Phật Giáo

Canada: Ứng dụng thiền tập cho người dân Vancouver

Thứ năm, 21/06/2016 | 10:52

Hôm thứ Ba, ngày 17/05/2016, bà Pimchanok và gia đình Saisamorn cung thỉnh Thượng tọa Phrakhrubhavanavidesa, Viện Chủ Trung Tâm Thiền Seattle, để tạo điều kiện ứng dụng thiền tập cho người dân tại thành phố Vancouver, Canada. Mặc dù thành phố Vancouver, một đô thị hải cảng duyên hải thuộc tỉnh British Columbia, Canada, nơi đông đúc cư dân rộn ràng, nhưng còn một số nơi yên tĩnh rất thích hợp cho việc thực tập thiền định.

 
Có rất nhiều người từ các ngành nghề khác nhau tham gia “Chương trình ứng dụng thiền tập trong cuộc sống”. Chư tôn đức Giáo thụ hướng dẫn các nguyên tắc trong thực tập thiền, và chia sẻ những cơ bản của thiền định, cảnh giới xảy ra trong thiền định hoặc nhiều hơn có thể xảy ra trong mỗi buổi tập thiền. 
 
Giải thích về 5 trở ngại của thiền định cần phải khắc phục:

Năm Triền cái (Nīvaraṇa): Năm pháp này làm trở ngại và che lấp tâm định nên còn gọi là pháp chướng ngại:

1) Tham dục (kāmacchanda): tâm sở tham dục có trạng thái ưa thích, đam mê, ham muốn, dính mắc trong ngũ dục làm cho tâm phân tán khó tập trung. Quá ham muốn đắc định cũng là một trở ngại cho tâm định.

2) Sân hận (byāpāda): tâm sở sân có trạng thái bất mãn, bất bình, không hài lòng hay đối kháng với cảnh chướng ngại trong quá khứ hoặc nôn nóng muốn thoát khỏi nghịch cảnh, muốn khử trừ điều kiện bất như ý trong hiện tại v.v... làm cho tâm nóng nảy, khó hoan hỷ, an vui trong đề mục thiền định.

Ví dụ như khi đang cố gắng chú tâm trên đề mục thiền bỗng nghe tiếng nhạc, nếu vì ưa thích mà tâm bị phân tán đó là tham dục triền cái, nếu cố chống lại tiếng nhạc mà tâm không chuyên chú được đó là sân hận triền cái.

3) Hôn trầm - thụy miên (thīna – middha): Tâm sở hôn trầm có trạng thái lười chán, buông xuôi, không hăng hái; tâm sở thụy miên có trạng thái giải đãi, trì trệ, ngái ngủ. Hai tâm sở này đồng một tính chất ươn hèn, nhu nhược và thụ động khiến cho tâm không thể chú hướng vào đề mục thiền định được.

4) Trạo – hối (uddhacca – kukkucca): Tâm sở trạo cử có trạng thái phóng tâm, suy nghĩ vẩn vơ, nhất là về tương lai; tâm sở hối quá có trạng thái nóng nảy, ray rứt, hối tiếc về những sai lầm hay tội lỗi đã làm trong quá khứ (tránh lầm lẫn với trạng thái ăn năn, hối cải thuộc tâm thiện). Hai tâm sở này đồng một tính chất tháo động, bồn chồn, bất an khiến cho tâm không an lạc trên đề mục thiền định.

Ví dụ như khi đang cố gắng chú tâm được vài giây thì tâm đã trượt khỏi đề mục, nếu do lười chán hay giãi đãi mà không an lạc đó là triền cái hôn trầm thụy miên, nếu do suy nghĩ vẩn vơ hay hối tiếc bứt rứt mà không an ổn thì đó là triền cái trạo hối.

5) Nghi (vicikicchā): Tâm sở nghi có trạng thái lưỡng lự, phân vân, do dự, bất quyết. Tâm sở này làm cho tâm không đứng vững được trên đề mục thiền định.

Hôn trầm thụy miên là tâm sở có trạng thái thụ động, thiếu tinh tấn cho nên có mặt trong các tâm hữu trợ (sasaṇkhārika). Trạo hối và nghi là tâm sở có trạng thái dao động, làm cho tâm không sáng suốt cho nên thay nhau có mặt trong hai tâm si.

Sau đó, những người tham gia tập thiền, họ ngồi lại với nhau để chia sẻ kinh nghiệm tu tập; họ ôn lại việc thư giản cơ thể bằng cách tọa thiền đúng tư thế, và giữ tâm trí bình tĩnh. Họ luôn tập trung tâm trí trong lúc tập thiền. Thời gian thực tập thiền xong, chư tôn đức Giáo thụ yêu cầu họ trình bày về kinh nghiệm nội tâm của họ, và nhiều người trong số họ đã những trải nghiệm tu tập tuyệt vời.

Vân Tuyền (Nguồn: Báo PG Thái Lan)
Vân Tuyền
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z