Phật Giáo

Bài dự thi sáng tác các tác phẩm về Đạo Hiếu: Những môn sinh hiếu đạo họp lớp làm giỗ thầy

Thứ năm, 15/07/2016 | 10:15

Về xã Đông La (Hoài Đức, Tp.Hà Nội) những người cao niên vẫn nhắc nhiều về thầy giáo Nguyễn Văn Bàng với những tình cảm kính trọng. Điều đặc biệt là những người học trò cũ từ cách đây đã hơn 50 năm vẫn nhớ công ơn giáo dục của thầy. Thể hiện tình cảm, đáp đền công ơn to lớn ấy, những trò cũ giờ đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng họ vẫn hẹn nhau họp lớp, làm giỗ thầy và ôn lại những kỷ niệm, bài học thuở xưa. 

Đông La là xã ngoại thành Hà Nội, nơi đây nổi tiếng với nghề trồng hoa lan, cây cảnh. Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa rất nhanh, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị xã hội, đời sống người dân nói chung và đồng bào có đạo nói riêng đã từng bước được nâng lên rõ rệt.

Chính sách dồn điền đổi thửa đã tạo ra những cánh đồng mẫu lớn, quy hoạch những nơi chuyên canh những loại hoa màu và phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã. Đường làng ngõ xóm đều được bê tông hóa, đời sống dân cư ổn định. Xã có ba thôn, mỗi thôn đều có một ngôi chùa và một nhà thờ công giáo, bà con lương giáo sống chan hòa, gắn bó đoàn kết một lòng cùng nhau vun đắp, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Tạ Công Thăng (gia đình phật tử) vào đúng ngày gia đình đang chuẩn bị để đón tiếp những vị khách quý cho sự kiện đặc biệt diễn ra hàng năm của các môn sinh Trường Tiểu học Bình Minh cách đây 50 năm về trước (1950-1954). Năm nay, ông Thăng đã gần 80 tuổi, tuy tuổi đã cao nhưng minh mẫn, nhanh nhẹ đi lại tay bắt mặt mừng đón những người bạn học thuở niên thiếu từ hơn 50 năm.

Ông Thăng chia sẻ: Các nhà báo có lẽ khó tin rằng tình bạn, tình đồng môn của chúng tôi thấm thoát cũng đã hơn nữa thế kỷ. Ngày đó, Trường tiểu học Bình Minh đóng tại làng Đông Lao, xã Đông La, huyện Hoài Đức còn nhiều khó khăn lắm, thiếu thốn cơ sở vật chất, thiếu cả thầy lẫn trò. Lớp chúng tôi có hơn 100 môn sinh được thầy giáo Bàng chăm lo, dạy chữ, dạy toán… đặc biệt là dạy cách làm người tử tế. Những câu chuyện, bài học của thầy kể năm xưa đã thấm vào máu thịt, trở thành những bài học theo chúng tôi cả quá trình công tác và để nuôi dạy các con, các cháu về sau.
Ảnh minh họa
Sau khi được học chữ của thầy, lớn lên, người vào chiến trường, người vào nhà máy, công xưởng và ở lại quê hương tăng gia sản xuất góp sức cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Muôn phương trăm ngả, người còn, người mất đã đến tuổi “thất thập cổ lai hy” vẫn lần tìm đến với nhau, cùng tưởng nhớ người thầy đáng kính đã có công dạy dỗ những bước chập chững vào đời và hồi ức lại những kỷ niệm xưa yêu dấu đã bị thời gian xa ngái. Niềm vui ngày gặp mặt, tình đồng môn… rạng ngời trên mỗi nét mặt già nua ẩn khuất bao chuyện đời chưa kể hết.

Ngoài sân, ông Thăng cứ đi ra đi vào rồi quay sang nhìn đồng hồ, sao giờ này mà vẫn thiếu một vài cụ chưa đến. Không biết có đến được nữa không? Mặt ông buồn thiu lê gót chân vào nhà trầm ngâm “có lẽ năm nay lại vài cụ ốm yếu rồi, năm nào cũng thiếu vắng một hai người, phần vì già ốm yếu, hoặc con cháu bận không đưa đến buổi gặp mặt, cũng có những cụ đã vội về thăm tổ tiên, ông bà, nghĩ mà buồn buồn!” – ông tâm sự. 

Đến lượt gia đình ông Tạ Công Thăng ở thôn Đồng Nhân, xã Đông La được vinh dự đón các cụ về xum họp nhân ngày giỗ thầy, các con ông thấy đó làm vinh dự cũng bớt thời gian giúp ông chuẩn bị chu đáo để đón khách. Các con cháu đều có mặt đông đủ cùng quây quần bên các bác, các ông để nghe chuyện kể ngày xưa. Cách đây hơn 50 năm, đất nước còn vô vàn khó khăn nên việc học hành của con em chưa được quan tâm đầu tư. Vào thời kỳ ấy mỗi thôn ở làng quê có một lớp học khai tâm còn những ai muốn học lên lớp trên thì phải lên huyện, lên tỉnh mới có trường lớp để học. Số người học lên cao rất ít, phần lớn phải bỏ học bởi kinh tế khó khăn, hoàn cảnh đất nước có chiến tranh… 

Trong hoàn cảnh chung của xã hội lúc bấy giờ làng Đông Lao đã xuất hiện một trường tiểu học mang tên Bình Minh do thầy giáo Nguyễn Văn Bàng làm hiệu trưởng. Thầy giáo Bàng sinh năm canh thân (1920) quê Từ Liêm, Hà Nội. Ông là người thạo Hán văn, uyên thâm chữ Quốc ngữ, thông thạo cả tiếng Anh, tiếng Pháp và có tâm huyết trong việc dạy chữ. Thầy đã tuyển thêm một số thầy giáo giỏi có đức, có tài và nhiệt tình động viên các gia đình cho con em đi học. Học sinh đến với lớp của thầy tất thảy đều rất ngoan, ham học và viết chữ đều, đẹp. 

Ông Thăng kể lại: “Một lần quân lính thực dân Pháp đi qua trường, ném thuốc lá xuống chân đê, học sinh đang chơi ở gần đó chạy ra nhặt liền bị thầy giáo gọi lại phân tích: không được nhặt bất cứ thứ gì của người ngoại quốc. Nay là điếu thuốc, ngày sau là những thứ khác sẽ làm ô nhục tinh thần dân tộc. Rồi, một lần có hai người khách cũng là thầy giáo đến chơi, chào ông bằng tiếng Pháp, ông chào lại bằng tiếng Việt. Sau khi khách ra về ông mới nói với các học trò rằng học tiếng Pháp là để giao tiếp ngoại giao còn nói thì phải bằng tiếng mẹ đẻ…”. 

Trường Tiểu học Bình Minh là điểm sáng của tỉnh Hà Đông (cũ), thu hút được hàng trăm học sinh của 10 xã thuộc 4 huyện gồm Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ và Hoài Đức (thuộc 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây cũ). Nhờ vào sự dạy dỗ của thầy Bàng mà hơn một trăm học sinh đã được khai tâm, khai trí dạy chữ và dạy đạo lý làm người. Qua một thời gian học tập tại trường ai nấy đều viết chữ rất đẹp và viết đúng. Nhìn vào chữ viết của học trò trường Bình Minh là thấy được tài hoa phẩm hạnh con người. Bốn năm dạy và học trường Bình Minh đã đào tạo được hai khoá học sinh dự thi tốt nghiệp lớp nhất năm học 1952 – 1953 và 1953 - 1954, có hơn 50 học sinh về thị xã Hà Đông dự thi đạt kết quả tốt nghiệp rất cao, so sánh với các trường công lập rất xứng tầm. Nhiều người học tiếp để trở thành ông tú, ông cử, số còn lại ai nấy đều tìm cho mình một nghề để lập nghiệp. Qua bao thăng trầm, cuộc sống vui buồn nhưng ai nấy đều trưởng thành, “nên thợ nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”.

Những học trò ấy đã đi khắp mọi miền và đảm nhiệm các vị trí công việc khác nhau ai cũng tự hào về những tháng ngày được học nét chữ, nét người của thầy, được sống bên nhau với những kỷ niệm đẹp. Giờ đây, họ ngồi lại đọc cho nhau nghe bài thơ vừa sáng tác, kể chuyện cuộc đời, kể về con cái thành đạt trong cuộc sống … thầy giáo Đỗ Văn Tập một đời dạy học nay về hưu ông vui vầy cùng con cháu và tham gia các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

Ông Tạ Công Thăng ngày ngày vui thú cây cảnh, chơi cờ, các con trai, con gái của ông là những phật tử mộ đạo, sống chân thành, thiện tâm và là chủ các trang trại hoa phong lan nổi tiếng như vườn lan Huyền Chân, Thực Hà. Các cháu nội ngoại cũng đã lớn đều học tập chăm ngoan. Ông Nguyễn Đình Phán người làng Đông Lao, là sỹ quan quân đội nghỉ hưu, có 4 người con đều tốt nghiệp đại học và trên đại học. Hay ông Nguyễn Đình Nghinh ở làng La Tinh giữ cương vị Trưởng Công an huyện Hoài Đức; rồi ông Toản, ông Thu, ông Tại, ông Thạo… các ông đều học tập và thực hành được những gì thầy dạy trong đời sống hàng ngày. Chị Tâm Như công tác tại Nhà hát Tuổi Trẻ là con gái út của ông Thăng nói: “các bác tuổi đã cao nhưng vẫn sâu đậm nghĩa thầy, tình đồng môn. Thật là những nghĩa cử cao đẹp mà thế hệ con cháu như chúng cháu phải nhớ để còn dạy con cái và kể cho chúng nghe về cha ông một thời tôn trọng đạo thầy trò”.

Nhớ lại nghĩa tình thầy trò cách đây hơn nửa thế kỷ, ông Đỗ Văn Luyện đã viết tặng Hội Môn sinh khóa học 1950 – 1954 Trường Tiểu học Bình Minh bài thơ “Vui hội tụ”, bài thơ có đoạn viết: “…Về nơi lớp cũ, trường xưa/Ngỡ ngàng, vương vấn – như chưa tin mình/Nếp xưa, thấp thoáng bóng hình/Vui sao cái nghĩa, cái tình còn nguyên/Bồi hồi pha trộn, nhớ quên/Bài thơ thầy viết đủ tên học trò/Đâu rồi, thầy cũ bạn xưa/Ai còn, ai mất, ai vừa đi xa…/Thăng trầm, nửa thế kỷ qua/Gặp nhau, mái tóc điểm hoa, chuyển màu/Lòng riêng ấp ủ bấy lâu/Tình chung như đã, ân sâu tạ thầy…”.

Thiết nghĩ, khi đời sống xã hội có nhiều đổi thay, cái đói, cái rét đã lùi xa, thay vào đó là quan niệm ăn ngon mặc đẹp và nhiều quan niệm mới cũng được ra đời tồn tại ở xã hội một cách hời hợt. Còn đâu cảnh học trò khép nép trước thầy cô, còn đâu nghĩa cử đạo hiếu thầy trò đậm sâu… Giờ đây, khi tận mắt chứng kiến cuộc hội ngộ bạn học đã ở tuổi trên dưới tám mươi vẫn tìm đến nhau để tri ân làm giỗ thầy giáo, ân tình trận trọng và quý mến biết bao. Hơn năm mươi năm trước những con người này học cùng nhau ở cái tuổi thơ ngây hồn nhiên học trò vậy mà thời gian thấm thoát, giờ đây ai nấy đều tóc bạc, mắt mờ chân chậm, người mất, người còn… họ lại được con cháu đưa đến gặp nhau cùng làm giỗ thầy, quả là điều hiếm thấy. 

Hơn nửa thế kỷ qua đi xong tình cảm về những người học trò dành cho thầy giáo thưở xưa vẫn rất mực kính trọng và vẹn nguyên. Thầy Bàng đã thành người thiên cổ, nhưng những gì thầy dạy về đạo lý làm người, về Tam cương, Ngũ thường; Tam tòng, Tứ đức  luôn được các học trò ghi nhớ. Nay, họ cùng ngồi lại dâng nén tâm nhang để tỏ lòng biết ơn thầy, kính trọng thầy, thể hiện sự tôn trọng đạo, hành động báo ân, báo hiếu, một nghĩa cử cao đẹp, đó là bài học vô cùng giá trị về nghĩa thầy trò, tình đồng môn đùm bọc sẻ chia lẫn nhau.

Nguyễn Văn Thủy
Tạp chí Công tác Tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ
Nguyễn Văn Thủy
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z