GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 15:27 20/03/2018 (GMT+7)

Vai trò cư sĩ với Phật giáo phát triển, hội nhập hiện nay (Hết)

(PGVN)

Trong xu thế Phật giáo phát triển và hội nhập như hiện nay, vai trò của người cư sĩ đối với việc xiển dương Phật pháp là điều cực kỳ cần thiết. Bởi họ cũng là những “pháp sư”phát huy tác dụng bên ngoài chùa viện để đem Phật pháp đến mọi người, mọi loài với lợi thế riêng của mình. 

Cư sĩ Phật giáo với tinh thần hội nhập hiện nay

Phật giáo hiện nay không còn là “sở hữu” riêng của các nước châu Á, mà giáo lý đạo Phật đã ảnh hưởng tới nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt đạo Phật hiện đã bén rễ và ăn sâu trong đời sống văn hóa ở các nước Âu Mỹ. Giáo lý đạo Phật hiện đang là môn học được ưa chuộng trong các trường Đại học Mỹ, thu hút sinh viên ngày càng đông. Đây là thực tế khách quan khiến nhiều người trước kia cho rằng: Tư duy của người Tây phương là duy lý, trong khi đó giáo lý đạo Phật thuộc Duy thức “mềm”nên việc tiếp cận giáo lý đạo Phật là rất khó khăn (nếu không muốn nói là không thể).

Từ thực tế kiểm chứng cho thấy, giáo lý đạo Phật vi diệu khế lý, khế cơ với tất cả mọi người. Qua tìm hiểu nghiên cứu về vấn đề này, Giáo sư Cao Huy Thuần, trong bài Thuyết trình về đề tài: “Tại sao Phật giáo ảnh hưởng ở phương Tây”, giáo sư phân tích và kiến giải như sau: “Tây phương biết đến Phật giáo từ hồi thế kỷ 19. Nhưng hồi đó chỉ mới một số ít học giả và triết gia khám phá ra sức thu hút của một tư tưởng đến từ Phương Đông mà người ta không biết nên gọi là tôn giáo hay triết lý. Âm thầm, lặng lẽ, Phật giáo lan ra xã hội phát triển khắp nơi ở châu Âu từ giữa thế kỷ 19 cùng với sự phát triển của trào lưu tiến hóa mà ngày nay ta gọi là Thời hiện đại”.
 Hình mang tính minh họa. Ảnh: Thường Nguyên
Âm thầm như thế cho đến đầu năm 60 của thế kỷ 20 thì Phật giáo bỗng được tiếp nhận rộn ràng trong giới trẻ khi giới dậy lên phong trào văn hóa phản kháng (Contre - Culture) chống lại văn hóa tôn sùng kỹ thuật, vật chất và tiền bạc. Giới trẻ khao khát một đời sống tâm linh mới giúp họ giải quyết những vấn đề tâm lý, hiện sinh và họ nghĩ đã tìm được nơi Phật giáo. Và nhiều trí thức trẻ tìm đến Tây Tạng như tìm đến miền đất hứa. Nhanh chóng trong vòng hai mươi năm, tu viện và thiền viện mọc lên hàng trăm ngôi trên khắp Âu Mỹ. Giới trẻ học thức, và trung lưu gặp niềm hạnh phúc mới mà họ thực chứng được bằng kinh nghiệm tu học bản thân trong các thiền đường. Đến những năm 90 thì báo chí, truyền thông rộ lên cao trào tin tức, bình luận, phóng sự, hình ảnh đầy cảm tình với Phật giáo. Cùng lúc, HollyWood  nồng nhiệt đưa lên màn ảnh phim truyện về cuộc đời của Đức Phật, về ngài Đạt Lat Lạt Ma, về Tây Tạng, và nhiều ngôi sao màn bạc, nghệ sĩ danh tiếng trở thành Phật tử, khiến dư luận quần chúng càng có cảm tình với Phật giáo. Bây giờ thì Phật giáo đã phát triển trong xã hội ở Âu Mỹ, và họ đang mở lòng tiếp nhận một tư tưởng, một tôn giáo mà họ cho là rất trẻ và rất hiện đại.

Là Việt kiều, Giáo sư Thuần từ Cộng hòa Pháp về tham dự Tuần lễ văn hóa Phật giáo năm 2012 tại Nghệ An. Do nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc nền văn hóa Tây phương cũng như giáo lý đạo Phật, những điều nhận xét nêu trên của giáo sư Thuần theo tôi là điều nhận định khá sâu sắc, chân thực và bổ ích, khi đề cập về vấn đề người Tây phương tiếp cận như thế nào đối với Phật giáo.

Giáo lý đạo Phật ra đời vì một đại nhân duyên, nhiều khi lòng phàm chúng ta không thể hiểu hết được. Song, thực tế chúng ta vẫn phải cần đến sự nỗ lực để truyền bá giáo lý thâm hậu và vi diệu này đến với tất cả nhân sinh và muôn loài. Bởi đó là bản hoài độ sinh của các chư Phật và Bồ tát mà chúng ta cần phải hồi hướng.

Như trên đã đề cập, tu hành đạo Phật có hai giới: Xuất gia và tại gia. Giới xuất gia thì ở ngôi nhà Như Lai thanh tịnh (dễ tu); giới tại gia còn ở nhà thế tục vướng nhiều gia duyên. Nhưng trong nền văn học Phật giáo có vô số trường hợp nói đến giới Cư sĩ tại gia (Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di) sống một cuộc sống bình thường, nhưng họ có thể thực hành lời dạy của đức Phật trong đời sống thường nhật của gia đình một cách thành công và kết quả là họ chứng đắc được sự an lạc, niết bàn. Để chứng minh điều này, ta hãy nghe chàng tu sĩ Vacchagotta, một lần chất vấn thẳng với đức Phật rằng, liệu có người cư sĩ tại gia thực hành giáo pháp của Ngài một cách thành công và chứng đắc những trạng thái tâm cao thượng chăng. Đức Phật trả lời một cách quả quyết rằng: “Không phải chỉ có một, hoặc hai mà có nhiều người hơn thế nữa là cư sĩ sống tại gia thực hành lời dạy của Ngài thành công và chứng đắc những trạng thái tâm cao thượng đó là một thực tế”. Kinh Thiện Sinh trong Trường A Hàm cho thấy đức Phật rất tôn trọng cuộc sống của cư sĩ tại gia, bởi các mối quan hệ gia đình và xã hội của họ.

Phật giáo rất tán thán người xuất gia tu Phật, Ưu-Bà-Tắc Giới Kinh có nêu: “Bồ tát có phân làm hai là xuất gia và tại gia. Hàng xuất gia tu thanh tịnh sáu Ba La Mật không khó, hàng tại gia thì bị đa ác nhân duyên đeo bám”. Vì thế nói Cư sĩ Phật giáo mới thực sự là đáng quý.

Kinh Kim Cang cũng nêu: “Phật pháp bình đẳng không có cao thấp”, vì thế không cứ xuất gia hay tại gia đều buộc phải y pháp tu hành mới là cứu cánh chân thật và ngược lại.

Trên thực tế, người xuất gia tu hành sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi thực hiện giáo lý đức Phật. Nhưng một số khác lại cảm thấy sự ẩn dật, tránh né như thế nếu người không có bản lĩnh, trí tuệ tinh tấn tu hành thì kết quả cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Ta hãy nghe Ngài Xá Lợi Phất, một đệ tử lớn của đức Thế Tôn kiến giải về điều này: “Một người có thể sống trong rừng, chú tâm vào việc thực hành những hạnh khổ hạnh, nhưng trong tâm vẫn chứa đầy tư tưởng bất tịnh và ô nhiễm, cấu uế; trong khi đó một người khác có thể trú tại một ngôi làng hay nơi thành thị, không thực hành hạnh khổ hạnh, song tâm của họ có được sự thanh tịnh và không ô nhiễm, cấu uế. Trong hai loại người này, Xá Lợi Phất nói, người sống một cuộc sống thanh tịnh ở làng mạc hay thành thị rõ ràng cao thượng hơn và thuyết phục hơn người sống ở nơi núi rừng”.

Thực tế, những điều nêu trên giúp chúng ta lần lần thay đổi nếp nghĩ từ lâu của không ít người vẫn cho rằng, Cư sĩ bổn phận là bố thí, cúng dường và trong khi tu hành không cần phải tham cứu  học Phật nhiều như người xuất gia.
 
Cư sĩ góp phần truyền tải giáo lý đạo Phật đến muôn nơi. Ảnh: Thường Nguyên
Trong xu thế Phật giáo phát triển và hội nhập như hiện nay, vai trò của người cư sĩ đối với việc xiển dương Phật pháp là điều cực kỳ cần thiết. Bởi họ cũng là những “pháp sư”phát huy tác dụng bên ngoài chùa viện để đem Phật pháp đến mọi người, mọi loài với lợi thế riêng của mình. Phát huy lợi thế này, các tổ chức Giáo hội từ trên xuống dưới cần phải quan tâm đến việc tu tập và bồi dưỡng giáo lý chuyên sâu cho họ. Theo đó người Cư sĩ cũng phải dành nhiều thời gian cho việc học tập, nghiên cứu giáo lý thậm thâm vi diệu của đạo Phật. Có như vậy, mới liễu ngộ chân lý huyền vi của Phật pháp. Về điều này, Phật pháp cũng như các Tổ thầy đã nói: “Cư sĩ là người tu hành tại gia. Hàng ngày giữ giới và học thâm sâu kinh điển, nhất tâm hoằng dương Phật pháp thì gọi là Pháp sư cư sĩ”.

Chúng ta ngày nay, có nhân duyên lớn gặp được chính pháp, học hiểu và tu hành có kết quả nên tích cực truyền bá giáo lý của đức Phật để người khác cũng được lợi lạc, để  Phật pháp mãi mãi trường tồn. Theo dấu chân Phật và Tổ thầy dạy, dù là tu hành xuất gia hay tại gia, tùy khả năng tu học và hoàn cảnh mình đang sống, chúng ta có thể bằng khẩu giáo hay thân giáo góp phần làm tốt đời đẹp đạo. Tuy nhiên, việc truyền bá cần theo tinh thần khế lý khế cơ hay bất biến tùy duyên. Khế lý là phù hợp với chân lý bất biến của nhân sinh vũ trụ, khế cơ là phù hợp với căn cơ và thời đại mà tùy nghi sử dụng phương tiện, để ai cũng có thể thấm nhuần giáo lý và tu tiến. Người truyền bá Phật pháp lúc nào cũng linh động nhưng không bao giờ nói sai chân lý. 

Nhưng ngược lại, nếu nói đúng với chân lý mà không thích hợp với thính chúng thì cũng khó thuyết phục, khó đưa chính pháp thấm sâu vào lòng người, khó giúp đương sự tu hành có kết quả. Ví dụ, người Đông phương thường sống với nội tâm, nhịp sống chậm rãi nên thường ưa thích những pháp môn thâm sâu, có căn bản hoặc tuần tự từ thấp đến cao. Người Tây phương lại khác, quen với nhịp điệu hối hả, mong có kết quả nhanh chóng nên thích hợp với phương pháp làm giảm thiểu căng thẳng thần kinh hoặc giúp an lạc ngay trong hiện tại. Những người sơ cơ chưa hiểu sâu giáo lý thường ưa nghe về Tội phúc, Nhân quả, Nghiệp báo… Người có trình độ nghiên cứu cao hơn lại rất tâm đắc về những đề tài Vô thường, Vô ngã, Duyên sinh… Đặc biệt, đối với pPhật tử vừa uyên thâm giáo lý vừa có công phu tu hành chuyên sâu, đây là mảnh đất Tâm trù phú để gieo chủng tử vô tận, là những người có thể gánh vác trọng trách tự lợi lợi tha, tự giác giác tha trong xu thế Phật giáo phát triển hội nhập hiện nay.

Thay lời kết

Lộ trình tu hành Đạo Phật xa vời vợi, có khi cả đời đau đáu tìm cầu nhưng vẫn chưa chạm được vào đường linh Phật pháp. Cư sĩ tu Phật tại gia với muôn vàn chướng  duyên đeo bám. Nhưng mục đích cuối cùng của người học Phật là lấy tu hành làm thực tiễn Giác ngộ-Giải thoát. Ngoài tín-nguyện-hạnh ra, cư sĩ tu Phật cần phải có văn-tư-tu để thâm nhập kinh tạng, liễu ngộ Phật pháp. Giáo lý đạo Phật là cả một gia tài đồ sộ gồm: Kinh-Luật-Luận. 
 Hình mang tính minh họa. Nguồn: Internet
Kinh là những lời dạy của đức Phật thuyết giảng hoặc do các đệ tử của Ngài tuyên thuyết và được Ngài ấn chứng. Luật là những cấm giới do đức Phật chế ra để ngăn dứt điều ác, phát triển nghiệp lành. Thời kỳ đức Phật còn tại thế chưa có chữ viết chỉ truyền khẩu, nên dần dần không thể không có những điều sai lạc. Đến nay, một số giáo điều do người sau đặt ra nhưng lại ngụy tạo lời Phật dạy; hoặc ngược lại, có người chủ trương sai lầm cho rằng kinh điển Đại thừa không phải do Phật thuyết giảng. Điều này làm nhiều Phật tử hoang mang không biết tin vào đâu, thậm chí rơi vào tà kiến, mê tín. Vì thế nhà Phật có một thước đo để phân định pháp nào là đúng chính pháp. Thước đo ấy gọi là Pháp ấn.

“Ấn” nghĩa đen là con dấu, “Pháp ấn” là con dấu của đức Phật thuyết ra. Với trí tuệ và sự xuất thế, đức Phật đã khám phá ra chân lý tuyệt đối chi phối cả vũ trụ vạn hữu cùng những phương pháp đoạn tận phiền não, thoát ly sinh tử. Trong suốt cuộc đời hoằng hóa độ sinh, Ngài đều chỉ dạy cho đệ tử theo tinh thần này. Và do vậy, nếu có một lý thuyết nào không mang được ý nghĩa như thế (mà khải thị Thần Tạo Luận - thần thánh tạo ra thế giới) thì đó không phải là lời dạy của đức Phật.

Vậy Pháp ấn thực chứng khẳng định điều gì?

Pháp ấn gồm ba phân loại: Tứ pháp ấn, Tam pháp ấn và Nhất pháp ấn.

- Tứ pháp ấn:  1- Vô thường, 2-  Khổ,  3- Không, 4- Vô ngã.

- Tam pháp ấn: 1- Chư hành vô thường, 2- Chư pháp vô ngã, 3- Niết bàn tịch tịnh.

- Nhất pháp ấn: Tức là khi thấy trình độ tâm linh của chư đệ tử đã có thể lĩnh hội chân lý tối thượng, đức Phật mới thuyết giảng Nhất tâm chân như, thuộc Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế, chỉ rõ con người chân thật thường hằng ở mọi chúng sinh. Con người chân thật ấy không có hình dáng nên không hề sinh diệt, không có tên nên được đặt rất nhiều tên: Chân như, Phật tính, Pháp thân, Bản lai diện mục…Trở về hằng sống với con người chân thật là mục đích cuối cùng của người tu (dù là xuất gia hay tại gia).

Như chúng ta đã thấy, trong kinh điển giáo lý đạo Phật, không có lời dạy nào của đức Phật đề cập đến việc giải trừ sao hạn, coi hướng, coi quẻ… cùng những hình thức cúng tế thuộc tín ngưỡng dân gian thần quyền. Mặt khác, giáo lý nhà Phật cũng không phải là một nền Triết học, bởi triết học nằm trong phạm vi của Hữu sư trí (trí tuệ này có được nhờ học hỏi thu lượm từ bên ngoài, từ người khác). Trái lại, Phật pháp được tuyên thuyết bằng Vô sư trí của Bậc Giác ngộ, tức trí tuệ phát sinh từ thiền định, khi tâm hoàn toàn vắng bặt mọi vọng tưởng phân biệt điên đảo. Đức Phật không nói những gì Ngài suy đoán, mà chỉ nói những gì Ngài thấy rõ bằng Tuệ nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn. Chính vì thế giáo lý đạo Phật phản ánh sự thật luôn luôn nhất quán không thay đổi và tương thích với khoa học. Bởi chân lý siêu việt của giáo lý đạo Phật bao trùm cả không gian và thời gian. Đó là nhận xét của các nhà khoa học hàng đầu thế giới khi tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng giáo lý đạo Phật thành công trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình ở thế kỷ thứ 20 và thập niên đầu của thế kỷ này.

Cư sĩ Nguyễn Đức Sinh
-------------------------------
Tài liệu tham khảo:

- Phật học phổ thông (Do thầy Thích Thông Huệ- Biên tập theo cuốn Phật học phổ thông khóa 1 của cố HT Thích Thiện Hoa-và Tám quyển sách quý cùng tác giả-Do Nxb-Tp.HCM ấn hành năm 1987).
- Bài: Con người chết đi về đâu?, tác giá Cư sĩ Quảng Tịnh (Báo Điện tử- phatgiao.org.vn, năm 2016).
- Bài: Khái lược của cư sĩ Phật giáo, tác giả Thích Giải Hiền -  HVPG-Hà Nội (PGVN-phatgiao.org.vn tháng 01/2018).

TIN, BÀI LIÊN QUAN:

Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Vai trò cư sĩ với Phật giáo phát triển, hội nhập hiện nay (Hết)

Trong xu thế Phật giáo phát triển và hội nhập như hiện nay, vai trò của người cư sĩ đối với việc xiển dương Phật pháp là điều cực kỳ cần thiết. Bởi họ cũng là những “pháp sư”phát huy tác dụng bên ngoài chùa viện để đem Phật pháp đến mọi người, mọi loài với lợi thế riêng của mình. 
Vai trò cư sĩ với Phật giáo phát triển, hội nhập hiện nay (Hết) Vai trò cư sĩ với Phật giáo phát triển, hội nhập hiện nay (Hết)
710 700
Trong xu thế Phật giáo phát triển và hội nhập như hiện nay, vai trò của người cư sĩ đối với việc xiển dương Phật pháp là điều cực kỳ cần thiết. Bởi họ cũng là những “pháp sư”phát huy tác dụng bên ngoài chùa viện để đem Phật pháp đến mọi người, mọi loài với lợi thế riêng của mình.