉ có tâm từ bi mới làm được việc như thế.

Lời kinh dạy đơn giản, nhưng ý nghĩa. Mình phải đi từng bước một. Trước phải đọc. Đọc hiểu kinh rồi hành trì thực hành theo lời dạy của kinh. Tu thì phải hành. Mình phải đem kinh nghiệm sống của mình ra mà đọc kinh. Chính kinh nghiệm sống của mình mới làm cho mình hiểu được kinh. Bởi mỗi người mỗi nhận thức, mỗi hoàn cảnh, để mà tự đó tự giác ngộ về vô thường, khổ, không, vô ngã.

Hoàng Phước Đại - Đồng An
---
Ghi chú : Trong bản khắc gỗ ở điều giác ngộ thứ bảy, đệ tử Đồng An không thấy có chữ “thường” (常) trong “thường niệm tam y” (常 念 三衣) như bản kinh của quý thầy, quý cư sĩ dịch, nên khi dịch, đệ tử dịch sát theo bản khắc gỗ, riêng từ đoạn phụ lục âm thích”(音釋), chữ nhỏ nên đệ tử không thấy để đọc nên không ghi ra lại.

Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Hiểu lời Phật dạy trong kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân

Tám điều như vậy, chư Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân đã giác ngộ, tinh tấn hành đạo từ bi và tu luyện trí tuệ, nương thuyền pháp thân mà lên bờ Niết Bàn, rồi lại trở về cõi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát, lấy tám điều giác ngộ này mà chỉ dẫn cho hết thảy cho mọi chúng sinh, giác ngộ được nỗi khổ sinh tử mà buông bỏ năm dục lạc hướng tâm về con đường Thánh đạo. Nếu là đệ tử của Phật thì phải đọc tụng tám điều này. Ở trong mỗi ý niệm đều, diệt được vô lượng tội, hướng đến Bồ đề, mau lên chánh giác. Vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, thường ở trong sự an lạc.
Hiểu lời Phật dạy trong kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân Hiểu lời Phật dạy trong kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân
810 700
Tám điều như vậy, chư Phật, các vị Bồ tát và các Bậc Ðại Nhân đã giác ngộ, tinh tấn hành đạo từ bi và tu luyện trí tuệ, nương thuyền pháp thân mà lên bờ Niết Bàn, rồi lại trở về cõi sinh tử, giúp chúng sinh được giải thoát, lấy tám điều giác ngộ này mà chỉ dẫn cho hết thảy cho mọi chúng sinh, giác ngộ được nỗi khổ sinh tử mà buông bỏ năm dục lạc hướng tâm về con đường Thánh đạo. Nếu là đệ tử của Phật thì phải đọc tụng tám điều này. Ở trong mỗi ý niệm đều, diệt được vô lượng tội, hướng đến Bồ đề, mau lên chánh giác. Vĩnh viễn đoạn trừ sinh tử, thường ở trong sự an lạc.