GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 10:42 09/05/2018 (GMT+7)

Như Lai không giác ngộ Giác Ngộ (Hết)

(PGVN)

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajnaparamitahridaya Sutra) đã nêu rõ yếu chỉ của Phật giáo: ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, sinh lão bệnh tử, khổ tập diệt đạo, niết bàn, tái sinh, không tái sinh, ngộ hay mê, phạm trù nhị nguyên phân biệt đầy mâu thuẫn như sắc không, thiện ác, xấu tốt, hữu tình, vô tình, vô lượng vật tăng giảm trong vũ trụ, v.v… chỉ là ảo tưởng, tất cả đều không có thật do nhất niệm vô minh tưởng tượng mà ra. 

Ai tu nấy chứng

Riêng tôi hiểu từ kinh sách, sau 6 năm khổ công tầm đạo và sau nhiều ngày tham thiền dưới cội bồ đề, tâm đức Thế tôn bỗng nhiên rỗng lặng, trí tuệ khai thông, phục được mọi ma chướng trong ngoài và như thế bỗng nhiên Ngài đột nhiên viên ngộ. Và cũng như tôi đọc và hiểu theo kinh sách đã miêu tả, sau khi quán ánh sao mai vừa ló dạng, đức Thế tôn bỗng nhiên đại giác ngộ.  Ngài đã, ngay trong tức khắc đó, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. 

Kinh Phổ Diệu có nói: “Bỗng chốc trong một niệm, bằng Trí Bát Nhã, Phật chứng Vô Thượng Bồ Đề”.

Ngài Pháp Hiền người Trung Hoa đã viếng Bồ đề Đạo tràng vào năm 400 và trong ký sự hành hương của mình, ngài đã mô tả về Bồ đề Đạo tràng như sau:

"Sa môn Cồ Đàm đi tới phía trước, đến dưới gốc cây pei-to, trải cỏ cát tường, mặt hướng về phía Đông. Ngài bắt đầu an tĩnh tâm và suốt bảy ngày Ngài an hưởng trạng thái an lạc giải thoát đó.

Cũng tại nơi này, người ta đã xây một cái tháp đánh dấu nơi Ngài đã đi kinh hành trong bảy ngày từ phía Đông qua Tây trong khi các chư thiên đã xuất hiện với bảy báu cúng dường tán thán đức Phật. Cũng có một cái tháp đánh dấu nơi con rùa mù Mucchalinda đã bao quanh Phật và lấy đầu làm phướn che đầu Ngài khỏi cơn bão táp. 

Cũng có tháp nơi đức Phật ngồi trên hòn đá vuông dưới bóng cây Nyagrodha, mặt hướng về phía Đông đang nhận sự lễ bái cúng dường của một vị Bà la môn; cũng có một cái tháp đánh dấu bốn vị Thiên vương cung kính cúng dường Ngài bình bát quý. Cũng có tháp đánh dấu 500 vị thương buôn dâng cúng Ngài bánh bắp và mật… " (Records of the Western World, trans. Samuel Beal, vol.1, p.11).

Sau đó, Ngài xả thiền và tuyên bố đại ý như sau:

Nảy sinh nhận thức, cuộc đời đã hết, phạm hạnh đã thành, đạt được trí tuệ, biết được chân thật, kiến giác được pháp, giác ngộ được đạo, cứu cánh đã đạt, không luân hồi nữa.

Vậy thì đức Thế Tôn đã hy sinh từ bỏ cha mẹ, quyền uy, phú quý, vợ đẹp, con thơ và sau sáu năm khổ cực, màn trời chiếu đất, sống như kẻ vô gia cư, khất thực, gia tài chỉ có độc một tăng bào, một bình bát,... mong tìm đạo vô thượng để cứu khổ chúng sinh nhưng rồi thì cuối cùng giác ngộ rằng chả có cái gì để giảng để độ vì tất chỉ là ảo tưởng?  

Chúng sinh từ đâu tới, vũ trụ từ đâu mà có? Thượng đế, thiên đàng, địa ngục, luân hồi, sinh tử là gì, có đúng như Bà la môn và những tôn giáo khác thường giảng dạy không?
 
Nên nói đúng hay sai? Ý Phật dạy không nên nói không sai/đúng.

Vì nếu đúng như vậy hay nếu như vậy là sai thì cũng chả giúp ích gì cho nỗi khổ đau của nhân sinh và cũng chẳng nhằm nhò, liên quan gì đến giải thoát và giác ngộ. Vì Phật giáo không quan tâm đến những điều vô nghĩa, không cần thiết và kém thực tế này.

Như Lai không trả lời những vấn đề trên cho những kẻ thượng mạn, cao ngạo không biết mình độn căn. Đây là những kẻ tự tôn nhưng mộng du đang ôm cây đợi thỏ, khắc kiếm mạn thuyền, thân đang mang tên độc, nhà cháy vẫn còn ham chơi.
  
Kẻ trí thức không thể dùng phương tiện bác học để giải thích cho kẻ thất học hiểu và để giúp họ giải quyết những vấn đề ích kỷ, tham lam, thiển cận của họ được. Bác sĩ không giải thích y khoa chuyên môn dài dòng cho con bệnh nguy kịch sắp chết, nhưng vẫn theo thói thường, có bệnh nhân tự lừa dối là mình không bệnh và lừa dối luôn cả bác sĩ về bệnh tình của mình.

Đức Phật không phủ nhận hay công nhận cái không.

Tuy nhiên, Lục Tổ Huệ Năng là một đại luận gia vĩ đại, một luật sư biện luận từ kim cổ không ai sánh bằng. Cho ngài không biết chữ, không học là vạn sự vô minh của phàm phu.

Hãy đọc kỹ những phương pháp tranh luận với logic cao siêu mà Lục Tổ dạy trong kinh Pháp Đàn, phẩm 10, Phó Chúc về những vấn đề trên.  

Lối tranh luận này đang được giảng dạy ở những đại học danh tiếng trên thế giới nhưng tiếc rằng họ không biết người sáng tạo ra nó là Huệ Năng, chưa học qua một lớp mẫu giáo.

Một hôm Tổ gọi đệ tử là Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như v.v... bảo rằng: 

Các ông nếu ngộ, y đây mà nói, y đây mà dùng, y đây mà hành, y đây mà tạo tác, tức không mất bản tông. Nếu có người hỏi nghĩa ông, hỏi có thì đem không đáp, hỏi không thì đem có đáp, hỏi phàm thì đem thánh đáp, hỏi thánh lấy phàm đáp, hai bên làm nhân cho nhau sinh ra nghĩa trung đạo, như một hỏi một đáp, bao nhiêu câu hỏi khác đều y đây mà khởi tác dụng, tức không mất chân lý”.

Mục đích cao thượng của Lục Tổ không phải là tranh luận hơn thua hay để thỏa mãn những thắc mắc không giải thoát của họ nhưng tùy vào căn duyên mà đưa họ vào cửa Không để đạt được đốn ngộ.

Không phải Như Lai không thể trả lời những nghi vấn trên mà Ngài đã giảng những điều này cho những cao đồ đã có đầy đủ căn duyên, trí tuệ và nhất là tùy người, tùy duyên, tùy lúc mà chỉ cho họ viên ngọc Mani có sẵn ở trong túi họ.

Như đã nói, tất cả những tâm tư này cũng từ tính ích kỷ, tâm lo, lòng sợ, si muội, sân mạn, tham lam, bám víu vào vô thường của chúng sinh.  
  
Nếu biết, tất cả pháp trên thế gian này là tùy duyên, vì tùy duyên nên có động tác, có hình tướng, cái này có, thì cái kia có,... vì đa số nhân sinh không biết như vậy nên không hiểu như vậy và không thấy được như vậy và bởi vì như vậy mới có những câu hỏi tùy duyên với duyên khởi từ tâm phan duyên, không lối thoát, chướng đạo như vậy.

Đây là những căn nguyên của bệnh vô minh đưa đến triệu chứng khổ đau mà đức Dược Vương, đức Bổn sư đã giảng dạy và chẩn bệnh vô minh bằng phương thuốc trí tuệ, phòng bệnh với phương cách giác ngộ và khuyên bệnh nhân muốn chữa dứt triệu chứng đau khổ thì phải viễn ly cơn nghiện ngập vô thường, kinh niên từ truyền kiếp, để tự giải thoát khỏi trầm luân trong sinh tử, nguồn gốc của khổ đau.  

Với lòng từ bi quảng đại muốn cứu độ chúng sinh mà Ngài đã bỏ ra 49 năm du thuyết sau khi giác ngộ chỉ vì muốn chữa căn bệnh vô minh của chúng sinh ở trên.

Yếu chỉ của Phật giáo

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajnaparamitahridaya Sutra) đã nêu rõ yếu chỉ của Phật giáo: ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, sinh lão bệnh tử, khổ tập diệt đạo, niết bàn, tái sinh, không tái sinh, ngộ hay mê, phạm trù nhị nguyên phân biệt đầy mâu thuẫn như sắc không, thiện ác, xấu tốt, hữu tình, vô tình, vô lượng vật tăng giảm trong vũ trụ, v.v… chỉ là ảo tưởng, tất cả đều không có thật do nhất niệm vô minh tưởng tượng mà ra.  

Cái triết lý siêu tuyệt của Phật giáo Đại thừa: Tất cả sắc tướng lẫn vô sắc tướng từ tâm tạo này được khoa học hiện đại công nhận và cũng được những triết gia lừng danh trên thế giới triết luận từ ngàn năm.

Cùng tâm tưởng đó Bát Nhã Tâm Kinh đã đi xa hơn và đã diễn tả rất rõ ràng: Không có sinh tử cũng không có hết sinh tử. Không có khổ tập diệt đạo cũng không có hết khổ tập diệt đạo.  

Đa số phật tử nhật tụng Ma ha Bát nhã Ba la mật này nhưng thật ra rất ít ai trì được ý kinh. Miệng niệm không nhưng không thật sự biết được không. Tụng mà trong tâm chẳng hiểu cách tu hạnh của pháp môn đốn giáo này vì chưa có tâm lượng bao trùm cả pháp giới, phân minh ứng dụng, để phát triển trí tuệ, kiến tính và để giải thoát sinh diệt.

Trong kinh Pháp Đàn, Phẩm 2, Bát Nhã, Lục Tổ đăng tòa bảo đại chúng:

Này Thiện tri thức, Ma ha Bát nhã Ba la mật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là đại trí tuệ đến bờ kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở miệng. Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm mà tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tính là Phật, lìa tính
không riêng có Phật”.

Tất cả mọi sự phân biệt nhị nguyên chỉ có ý nghĩa tương đối, dựa trên sự chấp ngã, chấp pháp nên chưa hiểu thấu pháp giới bình đẳng, tự tính vô ngã ở nơi có sắc lìa sắc, ở nơi không sắc lìa không sắc. Vô sở trụ Tướng lẫn vô sở trụ Không. 

Kinh Kim Cang cũng khuyên không nên cố chấp: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”.     

Vô niệm, Vô trụ, Vô chấp!

Trong Kinh Kim Cang, Tôn giả Tu bồ đề hỏi: “Khi phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác, làm sao an trụ tâm?” 

Phật đáp: “Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sinh tâm ấy”.

Bồ Tát Long Thọ luận: “Không trụ nên không sinh. Cũng không thật có diệt. Sinh tức trụ và diệt. Làm sao có thật nghĩa?

Ngài cũng nói: “Tâm nào có thể thấy. Trên phương diện danh ngôn. Không tâm sở thì tâm không sinh. Không tự tính, không chấp nhận câu sinh. Chân thật tính như trên. Biết chúng sinh không thật. Như không nhân củi lửa. Vô trụ, vô thủ đắc Niết bàn”. 

Như Lai đã phải mất công đi du thuyết trong vòng 49 năm khắp nơi ở vùng phía bắc Ấn Độ, trên địa phận của hai bang Uttar Pradesh, Bihar và phần phía nam của nước Nepal ngày nay, trong một khu vực rộng khoảng 340.000 km2 cũng vì lòng từ bi để muốn chỉ giáo cho chúng sinh giác ngộ cái điều đơn giản “không có thật đó”. Nhưng chúng nhân sinh vẫn còn quá vô minh, chấp ngã là thật có thay vì hư ảo nên không giải thoát và khó giác ngộ.
  
Chúng ta thường nghe nói: thấy, hiểu, biết, thông cũng chưa tự giải thoát được nhưng phải cố chí tu hành để mở mang trí tuệ rồi chứng giác ngộ?  

Nhưng tại sao hơn 2600 năm, tuy Phật giáo bành trướng khả quan trên thế giới nhưng Phật pháp vẫn bất khả dĩ cộng thông?

Câu trả lời thông thường đó là vì chúng sinh còn ngu muội, đầy vô minh, quá tham sân si nên khó giác ngộ?

“Tục diệm truyền đăng!”, tự mình thắp đuốc mà đi mà đức Thế Tôn đã tự lực trước khi giác ngộ là pháp môn rốt ráo cuối cùng được đức Thế Tôn chân truyền trăn trối để đời cho các đệ tử. 

Vậy mà phải mất đến 49 năm du thuyết sau khi cận tử nghiệp, Ngài mới vòng lại chỉ cho cái đám đệ tử có “mắt nhưng không tròng” cái chiêu thức căn bản đầu tiên đó?  

Đạo bất khả phân biệt. Phân biệt bất khả đạo! Bất khả thuyết pháp. Bất khả tư nghì!

Bồ Tát Long Thọ nói: “Do vì chư Phật tuyên thuyết. Giáo lý bất tử thâm sâu. Vượt qua có và không. Nên biết pháp Phật bất cộng thông”. 

Con người khó có thể chấp vào vô ngã tính, vì nó trái với tâm tưởng như vậy, cũng không thể tách rời khỏi hữu ngã tính, vì đó là tâm tưởng như vậy.  

Con người cũng không thể chấp cả hai, có không như vậy, lẫn bác bỏ cả hai, không có như vậy. Nhưng mà nó như vậy.

Theo tôi, ngoài những tập tục và lý do trên, nhân sinh bẩm tính lười biếng, ỷ lại, lo sợ không có đầy đủ những đức tính bi - trí - dũng cho nên khó học Phật pháp.  

Ngay đến bây giờ có mấy ai dám cả gan, can đảm, tự mình thắp đuốc mà đi một mình trong biển cả mênh mông tối đen đầy sóng gió khổ đau đó, thay vì chờ xin quá hải, nhờ người độ mình vượt biên sang lại bờ bên kia?

Cho dù có nghe biết hiểu, đa số chúng nhân sinh vẫn không hoàn toàn tự tin vào tự lực mà vẫn quen thói bám víu vào tiện lợi ảo tưởng từ tha lực. Mà nếu thật sự cầu tha lực mà khả đắc, cầu gì ứng nấy thì ngu dại gì tự mình thắp đuốc mà đi cho mất công?

Nên chính xác hơn là nên chêm thêm một chữ “muốn”, “đa số chúng sinh là Phật chưa... muốn thành?”. Hay nên nói, nếu muốn là được thành hay dù nếu muốn cũng chưa dễ gì thành được?
   
Ưng vô sở trụ

Nhà vật lý học người Ấn tên là Raja Ramanna phát biểu: “Vật lý lượng tử (quantum physics) là học thuyết mới được phát minh ở thế giới hiện nay nhưng học thuyết này đã được Thánh Bồ Tát Long Thọ nói hơn ngàn năm trước...” 

Theo quan niệm cổ của Đông Phương thì nguyên tử (Paranamu) được hiểu như không có thực thể (Nissarira). Khoa học hiện đại đã chiếu kiến được lượng tử khi hạt (sắc) khi sóng (không), khi có khi không tùy tâm ý cũng như Bồ Tát chiếu kiến sắc không, ngũ uẩn giai không và thiên hình vạn trạng do tâm tạo.

Cũng như hiện nay, có giả thuyết khoa học chủ trương, thế giới chỉ là “ảnh đồ ký 3 chiều” (holographic universe[s], vũ trụ ký ảo).

Niels Bohr, nhà vật lý nguyên tử, giải Nobel vật lý 1922, viết: “Mọi vật chúng ta gọi là thật được làm bởi những thứ mà không thể được xem như là thật”. 

... Everything we call real is made of things that cannot be regarded as real” – Niels Bohr, physicist who made foundational contributions to understanding atomic structure and quantum theory, for which he received the Nobel Prize in Physics in 1922.

Tại một góc cạnh đổi chiều của thế kỷ 19, những nhà vật lý bắt đầu khám phá cái tương quan giữa năng lượng (vô tướng) và cấu tạo của vật chất (có, sắc, hữu hình). Cũng vì như vậy, cái quan niệm vật chất, cái thuyết vũ trụ vật chất của Newton đã từng là trung tâm của kiến thức khoa học đã bị loại bỏ và được công nhận rằng vật chất là không (sắc thị không như đã được ghi lại trong Bát Nhã Tâm Kinh) nhưng một cái ảo (hư không) thay thế nó (không thị sắc). Những khoa học gia đã bắt đầu chấp nhận rằng mọi vật trong vũ trụ được tạo ra bởi năng lượng (vô sắc tướng).

At the turn of the nineteenth century, physicists started to explore the relationship between energy and the structure of matter. In doing so, the belief that a physical, Newtonian material universe that was at the very heart of scientific knowing was dropped and the realization that matter is nothing but an illusion replaced it. Scientists began to recognize that everything in the Universe is made out of energy” - Arjun Walia.

Dĩ nhiên, Arjun Walia chưa với tới “sắc bất thị không. Không bất thị sắc. Sắc là sắc. Không là không!” và vũ trụ từ không (emptiness).

Lúc sinh thời, Einstein đã tiến hành nhiều thí nghiệm về rối lượng tử (quantum entanglement) nhưng ông không chấp nhận là khả thi. Einstein cực lực phản bác, cho rằng hiện tượng rối lượng tử là không đúng, khó giải thích đích đáng, quá mạo hiểm để chấp nhận mà ông gọi đó là Tác động ma quái từ xa (Spooky action at a distance).   

Nhưng Einstein đã sai lầm vì vào năm 1982, tại Paris, Alain Aspect đã chứng minh được hiện tượng liên kết lượng tử là có thật. Từ thí nghiệm đó, người ta rút ra được hai kết luận:

Thứ nhất, vật không có thật, non realism, hạt photon, hạt electron, tất cả các hạt cơ bản, tất cả cấu trúc nguyên tử, phân tử, tất cả vật chất, sinh vật đều không có thật. 

Từ chỗ vật không có thật, những khoa học gia ở trên suy ra không gian, thời gian đều không có thật.
 
Vì trong khi quan sát hiện tượng rối lượng tử, hai hạt photon tác động linh cảm với nhau ở khoảng cách rất xa không giới hạn khoảng cách, chứng tỏ rằng khoảng cách không gian là không có thật, từ đó thời gian cũng không có thật. 

Nếu khoảng cách không có thật thì du hành trong vũ trụ có thể khả thi. Và nếu quá khứ, hiện tại và tương lai cuộn lại một, không gian cuộn thời gian, thì du hành vượt không - thời gian có hy vọng thực hiện (possible) nếu chúng ta đừng cho không gian đụng thời gian.

Trong lý Bát nhã, không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những điều này không có gì mới lạ đối với Phật giáo và những bậc giác ngộ đã chứng đạt lục thông.  

Nhất tâm niệm, không đi, không đến. Như Huệ Khả thưa: “Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến”. Tổ Ðạt Ma dạy: “Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi”.

Thứ hai, vật không có vị trí nhất định để bám trụ, non locality, bất định xứ hay vô sở trụ, hạt electron khi ở dạng sóng thì không có vị trí nhất định, nó hiện diện khắp mọi nơi, nhưng khi ở dạng hạt thì có vị trí xác định tạm thời. 

Khi những khoa học gia cố tâm quan sát thì nó hiện ra thành hạt, thành vật chất, observable matter, sắc tướng để ta có thể nhận thấy. Nhưng khi không quan sát thì nó trở thành sóng, wave, phi vật chất, vô tướng. Nó tự có tính linh (intelligence) biến hiện tùy tâm mà Einstein đã gọi nó là hiện tượng ma quái từ xa (spooky action from distance).  

Đây là Có - Không (hữu tướng, vô tướng), lý vô thường và nhi sinh kỳ tâm mà Bát Nhã Tâm Kinh đã diễn tả từ lâu.

Điều này không có gì là huyền bí nữa vì mỗi người chúng ta đều có thể thực nghiệm trên smartphones và mới đây qua Artificial Intelligence (robots, xe không người lái,...) Các văn bản, hình ảnh hay video trên mạng ở khắp mọi nơi dưới dạng sóng, phi vật chất, vô tướng nhưng sẽ hiển thị trên màn hình khi chuyển sang dạng hạt, trở thành hữu hình, lúc đó thì chúng có vị trí nhất định để quan sát, nghe thấy.  

Đến năm 2012, khi Maria Chekhova của đại học Moscow làm được thực nghiệm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau, thì những khoa học gia mới rút ra được kết luận thứ ba.

Thứ ba, vật không có số lượng (non quantity, số lượng chỉ là tưởng tượng của tâm chứ không có thật). Bởi vì một hạt photon có xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau hoặc nhiều đến vô lượng thì số lượng là vô cùng tận hay nói cách khác, số lượng không có thật, số lượng chỉ là ảo, là tưởng tượng của tâm chứ không có thực thể.

Tổng số lượng âm dương trong vũ trụ triệt tiêu bằng số không.  Khoa học cũng đã có khái niệm về chân không (emptiness).   

Kinh điển Phật giáo đã nói vô lượng vật trong vũ trụ không tăng không giảm, vô sinh vô diệt và nhân duyên nghiệp quả tương đương với luật cause & effect, luật hấp dẫn, thermodynamic và luật cân bằng của khoa học vật lý.

Khoa học kỷ thuật hiện nay đã thành công trong việc dùng tiếng nói để sai khiến vật chất lẫn chúng sinh, dùng mắt để ra lệnh cho vũ khí chĩa thẳng mục tiêu và thậm chí dùng ý nghĩ để ra lệnh cho drones bay thẳng, đáp, quẹo trái, nghiêng về bên phải,...

Ngay cả, vũ trụ trong hạt dẻ (The universe in a nutshell, Stephen Hawking) hay vũ trụ trong hạt nguyên tử (The Universe in a Single Atom của đức Đạt Lai Lạt Ma), xem toàn thế giới với thông tin internet chỉ trong sát na trên đầu ngón tay của chúng ta, có gì là mê tín, dị đoan, phép lạ, thần thông biến hóa đối với khoa học hiện đại?

Trong mỗi nguyên tử từ các giới của vũ trụ,
Có tồn tại một biển khổng lồ các hệ thống thế giới
(Kinh Đại Phương - Quảng Hoa Nghiêm)

Vậy thì kinh thuật lại, mười phương chư Phật cùng thuyết pháp cho vô lượng chúng sinh trong vô lượng cõi trong nhiều vũ trụ có khác gì như chúng ta xem cả thế giới trên internet, bởi AI, trong smartphones, trong computers, hay trong TVs?

Đức Phật dùng ý gửi tín hiệu thay vì dùng tiếng nói ra lệnh cho TV/smartphones mà khoa kỹ thuật bây giờ đã thực hiện thành công có gì là hư cấu nữa đâu?

Yoga và thiền định (Vipassana) tập trung vào hơi thở làm quân bình insula trong não và làm tăng gamma band.
 
Những khoa học gia đã đo được những hiện tượng của tia Gamma cao hơn những người bình thường từ những thiền sư.

The onset of meditation in the monks coincided with an increase in high-frequency EEG electrical activity in the so-called gamma band [spanning 25 to 42 oscillations a second], which was synchronized across the frontal and parietal cortices”.

Đến bây giờ, khoa học kỹ thuật mới chứng minh được qua thực nghiệm và hình ảnh của những tia tử ngoại tuyến, radiation, vô sắc tướng. Bộ não phát ra tín hiệu truyền tin với nhau (electrical signals and communication) không có gì là mới lạ đối với Phật giáo và những thiền sư.
  
Tương tự, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng đã diễn tả rõ ràng về tia sáng Gamma cực tím này rồi. 
 
Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào quang [gamma] chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông,...”. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập, Hán Dịch, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh Việt dịch.
 Tia Gamma
 
Bản thể chân tâm

Chân tính là vô tính. Tử sinh chẳng nói.
Vì "không hoa, mặc bướm để lòng chi?”
(Tác giả?)

Trong sách “Phật giáo và Vũ trụ quan”, Chương 8: Vũ trụ vạn pháp trong lỗ chân lông, tác giả Lê Huy Trứ trích: Khi đức Phật thành đạo đã nói: "Như Lai thì trái với vọng trần, hiệp với chân tâm thường trụ bất sinh bất diệt, biến khắp cả pháp giới cho nên ta mới được tự tại vô ngại.  

Như Lai ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân Như Lai bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần nên mới được như vậy" (Phỏng theo Kinh Lăng Nghiêm, Phật học Phổ thông khóa VI, VII trang 132-133).

Đoạn kinh trên với lối diễn tả đầy phép tắc thần thông huyền bí hơi khó hiểu và không dễ gì tưởng tượng nổi bởi những kẻ phàm phu. Nhưng thật ra đức Phật muốn nói về cái bản thể của chân tâm có những đặc điểm màu nhiệm như thế đó. Con người vì vô minh mà đã từ bỏ bản thể mầu nhiệm ấy, để đi vào vòng luân hồi, sinh tử khổ đau. 

Con người tu hành đạt được đạo quả thì sẽ trở về với chân tâm thường trụ, bất sinh bất diệt, biến khắp cả pháp giới vì có thân "tự tại, vô ngại" không có gì ngăn cản, vướng mắc. Tâm thức hòa vào viên dung với hư không. Vì không có thân xác nên không bị kìm hãm, gò bó trong thân xác hay nói theo Duy Thức là "cái túi - A Lại Da Thức" đã bị phá vỡ và tâm thức lan rộng khắp theo cùng hư không trong cảnh Đại Viên Cảnh Trí. Tâm thức là tạng minh quang tam muội cùng đốt trong vũ trụ với vô lượng minh quang khác, ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp lại làm nhất thể quang tạng. 

Và tại sao lại là "trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ", hay "trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong hạt bụi mà chuyển đại pháp luân?". Điều này trong kinh điển có câu "bất khả tư nghì" hay "không thể nghĩ bàn" nhưng ở vào thời đại hiện nay với những kỹ thuật, chúng ta có thể dễ hiểu một phần nào, như được miêu tả: vũ trụ ở trong smartphones, computers, TV mà chúng ta có thể xem, nghe thấy bất cứ ở đâu, trong cái phòng gia đình tụ họp (family room) hàng ngày xem TV hay coi phim ảnh về Trái Đất, Thái Dương hệ, dải ngân hà; rồi cảnh vũ trụ với nhiều hình dáng các thiên hà khác được smartphones, computers, TV hay cine thu hình cho hình xa dần, xa nhiều và nhiều nữa... 

Như chúng ta, chúng sinh của Thái Dương hệ, đang ngồi bên ngoài giống như chư Phật đang dùng Phật nhãn quan sát toàn cảnh trong các cõi khác vậy. Và khi, trên màn ảnh chiếu các thiên hà ấy được thu tóm lại trong một bong bóng hình cầu và bóng cầu đó nhỏ dần, nhỏ dần thành một chấm điểm rồi biến mất trên màn ảnh, điều ấy giống như đức Phật thu nhỏ đi toàn thể thế giới cùng mình đi vào "ngồi trong hạt bụi vi trần" với đầy đủ các cõi nước và trong đó đức Phật đang hành đạo và chuyển đại pháp luân".
 
Tại sao như thế? Vì đức Phật đã được "thân tự tại vô ngại" hòa cùng hư không vô tận, cho nên "không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Đó là sự mầu nhiệm hay sự thành đạt của người tu hành đạt được đạo Vô Thượng Bồ Đề. Vì ta diệt hết vọng trần nên mới được như vậy". 
 
Trong tương lai rất gần, nhờ Internet of Thing (IoT) phối hợp với AI (Artificial intelligence), chúng ta có thể nghe được âm thanh nội tại (internal voice, tiếng Tâm) và đọc được tư tưởng của người, như đạt được lục thần thông.  

Thậm chí, chúng ta có thể cảm, xúc, nếm, ngửi được lượng tử mà không cần đến lục căn vì khoa học sẽ giúp chúng ta biết sở trụ trong hạt và sóng, ở trong tâm điểm vô thường của hữu sắc và vô sắc để chiếu kiến vũ trụ và dễ dàng giác ngộ mà không cần phải tu hành vất vả.

Khoa học vật lý đã chứng minh và cho chúng ta tiện nghi thấy tận mắt, nghe tận tai những sự kiện này rồi nhưng biết và thấy qua kiến thức và dụng cụ kỹ thuật khó làm cho chúng ta “thấu ngộ” bằng tự quán kiến bởi trí tuệ.  

Đa số khoa học gia, triết gia, trí thức vì chưa có duyên phận với Phật pháp cho nên đến bây giờ vẫn còn vô minh chưa hiểu nổi thâm ý của đức Thế Tôn và các Tổ đã chiếu kiến “vũ trụ giai không” qua con mắt trí tuệ (third eye) và đã dạy lại cả hơn 2,5 ngàn năm trước. Những điều người xưa gọi là “thần thông biến hóa” này, mà bây giờ khoa học mới thực hiện được, đã được khẩu truyền, mật tụng và sau khi có văn tự, được hồi ký, ghi lại thành kinh điển ngày nay cho những kẻ trí tuệ và hữu duyên.

Ðức Phật A Di Ðà

Ðức Phật hỏi Xá Lợi Phật: "Vì sao ðức Phật ấy có tên là A Di Ðà? (Xá Lợi Phật, ư nhữ ý vân hà, bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?). Rồi ðức Phật trả lời giải thích: “Này Xá Lợi Phật, ðức Phật kia có được luồng ánh sáng rực rỡ vô cùng tận, chiếu thấu suốt cả mười phương trời đất, không có một nơi nào bị chướng ngại ngăn vướng, vì thế ðức Phật ấy mới được gọi A Di Ðà” (Xá Lợi Phật, bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Ðà)”. 

Trong tiểu bản kinh chữ Phạn Sukhàvatì Vyùha, ðức Phật đã giải thích ý nghĩa danh hiệu Phật A Di Ðà như sau: 

Ồ Sariputra, ông nghĩ thế nào, vì lý do gì bậc Như Lai (Tathàgata) ấy có tên là Amitàbha (A di ðà)? Amitàbha có tên như thế là vì ánh sáng rực rỡ (Àbha) của ngài chiếu sáng lộng lẫy không ngăn ngại, chiếu sáng vô biên, vô hạn, vô lượng (Amita) trên khắp cả cõi Phật”. Chữ “amita” (vô lượng) kết hợp với chữ “àbha” (tua sáng lộng lẫy) thành ra: “Amitàbha” (A Di Ðà) mà Tàu dịch là “Vô Lượng Quang”.

Chẳng những thế, ðức Phật lại nói tiếp: “Lại nữa, này Xá Lợi Phật, ðức Phật A Di Ðà có sự sống trường thọ vô cùng tận, đến vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, cả đến nhân dân ở cõi nước ngài cũng thọ mệnh vô lượng vô biên như vậy, vì thế ngài có tên là A Di Ðà. (Hựu Xá Lợi Phật, bỉ Phật thọ mệnh, cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Ðà)”. 

Sau cùng, ðức Phật nói rõ thêm rằng ðức Phật A Di Ðà thành Phật đến nay đã được mười kiếp rồi (Xá Lợi Phật, A Di Ðà Phật, thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp). 

Xá Lợi Phật và những cao đồ của ngài thời đó cũng không biết tới những công án đó, thời đó chưa có công án. Họ chỉ cung kính tuân theo, dù có thắc mắc cũng để bụng, không dám nghi ngại, đặt câu hỏi trực tiếp với đức Phật. 
 
Phạm Công Thiện giải thích rất siêu tuyệt: “Chúng ta không nên hiểu chữ “Amitàyus” (Vô Lượng Thọ) ở đây theo nghĩa “trường sinh bất tử” của tôn giáo hữu thần và trường phái Lão Trang, vì “Vô Lượng Thọ” ở đây là sức sống vô cùng tận thoát ra ngoài cả sinh tử thông thường, ra ngoài cái “hữu” và “vô”, dứt khoát ra ngoài thể diệu “hữu thể” và “hư vô”, như Sariputra đã nói trong đoạn kinh Bát Nhã trích dẫn ở trên: “Không, nhất định không thể nào hiểu theo điệu ấy được”. 

Hai danh hiệu của Phật A Di Ðà ở đây, “Vô Lượng Quang” (Amitàbha) và “Vô Lượng Thọ” (Amitàyus) chính là luồng ánh sáng lộng lẫy trong suốt vô hạn và sức sống mênh mang phong phú vô hạn cửa “Tâm vô tâm” trong Bát Nhã, vượt ra ngoài không gian (Vô Lượng Quang) và vượt ra ngoài thời gian (Vô Lượng Thọ). 

Chỉ khi nào vượt ra ngoàt tất cả không gian vô hạn và hữu hạn của tất cả vũ trụ thì mới được “vãng sinh A Di Ðà Phật cực lạc quốc ðộ”, lúc đó đồng thời mà phi thời, tất cả thời gian vô hạn và hữu hạn bị phá vỡ lên thành một sát na niệm Phật. Một là tất cả và tất cả là một. “Một trong tất cả; tất cả trong một; một tác động cho tất cả; tác động cho một” như ðức Phật A Di Ðà đã hiển lộ khai mở cho Tổ sư Nhật Ryònin, vị sáng lập Tông phái Yùzùnembutsu (tông phái tổng hợp Thiên thai tông và Tịnh độ tông) (Ryònin, 1071-1132)”.

Tôi xin tóm tắt đơn giản, phàm phu tục tử vì vô minh nên thần thánh hóa quang minh vô lượng, luồng ánh sáng lộng lẫy trong suốt vô hạn và sức sống mênh mang phong phú vô hạn của “Tâm vô tâm”, vô sinh vô diệt, vô thủy vô chung, phi không - thời gian trong Bát Nhã. Rồi đưa đến lạc quan, nhân cách hóa, hữu thể hóa, sắc tướng hóa Phật A Di Đà với mê tín dị đoan chẳng qua cũng từ vô minh, mê muội, đáng thương, tội nghiệp mà ra.

Như Sariputra đã nói trong đoạn kinh Bát Nhã: “Không, nhất định không thể nào hiểu theo điệu ấy được”.

Đó là chính là ngụ ý của câu: Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan. Lìa kinh nhất tự tức đồng ma thuyết!

Rất hiếm khi đức Phật phải gợi lên câu hỏi rồi tự mình trả lời lấy vì Ngài biết có những vấn đề cần thiết phải nêu ra và giải thích cho thế gian và hậu thế.

Cho nên Ngài đã thật sự ngấm ngầm và gián tiếp dạy trước cái kiến thức của “đống lá trên rừng” dù Ngài biết đám đệ tử của mình hoặc chưa đủ trình độ để học hay vì cả nể nên chưa dám hỏi?

Pháp thượng thừa nếu không truyền được lúc đó cho kẻ hữu duyên thì cũng phải gián tiếp lưu truyền cho hậu thế. Hậu tái sinh [sẽ] tùy duyên mà ngộ được vô thượng bồ đề.

Như không

Trong Kinh Kim Cang, Phẩm 22: Vô Pháp Khả Đắc, Tu Bồ Đề hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, Phật đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttara samyak sambodhi, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) có phải là Vô Sở Đắc (không có cái được, không được gì cả)... không?

Đức Thế Tôn trả lời: “Đúng vậy, đúng vậy! Này Tu Bồ Đề, Như Lai chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho đến một pháp nhỏ bé nào cũng không có được, mới gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.

Thực ra, đức Thế Tôn diệu ý “như vầy”: Như Lai “Không chứng Không có” lẫn “Không chứng Có không”! Như Lai không chứng cả hai. Như Lai Không chứng một cái gì cả. 

Huệ Năng luôn nhắc nhở môn đệ của mình ở cái chấp không điểm dưới đây, thoạt nghe qua tưởng như là mâu thuẫn với những pháp luận ở trên nhưng thật ra là ngài đã lìa kinh đồng Phật thuyết:

Chớ nên nghe ta nói ‘Không’ mà liền chấp ‘Không’. Trước nhất chớ chấp ‘Không’, nếu để tâm ‘Không’ tĩnh tọa là lọt vào ‘Vô ký không!’”. 

Là lọt vào “thọ ký vào vô không”, hay không sở trụ vào không?  Tôi không biết nguyên ngữ của chữ “Lọt” bằng tiếng Hán này là gì? Nhưng hình như chữ “Lọt” này nghe không “lọt tai” chút nào? Vì phải có định xứ (locality) để sở trụ mới lọt vào, rớt ra (lọt ra) được? Không lẽ, “nếu để tâm ‘không’ tĩnh tọa là lọt vào ‘Vô ký không!’ cũng bị lọt vào mâu thuẫn vô ký bất nhị nguyên?

Tôi không tìm thấy chữ “lọt” này trong kinh Pháp Đàn do Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng mà là “chấp vô ký không”.

Cũng trong kinh Pháp Đàn, Sư Huyền Sách nói với sư Trí Hoàng: 

Ông nói, chính khi nhập định chẳng thấy có cái có tâm và không tâm. Chẳng thấy có tâm và không tâm tức là thường định, sao
lại có xuất nhập, nếu có xuất nhập tức là không phải Đại định.

Huyền Sách nói tiếp: “Lục Tổ, thầy tôi nói: Diệu trạm viên tịch, thể dụng như như, năm ấm vốn không, sáu trần chẳng phải có, chẳng ra chẳng vào, chẳng định chẳng loạn, tính thiền không trụ, lìa trụ thiền tịch, tính thiền không sinh, lìa sinh thiền tưởng, tâm như hư không cũng không có cái lượng của hư không”.

Kinh Tịnh Danh nói: “Pháp không có so sánh vì không có đối đãi”.

Pháp bất khả tư nghị. Tư nghị bất khả pháp!

Như Lai không nói một chữ

Như đã nói, pháp Phật cao siêu diệu vợi, không dễ dàng cộng thông! Tuy nhiên, cao thâm hay đơn giản tùy vào nhân duyên và căn trí của mỗi cá nhân.

Chẳng hạn, sau 49 (có sách nói 45) năm hoành pháp, đức Thế Tôn tuyên bố rất đơn giản: Như Lai không nói một chữ... Không. Vì hình như ý Ngài, khi đã nói không rồi thì nó không còn là Không nữa. Tuy nhiên, trong vòng 49 năm du thuyết pháp nếu Như Lai không nói Không thì không có “Như Không” để mà thuyết pháp... “Không pháp không”?

Thật ra lúc vừa mới đại giác ngộ, Ngài có ý này rồi nhưng vì thể theo lời yêu cầu khẩn thiết của một đấng Phạm Thiên mà nảy sinh từ bi, tội nghiệp cho chúng sinh còn mê muội, đầy vô minh nên phải chờ đến sau 49 năm du thuyết pháp, Ngài mới nhắc nhở lại cái ý ban đầu, đó là trong 49 năm nay: “Như Lai không nói một chữ”.

Tôi mượn ý kinh để đồng pháp thuyết: Phẩm Quán Tứ Đế ghi: “Thế Tôn biết pháp [không] này, tướng sâu xa vi diệu, hàng độn căn chẳng biết, vì thế chẳng muốn thuyết [không]”. 

Như Lai không thuyết giảng những triết lý trừu tượng dưới đây cho những kẻ căn trí còn đần độn:
 
Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. (Tiểu Kinh Malunkya, Trung bộ kinh, Phẩm 63).

Những kẻ thượng mạn này đặt ra những câu hỏi ngoài mặt trông ngạo mạn nhưng trong tâm đang khả úy, ngay chính tự họ cũng không giải thích được, để cố tâm gài bẫy, cố tình chất vấn Như Lai. Họ đã tự chứng minh là họ có vấn đề tâm thần, lòng dạ họ đang phân vân, tâm hồn đầy lo âu, sợ hãi, vì vậy nếu ta không biết dùng đúng phương thuốc để chữa bệnh cho họ thì không những chả giúp ích gì cho họ được giải thoát khỏi vô minh mà còn lại làm cho họ đắm sâu thêm trong biển khổ đau, rất tai hại cho tâm trí đáng thương của họ.

Trong Quảng Luật, trước phần Phạm thiên thỉnh đức Thế Tôn thuyết pháp và cả Kinh A Hàm cũng có ghi: “Pháp sâu xa mà ta nói hôm nay khó hiểu và khó thấu rõ, khó nhận biết… dẫu ta có nói diệu pháp thì người cũng chẳng tin nhận, chẳng thể hành trì… Ta nay nên im lặng, hà tất phải thuyết pháp”.

Vì dù cho hiểu được pháp vi diệu của Như Lai là gì nhưng một người tu tập Phật giáo không chỉ đơn thuần nhìn vào sắc tướng cao cả của Như Lai mà chấp Như Lai, bởi vì thấy diện mục hoàn hảo của Như Lai chưa hẳn là kiến được bản lai Như Lai qua cái tâm phàm tục của mình. 

Đức Phật cũng có dặn rõ ràng: "Nếu người chấp, thấy sắc thân của ta cho là thấy được Phật, nghe tiếng nói pháp của ta cho là nghe được tiếng Phật, thì người đó đã đi lạc về đường tà, không bao giờ thấy được Phật". Đó là ý nghĩa của: “Thấy Phật giết Phật!”.

Điều này, có nghĩa thấy cái sắc thân có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp bên ngoài của Phật chưa phải là thấy được Phật [phải diệt nó đi]. Mà phải thấy "Phật tâm thanh tịnh" hay "pháp thân Phật"; thấy các pháp (tướng) đều là hư vọng (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng) tức là thấy được Như Lai (thật tướng các pháp).  Đó mới thật là thấy Phật (Tri kiến Phật!). "Nhất thế chư Pháp vô phi Phật pháp!", nghĩa là tất cả các pháp thế gian cũng đều là Phật pháp". Nếu mê thì pháp thế gian, còn ngộ là Phật pháp. 

Kiến Như Lai là cách nhìn vào bên trong chính mình, quán tự tại, tìm hiểu mình, nhân duyên nghiệp quả nào thúc đẩy mình lọt vào thế giới, cái bản năng nào đã thúc đẩy mình như thế nào đưa  đến cho mình những lo âu, khổ đau? Tri kiến Như Lai là cách duy nhất giúp mình phát triển trí tuệ, quét tan vô minh, đạt giác ngộ để hóa giải các nguyên nhân nghiệp quả ấy hầu giải thoát mình ra khỏi luân hồi tử sinh. Đó mới đích thị là tri kiến Phật.

Ngay cả đến bây giờ, tôi đoan quyết là có rất nhiều người vẫn còn ngộ nhận và không thông đạt được cái câu tuyên bố cao thâm khó hiểu trên này của đức Thế Tôn. 

Ngài Thái Hư Pháp Sư giảng: Sắc thân của Phật là hư vọng, mà tất cả các hình tướng, như thế giới chúng sinh v.v... cũng đều hư vọng, như hoa trong gương, như trăng duới nước, không có chân thật. Nếu người rõ thấu được các tướng đều hư vọng như vậy, tức là đã thấy được "pháp thân của Như Lai", tức là rõ thấu được "tướng chân thật của các pháp", cũng tức là "Trí huệ vô thượng" và cũng tức là "Kim Cang Bát Nhã Diệu Tâm". 

Tuy nhiên, "không nói Bát Nhã và không nghe Bát Nhã", như thế mới thật là "nói Bát Nhã và nghe Bát Nhã". Phật dạy: Nếu Như Lai có thành Phật, tất nhiên phải có chúng sinh chưa thành Phật, thế thì bốn tướng: ngã, nhân v.v... đua nhau sinh khởi. Nếu còn ngã, nhân v.v... thì không phải là Phật.  

Nếu Như Lai có nói pháp, tất nhiên phải có chúng sinh nghe pháp. Nếu còn có kẻ nói người nghe, tức nhiên còn nhân, ngã, bỉ, thứ. Nếu còn ngã, nhân thì không phải là thuyết Phật pháp. Cho nên, sau 49 năm giảng dạy Phật pháp, trong Kinh Langka, đức Thế Tôn trả lời: “Ta từ đêm kia đắc Tối Chánh Giác, cho đến đêm kia nhập Niết bàn, ở nơi khoảng giữa chẳng thuyết một chữ, cũng chẳng phải đã thuyết, chẳng phải sẽ thuyết”.  

Đây là thông điệp chính của kinh Lanka mà ngôn ngữ văn tự của 12 bộ khế kinh chỉ giúp cho chúng sinh: Khai (mở ra), Thị (chỉ cho thấy). Nếu muốn thật sự ngộ nhập vào chính pháp thì phải rời ngôn ngữ, văn tự mà khởi đầu tu chứng. Đây là bộ kinh mà Tổ Đạt Ma đã trao truyền cho Huệ Khả làm tâm ấn: “Ta có Lăng Già Kinh bốn quyển cũng dùng giao phó ông”. 

Thiền sư Suzuki viết trong Thiền luận, với câu nói bất hủ gán cho Tổ Đạt Ma: “Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Kiến tính thành Phật”. Đã diễn giải và khai thị ý kinh Lăng già cũng như các kinh điển khác. Giác ngộ rất khó tư nghị. Nói ra là đã sai rồi. Cho nên, nói an tâm kiến tính thành Phật chứ kỳ thật không thành cái gì hết. 

Tại sao tiền nhân thời đó nghe qua một lời giảng là bất chợt giác ngộ mà bây giờ chúng ta nghe lui nghe lại những chuyện thiền đời xưa, khen hay, nhưng như đàn gảy tai trâu không bùng ngộ?

Chẳng qua, càng văn minh, chúng sinh không những rất bất  đồng về thể chất mà ngay cả căn trí cũng quá bất đồng. Căn trí  bất đồng tỷ lệ thuận với thể chất bất đồng nhưng trí tuệ bất đồng tỷ lệ nghịch với bất đồng văn minh.

Thực tế mà nói thì ai trong nhân sinh không mắc phải tâm bệnh đáng thương này?

Để làm cho vấn đề phức tạp thêm, tôi xin đơn lược như vầy: Vì đức Thế Tôn tri kiến chúng sinh là ảo, không có thật. Cho nên, làm gì có người nghe pháp để mà giảng pháp? Không kẻ nghe pháp... không; không người giảng đạo... vô pháp?

Chúng sinh không có thật, đau khổ không có thật và ngay cả pháp cũng là huyễn. Không có cái gì chứng đắc. Không có sở trụ để trở lại (luân hồi) trong cái cõi “như không” này nữa.

Luận Đại Thừa Khởi Tín cũng là quan điểm của Đại thừa, đã nói:

Tất cả chúng sinh từ xưa nay vốn thường trụ trong Bồ đề Niết bàn, chẳng phải do tu mới có, chẳng phải do làm mới được, rốt ráo không có cái gì chứng đắc, cũng không có tướng gì để thấy”.

Nhưng vì những lời khẩn thiết tâm cầu của Phạm Thiên nên tâm tạo từ không ra có. Có người yêu cầu, có kẻ giảng pháp và sẽ có người nghe pháp.   

Âu đây cũng là cái kỳ duyên của 49 năm du thuyết Phật pháp của đức Phật và cũng là đại sự nhân duyên cho nhân loại trong cõi Ta bà.

Vạn pháp giai không

Tóm lại, theo ngu ý thì nó như vầy: Ngài ngộ ra chúng sinh không có thật. Chúng sinh và đặc biệt nhất là chúng nhân sinh chỉ là đám bụi “vi trùng chúng sinh ảo” như Lân Hư Trần vô thường trong nhiều triệu phần của sát na ở trong vũ trụ ảo còn nói chi đến chuyện cứu độ, đau khổ, giải thoát, Niết bàn cho “chúng ký sinh trùng”, gian ác nhất từ cổ chí kim, vô tích sự nhất trên thế giới này?  

Hơn nữa, vì tất cả từ tâm tạo; “không có một vật” thì làm gì có “vật người cứu độ” và “vật kẻ được cứu độ” để mà thuyết pháp và nghe pháp... huyễn?

Vì như đã đề cập ở trên, giác ngộ cũng chỉ là ảo tưởng, là vọng tâm, hư cấu, không có thật. Trong cõi tương đối, có vô minh mới có giác ngộ, còn trong bản thể tuyệt đối của Niết bàn (nhất như) thì không có giác ngộ (bất nhị), cũng không có vô minh (nhị nguyên). Mà ngay chính cả ngóng mộng Niết bàn cũng điên đảo vọng tưởng.

Như Lục Tổ Huệ Năng mở đầu trong kinh Bảo Đàn:

Huệ Năng bèn ở dưới cây bồ đề khai pháp môn Đông Sơn. Huệ Năng được pháp ở Đông Sơn, chịu tất cả những điều cay đắng, mạng giống như sợi chỉ mành. Ngày nay được cùng với sử quân, quan liêu, tăng ni, đạo tục đồng ở trong hội này đâu không phải là duyên của nhiều kiếp, cũng là ở trong đời quá khứ cúng dường chư Phật, đồng gieo trồng căn lành mới nghe cái nhân được pháp môn đốn giáo này. Giáo ấy là các vị Thánh.

Trước đã truyền, không phải tự trí Huệ Năng được, mong những người nghe các vị Thánh trước dạy, mỗi người khiến cho tâm được thanh tịnh, nghe rồi mỗi người tự trừ nghi, như những vị Thánh đời trước không khác”.

Lục Tổ cũng dạy về bố thí pháp: Pháp môn đốn giáo phải truyền trao, chứ không được giấu kín chính pháp. Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác thì không được truyền trao, cứu kính vô ích, sợ người ngu không hiểu, chê bai pháp môn này rồi trăm kiếp ngàn đời đoạn chủng tính Phật.

Những bài triết luận này được nghiên cứu và viết ra qua một lăng kính, suy luận và hành văn cận đại với mục đích giúp cho giới trẻ hiện đại có một chút kiến thức luận của triết lý đạo Phật chứ không thể giúp nhân sinh phát triển trí tuệ, giác ngộ giải thoát mà không tự thân mình trì chí tu hành đạo vô thượng của đức Phật.

Lục Tổ bảo: “Diệu lý của chư Phật chẳng có quan hệ đến văn tự [bác học]”.

Hơn nữa, bài pháp luận sẽ “như không” nếu “như không” có người đọc? Nhưng đọc mà thấy “như không” hay “không như vậy” thì tùy thuộc vào căn trí, nhân duyên của mỗi cá nhân.  

Trừ những bậc cao tăng, cao ni và những đấng thiện tri thức đã tu hành có trí tuệ cao thì ngay cả kẻ đọc lẫn người viết cũng không lọt ra khỏi cái càn khôn quyện, “vòng Như Không, Không Như vòng” này.

Khác với “Tăng tụng kinh”, Pháp Đạt trong Bảo Đàn Kinh, tôi chỉ nghiên cứu triết lý, học lóm Phật pháp, không bái sư, không nghi kinh, tâm chẳng cầu đạt, pháp luận chả mong tinh thâm, không muốn viết nhưng bị lọt vào duyên viết nên phải nghiên cứu kinh?

Tôi chỉ mong học được cái công phu bí kíp cuối cùng của Lục Tổ, một ngày nào đó chợt bảo gia đình rằng:“Ôn vọt nghe!”. Rồi ngộ chẫu, tiêu diêu không bờ không bến đẹp như không.

Chết/Sống trong vô úy không phải là bất úy nhưng mà sống/chết an nhiên tự tại thanh thản với khả úy. Kiến khả úy tử/sinh giai không!

Sống/chết không lo sợ không phải là chạy trốn lo lắng hay diệt tận sợ hãi, vì trên thực tế, sợ hãi và lo lắng như là siêu vi khuẩn cúm (flu virus,) càng ngày càng mạnh không thuốc nào giết/ngừa được mà chỉ có thể làm cho nó yếu đi/trong tầm kiểm soát, để không ảnh hưởng đến những bộ phận khác của cơ thể/không tổn thương đến sức khỏe nếu bị kéo dài mà không được chữa trị.

Thí dụ điển hình trên cho thấy, chúng ta sợ hãi cái sợ hãi không phải vì chúng ta hãi sợ, sợ hãi mà vì chúng ta lo sợ cái vô minh.  Cái mà chúng ta không biết để lường, cho nên lo lắng không an. Chúng ta thấp thỏm vì biết nó đã đến, vô đơn chí, không ước hẹn trước để kịp chuẩn bị, đã ở lại tàn phá gây biết bao khổ đau, rồi bỗng cuốn đi không hẹn ngày trở lại.  

Nó đến như thiên tai ngoài khả năng kiểm soát của con người. Chúng ta biết chắc chắn nó sẽ trở lại không báo trước, đi ở tùy ý.  Nó là nguyên nhân của đau, bệnh, lão, tử? Nó làm cho tâm ta lo lắng bất an.

Sống/chết trong bất úy là chết/sống an nhiên tự tại thanh thản với khả úy/thử thách. Như cuốn theo chiều gió hay trôi nổi theo dòng đời. Nếu không đủ trí dũng để lèo lái, có lo lắng thì cũng cố gắng mở to mắt ra, bình tĩnh mà run để thưởng thức cái sợ hãi khoái lạc đó.

Phạm Công Thiện viết: Chúng ta chỉ có thể hiểu thế nào là “Tự lực” và thế nào là “Tha lực” khi chúng ta hiểu được ý nghĩa của Ý lực” (Cetanà) và vai trò của “Ý lực” đối với Tâm (Citta). Tâm hay Thức chỉ tác động vận hành khi nào có sự tác động vận hành của “Cetanà” (Ý lực, Tâm lực). Chính Ý lực quyết định tất cả nghiệp thức và chính ðức Phật cũng từng nhấn mạnh rằng Cetanà chính là Nghiệp: “Hỡi các tỳ kheo, Ý lực là cái ta gọi là Nghiệp”, “Cetanaham bhikkhave kammam vadami” (Anguttara Nikàya, VI, 63).

Nguyệt Xứng (Chandrakìrti) khi luận về Trung luận của Long Thọ, đã nói rằng cái tướng đặc thù của Cetanà là việc tác động vận hành của sự kiến trúc ý niệm tâm thức (cittàbhisamskàramanas-karmalaksanà cetanà ca iti) (Prasannapadà, tr. 311).

Hình như ta không làm chủ được tâm thức mà ngược lại, tâm ý quyết định tất cả? Tâm cho ta mượn đỡ trí tuệ, chỉ cho ta kiến thức, dạy cho ta kinh nghiệm để thực hiện cái mà tâm muốn (ý tâm).  

Cái não và nhục thân của cá nhân ngã này và ngay cả tất cả của chúng sinh chẳng qua chỉ là công cụ sáng tạo của tâm?

Sinh - sống - tử của tất cả chúng sinh không có ảnh hưởng hay nghĩa lý gì cả đối với tâm.

“Tất cả do tâm tạo” hình như có diệu ý như vậy?

Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát,
Không đúng không sai tự tại tâm.

Trần Nhân Tông

Như đã nhắc đi nhắc lại, tôi, cái ngã này, không biết một chữ, không hiểu một chữ, không viết một chữ và nhất là không bao giờ tình nguyện hay muốn viết một chữ trong những bài pháp luận từ trước đến bây giờ.

Nhưng mà ngộ thật! Nói đi nói lại, diễn cao giảng thấp, lìa kinh đa tự bất đồng ma thuyết rồi thì là cũng phải vòng trở lại y kinh giảng nghĩa tam thế Phật không oan mà y chang ý kinh như vậy.  

Cho nên, cái kiến thức có được và trí tuệ nếu có này không thể nào vượt qua khỏi tâm pháp cao thâm. Như Tôn Ngộ Không không thể cân đẩu vân thoát khỏi lòng bàn tay của Phật.

Tóm lại, đạo Pháp ấy là các vị thiện tri thức, tổ, Bồ Tát, Phật trước đã truyền, không phải tự trí tuệ và kiến thức của người viết tự nhiên có rồi viết ra được.

Tôi xin mượn bài thơ hát nói “Chữ tình” của Nguyễn Công Trứ để tạo ra bài thơ “Tâm lòng”:

Tâm lòng


Tâm lòng bản lai chi chi?
Dẫu chi chi cũng chi chi tâm lòng.
Bản tâm che khuất mặt lòng,
Vô minh chẳng biết bởi lòng nhị tâm.

Nói:

Vọng tâm lòng khổ,
Tâm lọt lòng rồi khó thoát ra.

Khéo quấy lòng một cái tâm ma,
Trói lòng kẻ thiền tâm biết mấy!
Đánh thức tâm lòng nơi mộ dậy,
Lại chạnh lòng lúc ngủ tâm đi.

Tiếu ngạo đau lòng khổ tâm 
Tâm chẳng động, lòng không còn phân biệt.
Vô tâm lòng khai trí tuệ ngộ không,
Lòng bất tham, tâm không sân si.

Tâm lòng diện mục chi chi?

Nguyễn Huy Trứ

Theo kinh điển Phật giáo Đại thừa, chúng sinh đã sẵn có "Trí huệ Bát Nhã" hay "Trí huệ Phật", thì thế nào chúng ta cũng sẽ trở thành Phật. Hiểu được tâm là cái chi chi, chúng ta sẽ đạt được giác ngộ, tri kiến Phật, thành Phật.

Lý Tiểu Long (Bruce Lee) đã nói:

Nếu tôi nói tôi giỏi. Họ cho tôi là kiêu ngạo. Nhưng nếu tôi nói tôi dở thì họ biết tôi nói xạo.

If I tell you I'm good, probably you will say I'm boasting. But if I tell you I'm not good, you'll know I'm lying” - Bruce Lee.

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Nguyễn Du

Chữ tâm kia” vô thỉ vô chung; không sinh không diệt; không có thời gian để đến hay đi; không có không gian để sở, để trụ. Cho nên, tâm Phật không có đã (quá khứ) đang (hiện tại) và sẽ (tương lai). 

Tóm lại, đạo Phật có độc một chữ Tâm. Nắm vững được chìa khóa quan trọng này rồi, người tu học Phật có thể mở được cửa không cửa, vô môn quan.

Nương theo giáo pháp Phật đà
Chữ Tâm Phật dạy giúp ta độ đời.
Đến bờ giác ngộ thảnh thơi
Thoát ly phiền não cuộc đời an vui.

Như Lai không giác ngộ giác ngộ!

Tôi chế biến một tí từ câu đối đáp nổi danh nhưng không biết nguồn gốc từ kinh điển nào? Có người hỏi đức Phật, Ngài đạt được gì từ giác ngộ? Đức Thế Tôn trả lời: “Không!” 

Tuy nhiên” Ngài giải thích tiếp: “Để Như Lai cho biết Như Lai đã mất những gì: tham lam, sân hận, si muội, bồn chồn, đau khổ, bất an, sợ hãi già và chết.  

Tiếng Việt chỉ có một chữ “Không” thay vì phong phú như những ngôn ngữ khác trong việc dịch chữ “emptiness, hư không” nhưng trong trường hợp này chữ Không độc nhất vô nhị này thật viên diệu qua tiếng Việt ở đây.

Chúng ta không thể mất cái mình không có cũng như có cái mình đang có.

Tôi muốn làm sáng tỏ lại ý kinh thâm diệu: 

“Như Lai không giác ngộ giác ngộ!”

Danh từ “Như Lai” của câu ở trên, tôi cố tình, chủ tâm, dụng ý, diễn nghĩa là vô ngã, không có cái tôi tự tôn, “không đi, không đến”, khác với nghĩa phổ thông, thường thức “người đến đi như vậy!”. Như Lai, vô ngã không phải là người. Cái ngã cũng không phải là người nhưng bị con người vô minh nhân cách hóa.

“Không” ở câu trên vừa có nghĩa là trợ động từ không (not), vừa có nghĩa “không giác ngộ không”. Nhưng nghĩa chính là không không gian lẫn không thời gian, để đến đi, vô thủy vô chung.  

Giác ngộ là động từ giác ngộ nhưng giác ngộ không động, chỉ như như không không. Hai chữ giác ngộ cuối cùng là tính từ, còn có ngụ ý là tính từ (tánh từ), tự tính của tỉnh thức, tĩnh tâm, lẫn tịnh lòng.

Nếu vẫn còn thắc mắc,
Như Lai có giác ngộ không?
Tôi im lặng!
Ohm!

I want to rewrite this famous proverbial quote, Buddha was asked: "What have you gained from enlightenment?

He replied: "Nothing!”    

However!” - Buddha eleborated: "Let me tell you what I lost: Greed, Anger, Ignorance, Anxiety, Depression, Insecurity, Fear of Old age and Death".

To me, “Nothing!” was already covered what Buddha elaborated. Nothing means Emptiness, Nothingness! 
 
You can gain something but couldn’t gain or lost nothing.  Nothing to lose, nothing to gain. You must have gained something first in order to lose something. You can’t lose something you never have had in the first place.

In fact, 

Gain/lose, or have/haven’t, or nothing/something is dualism.

You can neither gain nothingness nor lose emptiness but enligtened it. 
 
That is the philosophy of non-dualism in Buddhism.

The devoted truth is,
 
Buddha never enlightened enlightened!

(adverb, never [at no time in the past or future; on no occasion; not ever,] verb, enlightened is past tense, enlightened is adjective).

Để kết thúc, tôi mạo muội tóm lược “từ 49 ngày tới 49 năm lịch sử của Như Lai” qua bài thơ phóng tác dưới đây nhưng nhường lại phần dịch thuật cho các bậc thiện tri thức: 

I am who I am not

I am sentient; I am mindful.
I am a thousand lives on the worlds.

I am a cause and effect; I am interdependent,
I am conscious; I am awakened,

I am wisdom; I am awareness,
I am unattached; I am suffering free.

I am the way; I am Dharma.

When the Morning Star arises in the morning's hush.
I am the swift uplifting rush, I am enlightened,

I am the truth; I am the Buddha.

I am the universes; I am who I am,
But I think not; therefore, I am not.

Lê Huy Trứ 

TIN, BÀI LIÊN QUAN:


Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Như Lai không giác ngộ Giác Ngộ (Hết)

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajnaparamitahridaya Sutra) đã nêu rõ yếu chỉ của Phật giáo: ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, sinh lão bệnh tử, khổ tập diệt đạo, niết bàn, tái sinh, không tái sinh, ngộ hay mê, phạm trù nhị nguyên phân biệt đầy mâu thuẫn như sắc không, thiện ác, xấu tốt, hữu tình, vô tình, vô lượng vật tăng giảm trong vũ trụ, v.v… chỉ là ảo tưởng, tất cả đều không có thật do nhất niệm vô minh tưởng tượng mà ra. 
Như Lai không giác ngộ Giác Ngộ (Hết) Như Lai không giác ngộ Giác Ngộ (Hết)
710 700
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajnaparamitahridaya Sutra) đã nêu rõ yếu chỉ của Phật giáo: ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, sinh lão bệnh tử, khổ tập diệt đạo, niết bàn, tái sinh, không tái sinh, ngộ hay mê, phạm trù nhị nguyên phân biệt đầy mâu thuẫn như sắc không, thiện ác, xấu tốt, hữu tình, vô tình, vô lượng vật tăng giảm trong vũ trụ, v.v… chỉ là ảo tưởng, tất cả đều không có thật do nhất niệm vô minh tưởng tượng mà ra.