GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 10:15 13/10/2015 (GMT+7)

Hải Dương: Chùa Huề Trì xuống cấp trầm trọng, không có sư trụ trì

(PGVN)

Chùa Huề Trì là di tích Kiến trúc - Nghệ thuật đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng năm 2011. Công trình tôn giáo này nằm trong quần thể khu di tích đình Huề Trì (An Phụ - Kinh Môn). 

Đầu Công nguyên, Huề Trì thuộc vùng Hải Đông, vào thế kỷ XVIII, thuộc tổng Cổ Biện (Giáp Sơn - Kinh Môn). Đây từng là trị sở của phủ Kinh Môn ở thế kỷ XIX, cai quản 7 huyện (xưa gọi là thất quận) đó là: Giáp Sơn (còn có tên là Hiệp Sơn), Đông Triều, Kim Thành, Thủy Đường (Thủy Nguyên), An Dương, An Lão và Nghi Dương. Đến năm 1898 mới chuyển về An Lưu Thượng, phủ Kinh Môn, nay là Thị trấn Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Độc đáo kiến trúc nghệ thuật

Xã An Phụ là miền đất màu mỡ, địa hình vừa có núi, có sông, lại vừa có ruộng đồng tươi tốt, khí hậu ôn hòa do thời tiết của vùng núi Đông Bắc và vùng biển Duyên hải Bắc bộ mang lại. Trên mảnh đất này còn lưu giữ hàng chục di tích lịch sử  văn hóa, một trong những di tích có giá trị nghệ thuật là chùa Huề Trì.

Chùa Huề Trì có tên tự là Duyên Tràng Tự, là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của thôn Huề trì, xã An Phụ. Chùa thờ Phật theo thiền phái Đại Thừa, một thiền phái phổ biến tại các ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam. Di tích chùa Huề Trì không chỉ là nơi thờ Phật, những năm gần đây, nhân dân địa phương còn tôn thờ Thiện Nhân, Thiện Khánh, hai nữ tướng của Hai Bà Trưng.

Chùa Huề Trì là công trình kiến trúc có quy mô lớn, có lịch sử lâu đời và là nơi sinh hoạt tôn giáo của các tầng lớp nhân dân từ xưa tới nay. Căn cứ vào hệ thống bia ký; căn cứ vào hệ thống câu đối, đại tự, hệ thống cổ vật và các công trình kiến trúc hiện còn, chúng tôi thấy rằng: Chùa Huề Trì đã được nhân dân địa phương khởi dựng từ khá sớm, được trùng tu, tu sửa vào các năm Tự Đức năm thứ 23 (1870), Hàm Nghi nguyên niên (1885), Thành Thái nguyên niên (1889), Khải Định Ất Sửu (1925); Những năm gần đây, nhân dân địa phương lại tiếp tục tu tôn tạo.

Trước đây, chùa có quy mô kiến trúc kiểu “nội Công ngoại Quốc”, bao gồm 7 gian tiền đường, 1 gian cổ dài, 2 gian ống muống, 3 gian hậu cung, hai dãy hành lang phía Nam (7 gian) và phía Bắc (12 gian). Khu di tích có khá nhiều công trình phụ trợ như nhà tổ, nhà tăng, sân, tam quan chồng diêm cổ các, khu nhà bếp, khu vườn tháp và một số công trình khác. Đặc biệt, khu di tích có cảnh quan đẹp, có nhiều cây cổ thụ, cảnh chùa tịch mịch, uy nghiêm. Nhưng trải qua chiến tranh và thiên nhiên tàn phá, nhiều công trình không còn. Hiện nay, các công trình cũ cơ bản chỉ còn kiến trúc kiểu chữ Công (I), bao gồm 7 gian tiền đường, 1 gian cổ  3 gian ống muống, 3 gian hậu cung và 5 gian hành lang phía Nam. Trong những năm gần đây, nhân dân đã khôi phục lại 5 gian hành lang phía Bắc và 2 gian nối vào 5 gian hành lang phía Nam.

Tòa tiền đường gồm 7 gian dài 19,86m, rộng 7,97m gồm 8 vì kèo, kết cấu theo kiểu “kẻ chuyền chồng chóp”, trong đó có 3 vì kèo hạ khoảng tạo thành 2 gian giữa ở phía Bắc và phía Nam. Ở gian giữa phía Nam là gian nhà được tạo ra kiểu mái bồ câu ở phía trước và phía sau. Các vì kèo còn lại có kết cấu kiểu kẻ chuyền chồng chóp. Đây là lối kiến trúc đơn giản nhưng rất sáng tạo của các nghệ nhân dân gian. Các chi tiết gắn kết với nhau, tạo ra một không gian vừa mở, vừa kín lại vừa mang tính nghệ thuật. Tiền đường còn lưu giữ một số mảng chạm khắc nghệ thuật, mang đậm tính dân gian. Chất liệu mộc là gỗ tứ thiết còn khá chắc chắn. Móng tường xây bằng gạch chỉ, mái lợp ngói mũi truyền thống. Trên bờ nóc và các bờ cánh có một số bức phù điêu nghệ thuật.

Gian cổ dài là gian chuyển tiếp và nối liền tòa tiền đường với ống muống. Gian này có các chi tiết mộc với lối kết cấu đơn giản. Tuy nhiên tại vì kèo phía ngoài có bức chạm “Lưỡng long chầu nguyệt” được bố trí sát nóc, tạo cho công trình này thêm sinh động. Gian cổ dài và ống muống dài 6,08m, rộng 5,88m. Vì kèo gian thứ nhất được bố trí 2 cửa nách, phía trên bưng kín. Ống muống gồm 3 vì kèo đơn giản, kết cấu theo kiểu con chồng thước thợ. Móng, tường xây bằng gạch chỉ, mái lợp ngói mũi truyền thống.

Hậu cung gồm 3 gian dài 9,6 m, rộng 5,97m. Đây là công trình nằm song song với tòa tiền đường nhưng được nối với nhau bằng gian cổ dài và ống muống, tạo thành công trình thờ tự khép kín hình chữ Công (I). Ba gian hậu cung gồm 1 gian chính và 2 gian giữa. Kết cấu theo kiểu kèo cầu bán trụ đơn giản. Chất liệu mộc là gỗ tứ thiết và gỗ nhóm 3,4 do việc tu sửa trong những năm gần đây. Móng, tường xây bằng gạch chỉ, mái lợp ngói mũi truyền thống. Công trình hợp khối với ống muống và tiền đường.

Cùng với chùa chính, di tích còn có 5 gian hành lang phía Nam, 5 gian nay tách rời với tòa tiền đường, nằm song song với  gian cổ dài và ống muống. Hành lang có kết cấu đơn giản, lợp ngói xi măng và đang xuống cấp. Nối liền với gian giữa phía Nam của tòa tiền đường là 5 gian hành lang cũ của chùa. Các vì kèo của hành lang theo kiểu kèo cầu bán trụ khá đơn giản. Gần đây nhân dân khôi phục 2 gian hành lang để thờ Mẫu. Ngoài các công trình chính, trong khu di tích còn có một số công trình khác như cổng, vườn tháp, khu phụ trợ và nhiều công trình khác.

Giá trị nghệ thuật của di tích không chỉ ở công trình kiến trúc, mà còn thể hiện ở hệ thống tượng thờ. Tượng chùa Huề Trì được bài trí trong hậu cung, ống muống và tiền đường, hiện nay tại chùa có tới 7 lớp tượng, các pho tượng đều là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị.
 
Lớp thứ nhất (trong hậu cung) là tượng Tam thế Phật gồm 3 pho: chính giữa là tượng Hiện Tại, bên trái là tượng Quá Khứ và bên phải là tượng Vị Lai.

Đây là 3 pho tượng giống nhau, tượng được tạc ở tư thế tọa thiền trên đài sen, thân hình cân đối, tóc xoáy ốc, mắt nhắm, tai dài, nhục kháo trên đỉnh đầu. Trên thân và đài sen có nhiều mảng chạm khắc đạt trình độ nghệ thuật.

Tượng có niên đại thời Nguyễn (TK XIX). Lớp thứ hai: là pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhỡn, có niên đại từ thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX), với chất liệu gỗ quý. Tượng được tạc ở tư thế ngồi trên bệ cao 2 tầng, hình lục giác, bệ có nhiều bức chạm hoa lá như sen, cúc, mai và hoa lá cách điệu, sơn son thếp vàng. Tượng ngồi ở tư thế bán kiết già, bàn chân phải dài đẹp, đặt lên đùi trái. Trong lòng có 1 đôi bàn tay lồng vào nhau, 1 đôi tay giơ trước ngực, kết ấn liên hoa, 2 bên có 18 đôi tay đối xứng. Các ngón tay dài, sơn màu hồng.Khuôn mặt thanh tú, sống mũi cao, mắt nhắm, nét mặt từ bi, tai dài, cổ cao ba ngấn. Tóc được cách điệu bởi các mặt tượng. Tượng cao 112 cm. Đây là một trong những pho tượng đẹp trong hệ thống tượng Phật tại các ngôi chùa hiện còn của tỉnh nhà. Lớp thứ ba (trong ống muống) gồm 3 pho: chính giữa là tượng A Di Đà, bên trái là tượng Quan Thế Âm, bên phải là tượng Đại Thế Chí. Lớp thứ tư: là tượng Tam thế. Lớp thứ năm là 3 pho tượng: chính giữa là tượng Ngọc Hoàng thượng đế, bên trái là tượng thần Nam Tào và bên phải là tượng thần Bắc Đẩu. Đây là 3 pho tượng tạc theo phong cách riêng biệt so với các pho tượng khác trong chùa. Các pho tượng đều được tạc ở tư thế ngồi trên bệ giật cấp, mặc áo long bào và áo quan triều, nét mặt nghiêm trang. Đây là 3 pho tượng có tỷ lệ cân đối, phù hợp với không gian của công trình. Lớp thứ sáu gồm tòa Cửu Long ở chính giữa, bên trái là tượng Ca Diếp và bên phải là tượng A Nan Đà. Lớp thứ bảy (tại tòa tiền đường): Tượng thần Khuyến Thiện có kích thước lớn được đặt tại gian thứ 2 (tính từ phía Bắc), tượng mặc áo quan, đầu đội mũ, nét mặt hiền từ; kế đó (gian thứ 3) là tượng Đức Thánh Ông, tạc ngồi trên bệ, nét mặt nghiêm trang. Tượng thần Trừng Ác được tạc ở tư thế ngồi oai vệ, đối xứng với tượng thần Khuyến Thiện (gian thứ 2 phía Nam), tượng có kích thước lớn, tay phải cầm gươm trường, nét mặt dữ tợn. Tiếp đó là pho  tượng (không rõ tên- nhân dân gọi là tượng Đức Thánh Hiền).

Ngoài 7 lớp tượng chính còn một số nhóm tượng được đặt tại một số vị trí sau: Nhóm tượng các vị sư đã từng trụ trì tại chùa, được đặt tại gian thứ nhất (phía Bắc tòa tiền đường); - Tượng “thần An Phụ” (theo cách gọi của địa phương) được đặt tại gian phía Bắc tòa hậu cung. Nhóm tượng hai bà Thiện Nhân, Thiện Khánh được đặt trang trọng trong khám thờ tại gian phía Nam tòa hậu cung. Tượng bà chúa Thượng Ngàn, động và ban thờ ông Hoàng Bẩy được đặt tại gian thứ 2 và thứ 5 của dãy hành lang phía Bắc (đây là các ban thờ do nhân dân mới lập trong những năm gần đây). Nhóm tượng Mẫu được đặt tại gian thứ 7 của dãy hành lang phía Nam. Chùa Huề Trì là công trình kiến trúc khá đồng bộ, di tích có hệ thống tượng phong phú có giá trị. Đồng thời, chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị nghệ thuật và niên đại bao gồm các chất liệu như gỗ, gốm, đá, kim loại…

Khu di tích chùa Huề Trì là khu di tích có cảnh quan đẹp, trong những năm gần đây, bằng công sức và tiền của của nhân dân, di tích từng bước được tu bổ. Tuy vậy, hiện nay nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp nặng, rất cần được tu ổ kịp thời để di tích trường tồn với thời gian.

Không có nguồn kinh phí tu bổ

Qua tìm hiểu và nhiều tài liệu còn ghi lại, chúng tôi được biết. chùa Huề Trì được trùng tu lớn vào cuối thế kỷ 19 đến nay, và cho đến nay tự viện chưa có lần nào tu sửa lớn, chỉ có một số lần tu sửa nhỏ với mục đích chống xuống cấp. Hiện nay, phần mái ngói của chùa đã bị xô lệch khá nhiều, ngay phần mái hiên đã có nhiều khoảng trống do ngói rơi vỡ. 

Để tạm thời gắn các viên ngói có nguy cơ rơi vỡ, nhân dân phải chít xi măng. Phần mái có kết cấu 8 máng xối, trong đó có 3 máng xối bị dột lớn mỗi khi có mưa. Nước mưa theo hệ thống máng xối chảy xuống, ngấm trực tiếp vào tường và các vì kèo phía bên trong. Qua quan sát có thể nhận thấy các vì kèo bị sẫm màu do ngấm nước lâu ngày. Thanh gỗ nối giữa các vì kèo tại cửa Phật đã bị mục ruỗng một đầu, một thanh bê tông được dùng làm trụ đỡ cho vì kèo này tránh đổ sập nhưng chỉ là biện pháp tạm thời. Những vết nứt không còn hiếm gặp trên tường. Những cột quân, cột trụ bằng gỗ lim đã bị cong, vênh đang được đóng cố định với những thanh gỗ tạp để san bớt sức nặng. 
 
Trên đầu gian thờ Đức Thanh Đề, chúng tôi thấy tấm bạt được căng ngay phía trên pho tượng để tránh dột. Mỗi khi trời mưa, trong chùa cũng như ngoài sân vì có quá nhiều chỗ dột và chính bị ảnh hưởng do nước mưa nên các vì kèo, các cột cũng bị ngấm nước khiến bị mục hỏng. Đặc biệt ở gác chuông cũng tiềm ẩn sự nguy hiểm bởi các thanh vì kèo đã không còn chắc chắn lại phải chịu thêm sức nặng của chuông, nên có thể đổ sập bất cứ lúc nào.

Trước sự xuống cấp của chùa Huề Trì, chính quyền địa phương đã làm tờ trình đề nghị UBND tỉnh cấp kinh phí để tu sửa chùa nhưng vẫn chưa có thông tin phản hồi. Hằng năm, số tiền công đức tại lễ hội chùa và nguồn xã hội hóa chỉ được vài chục triệu đồng trong khi muốn trùng tu, tôn tạo lại chùa phải mất vài tỷ đồng. Với số tiền ít ỏi này, địa phương chỉ biết ưu tiên tu sửa các hạng mục xuống cấp nghiêm trọng nhất, còn lại phải áp dụng các biện pháp tình thế như: đảo ngói, thay thế một số chi tiết mộc đã mục gẫy, chám vá tường, chêm gỗ vào các đầu nối vì kèo, gắn kết các viên gói bằng xi măng... 

Do việc xuống cấp nghiêm trọng của di tích và cơ duyên nhà Phật, nên chưa có quý thầy nào về nhận trụ trì. Mong muốn nhất lúc này của chính quyền địa phương và nhân dân, phật tử gần xa là các cấp, các ngành sớm xem xét tạo điều kiện cấp kinh phí để tu bổ chùa, đồng thời khôi phục các hạng mục công trình đã mất, từng bước trả lại dáng vẻ ban đầu cho ngôi chùa cổ và mong có quý thầy về hành đạo tại tự viện.

Đức Tuỳ

Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Hải Dương: Chùa Huề Trì xuống cấp trầm trọng, không có sư trụ trì

Chùa Huề Trì là di tích Kiến trúc - Nghệ thuật đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng năm 2011. Công trình tôn giáo này nằm trong quần thể khu di tích đình Huề Trì (An Phụ - Kinh Môn). 
Hải Dương: Chùa Huề Trì xuống cấp trầm trọng, không có sư trụ trì Hải Dương: Chùa Huề Trì xuống cấp trầm trọng, không có sư trụ trì
610 700
Chùa Huề Trì là di tích Kiến trúc - Nghệ thuật đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng năm 2011. Công trình tôn giáo này nằm trong quần thể khu di tích đình Huề Trì (An Phụ - Kinh Môn).