Phật Giáo

Chùa là điểm tâm linh của dân tộc

Thứ năm, 11/07/2016 | 08:08

Ngày 29/06/2016, TT Thích Chân Quang đã thuyết giảng cho tăng ni sinh khóa VI Trường TCPH Long An đang an cư kiết hạ tại hai trú xứ: Chùa Thiên Phước - Ni và chùa Thiên Khánh – Tăng về đề tài "Chùa là điểm tâm linh của dân tộc", với sự tham dự của gần 150 hành giả an cư và đông đảo phật tử đến thính Pháp, cúng dường Trường hạ. 

 
Đây là bài học thứ IV trong loạt bài môn "Quản lý tự viện" do TT.Thích Chân Quang giảng dạy cho chư tăng trường hạ chùa Huệ Minh (xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và cho tăng, ni sinh Trường TCPH tỉnh Long An. Môn học này đã chỉ điểm ra những yếu tố cần thiết mà người trụ trì cần quyết tâm thực hiện để nâng ngôi Chùa của mình tại mỗi một địa phương hay trong một cộng đồng nào đó được khẳng định là ngôi chùa phát triển bền vững. 
 
Được biết, vào ngày này, HT. Thích Minh Thiện, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Long An, Trưởng BTC khóa An Cư Kiết hạ, Hiệu Trưởng TCPH Long An; cùng ĐĐ.Thích Lệ Trí, Phó Hiệu trưởng Trường TCPH Long An và ĐĐ.Thích Đức Hoàng đã đến thăm Chư hành giả tăng ni tại trú xứ chùa Thiên Phước và chùa Thiên Khánh trong giờ giảng dạy của TT.Thích Chân Quang.

HT.Thích Minh Thiện đã giới thiệu với toàn thể tăng ni sinh tu học tại hai cơ sở này về TT.Thích Chân Quang – một vị Giáo thọ sư đã gắn bó với Trường TCPH Long An trong suốt nhiểu năm qua. Hiện nay, có nhiều tăng, ni là học trò của Thượng tọa đã trưởng thành, đã có một số vị tham gia trong mọi sinh hoạt phật sự và công tác lãnh đạo Giáo hội tại địa phương hoặc tỏa đi các tỉnh vùng sâu vùng xa với khả năng chuyên môn của mình thật xuất sắc. 

Đồng thời, Hòa thượng còn khuyến tấn thế hệ tăng ni trẻ hãy tinh tấn tu học để trưởng thành. Chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội luôn kỳ vọng vào lớp kế thừa sẽ có đầy đủ giới định tuệ, hầu sau này gánh vác trọng trách cho Giáo hội làm tốt đạo, đẹp đời.
 
Đi vào nội dung bài Pháp thoại "Chùa là điểm tâm linh của dân tộc", Thượng tọa giải thích tại sao chúng ta gọi ngôi chùa là điểm tâm linh. Để hiểu điều này, Thượng tọa định nghĩa “Tâm linh là hiện tượng gì đó mà nó vượt khỏi đời sống bình thường, và ta có thể hiểu được. Đồng thời, Người đưa ra nhiều dẫn chứng để xác thực hiện nay có rất nhiều điều là tâm linh. 

Từ góc độ tâm linh, Thượng tọa cho biết, thế giới tâm linh là môt thế giới siêu nhiên, linh thiêng thuộc về thần thánh; là một cõi giới mà con người so với cõi giới đó - con người ở vị trí thấp kém hơn. Vì tâm linh là thế giới của thần thánh, do đó đối với những vấn đề về tâm linh, con người hay có biểu hiện: Cầu xin, nương tựa, tôn kính, v.v…Và đó là lý do mà khi ai làm những công việc thuộc về tâm linh thì họ luôn có cảm giác họ cao hơn con người một bậc. Đây gọi là tính tự tôn của tôn giáo.

Mục đích của Thượng tọa khi bàn luận về vấn đề “chùa” là điểm tâm linh, là nơi cao siêu mọi người ngưỡng vọng hướng về, qua đó nhắc nhắc nhở chúng ta phải hết sức cẩn thận với những ý niệm này. 

Chúng ta biết rằng: Sống trên cuộc đời này, con người nhiều khi phải bó tay với hoàn cảnh. Có những điều con người bế tắc cùng đường không xử lý, không giải quyết được, không thoát ra khỏi những cảnh khổ ở đâu bất ngờ ập tới. Những lúc đó ta luôn mong mỏi, hi vọng là còn có những biện pháp khác cao hơn cấp độ loài người để mình nương tựa tìm cầu, đó thường gọi là tâm linh. Tuy nhiên, cũng có người phản bác “Không có thế giới nào hết, chỉ có con người với cuộc sống hết sức bình thường quanh đây”. Đây là người bác hết tâm linh, còn đa phần mọi người đều tin rõ ràng có gì đó không phải tốn công lắm, nhưng giúp người ta vượt khỏi những bế tắc của cuộc đời mà nhiều khi ta không lý giải nổi. 

Nhân đây, Thượng tọa dẫn chứng nhiều hiện tượng tâm linh trên thế giới này có từ thời nguyên thủy cho tới bây giờ, trong đó có nhiều loại hình tâm linh, nhiều loại tín ngưỡng, nhiều tông phái thuộc về tâm linh. Đồng thời, Thượng tọa đưa ra nhận xét chỉ có tâm linh của đạo Phật là cực kì cao siêu và cực kì trong sáng. Đây là điểm xác định sự khác biệt giữa tâm linh đạo Phật với tâm linh của các tín ngưỡng khác. Tâm linh của các trường phái khác thì mờ mịt, mê tín, khó lý giải, nhiều khi bất hợp lý, đều nguy hiểm vì sự bất công, nhưng riêng đạo Phật tuy tâm linh nhưng lại rất công bằng, vì tâm linh ấy dựa trên Luật Nhân Quả.

Tuy nhiên, Phật giáo mà ta gọi là tâm linh cao siêu trong sáng nhất, sự thật sau này cũng bị pha trộn “Bùa chú” hoặc tín ngưỡng thờ “Mẫu”, hầu đồng đem lẫn vào trong chùa. Thì giữa cái tâm linh nhiều thứ pha trộn như vậy, ngày nay người có trí tuệ, có trí thức, có học thức, họ tin thật sự có một thế giới tâm linh; có thế giới siêu nhiên; có những điều linh thiêng; có thần thánh, chứ không phải chỉ có con người đơn độc nơi thế giới vật chất này. Và khi họ tin vào điều đó thì họ muốn đi tìm một nơi nương tựa, một cánh cửa để họ có thể kết nối giữa thân phận làm người này với thần thánh trên cao. Thế là họ đến chùa, vì tin rằng chùa mới là chỗ nương tựa tâm linh tốt đẹp nhất và an toàn nhất cho con người. Khi con người đã đặt niềm tin vào chùa là bến đỗ tâm linh cho cuộc đời họ thì trách nhiệm của chư tăng, chư ni trong ngôi chùa đó vô cùng nặng nề. 
 
Khi chúng ta dựng lên một ngôi chùa, ngôi chùa này được giáo hội, nhà nước, quần chúng công nhận về mặt thủ tục - hành chánh - pháp lý thì ngôi chùa đó được gọi là điểm tâm linh, tín ngưỡng. Nhưng để chùa thật sự là điểm tâm linh tín ngưỡng lại lệ thuộc vào quý thầy tu trong đó. Quý thầy phải tu như thế nào, giáo hóa ra sao để làm cho ngôi chùa trở thành một điểm tâm linh thật sự thiêng liêng, cao siêu, đáng tôn kính, lại lệ thuộc vào con người. Theo đó, Thượng tọa đã liệt kê ra một số yếu tố góp phần làm cho ngôi chùa trở nên thiêng liêng, tôn nghiêm thật sự. Trong đó, yêu cầu đầu tiên là giữ giới luật để điều phục những tập khí thế gian. Kế đến là công phu tu hành của chư tăng sao cho có năng lực tâm linh để khi một người họ nương tựa trong lời cầu nguyện thì lời cầu nguyện của ta phải có phần nào kết quả cho họ. Được vậy, ngôi chùa mình mới trở thành điểm tâm linh sáng giá. 

Thật ra, khi ta đặt tượng Phật lên bệ thờ thì tự nhiên thành điểm tâm linh rồi, nhưng cái nội dung, cái thực chất lại lệ thuộc chính con người nơi chùa đó. Đầu tiên là vị thầy tu đó phải giữ giới luật; kế đến là vị thầy đó phải tu cho có tâm linh; và thứ ba là thầy đó phải biết tạo duyên giáo hóa chúng sinh. Khi một người phật tử đến chùa, quý thầy phải hướng dẫn, dạy dỗ để giúp họ tiếp nhận được một nguồn tâm linh trong sáng, chân chính, đúng như lời Phật dạy. Hội đủ những yếu tố này rồi, Thượng tọa cho biết dấu hiệu hiện ra chỉ một chữ thôi là “Linh”, tức chùa đó rất linh thiêng, vì có bậc chân tu. 

Chúng ta cũng cần phải biết và hiểu rằng: Dù một ngôi chùa có hào nhoáng, có đẹp tới cỡ nào thì cũng trở nên vô nghĩa khi trong chùa không có một linh hồn, nghĩa là không có một bậc chân tu ở trong đó. Ngôi chùa mà có vị chân tu đắc đạo thì ngôi chùa đó rất linh thiêng, luôn có chư Thiên, Hộ pháp bảo vệ Thánh tăng đó và không gian chùa đó lúc nào cũng nằm trong hào quang của chư Phật, chư Bồ tát, chư Thiên bảo vệ. Cho nên, bất cứ ai bước chân vào ngôi chùa đều hưởng được tâm linh của ngôi chùa đó. Ví dụ ta có nỗi khổ, ta đi cầu chùa khác không linh nghiệm, nhưng qua chùa đó cầu nguyện thì có kết quả liền, vì ai bước chân vào ngôi chùa này đều nằm trong tầm ngắm của chư Thiên, ai có niềm tin đối với ngôi chùa này đều được chư Thiên yêu quý hết và được phước gấp ngàn lần nơi ngôi chùa không có Thánh nhân ngự trị. Đây là điều bí mật mà cũng chính là điểm tâm linh.

Thượng tọa đã chứng minh cho thấy hiện nay có nhiều ngôi chùa rất linh – người đến chùa mà có lòng thành thì cầu gì được nấy, trong đó có những ngôi chùa không quá bề thế, nhưng không gian tâm linh uy nghiêm, thoát tục, cộng với những câu chuyện linh thiêng diễn ra thường xuyên nơi này nơi kia, do mình chứng kiến hay do người có uy tín kể lại. Qua đó, Thượng tọa cho thấy có những điều rất lạ, khó giải thích, nghe như mê tín nhưng đều có kết quả cả. 

Như vậy, khi nhận biết chùa là điểm tâm linh của dân tộc rồi thì trách nhiệm của quý thầy là làm chùa cho linh. Làm sao cho chùa mình có những kết quả màu nhiệm đến với mọi người. Mà sự màu nhiệm đến với chúng sinh thường biểu hiện qua các nghi lễ nào giờ các chùa vẫn hay làm, đó là: Cầu an, cầu siêu, cầu mưa, cầu quốc thái dân an, v.v… Những nghi lễ này là một sự minh chứng cho cuộc đời tu hành của quý thầy, cho sự linh thiêng của ngôi chùa. Nhưng nhiều khi ta cứ thực hiện những nghi lễ đó theo yêu cầu của chúng sinh, theo khoa nghi mình đang học, mà không hề biết rằng đó là kết quả cuối cùng một đời tu hành của mình. 
 
Chỉ những ai một đời tu hành hết sức chân chính mới hiện ra được kết quả của những nghi lễ đó chứ không phải dễ. Ví dụ: Ta cầu an mà người ta về có an không; hoặc ta cầu siêu, vong đó được siêu không; hoặc mình cầu mưa mà có mưa xuống hay không; mình cầu quốc thái dân an mà năm đó nước mình có bớt loạn không; hoặc vào nghĩa trang liệt sĩ cầu siêu thì những anh hùng liệt sĩ nằm nơi nghĩa trang đó họ có được siêu thoát không, v.v…Rồi những bất trắc trong cuộc đời của mọi người như bệnh tật; làm ăn thua lỗ; thi cử; tai nạn; mùa màn…nói chung đủ chuyện trên đời mà mọi người muốn cầu an, họ mong muốn có kết quả màu nhiệm xảy ra với họ. Đó giống như là quá nhân quả làm cho ta rất ngại. Vì theo quan điểm của đạo Phật, phải có nhân mới có quả chứ không có chuyện tự nhiên cầu mà được. Phải biết, nhân quả là một luật tự nhiên rất đúng đắn công bằng.

Nhưng ở đây, để hiểu tại sao cầu vẫn có kết quả, như vậy có phải vượt khỏi nhân quả không? Thượng tọa đã giải thích rằng chẳng có chuyện gì vượt khỏi nhân quả hết, tất cả mọi chuyện đều nằm trong nhân quả, chỉ vì ngôi chùa đó được Phật bảo hộ, do vậy khi ta tôn kính ngôi chùa đó, ta tôn kính vị Thầy chân tu trong ngôi chùa đó thì ta được phước rất nhanh, nên đó vẫn là nhân quả.

Ví dụ có một người bị bệnh thì đó là nghiệp của họ, họ phải trả, họ phải làm phước, thế tại sao họ đến chùa đó cầu thì rõ ràng là hết bệnh, vì chùa đó linh. Cho nên, khi cái lòng thành của ta đặt vô chùa đó rồi thì phước ta tăng gấp bội… bội lần chùa khác. Vì vậy, nói phước đến rất nhanh là do nguyên nhân này. Thay vì ta phải gieo nhân một thời gian mới đủ để đạt được quả báo lành thì nơi ngôi chùa mà có sự linh thiêng đó, kết quả lại đến rất nhanh. Đó cũng là một dấu hiệu linh thiêng của ngôi chùa. Mà chùa nào có thể tạo ra được kết quả lạ lùng, mầu nhiệm cho chúng sinh thì ta gọi chùa đó xứng đáng là địa điểm tâm linh cho dân tộc, là nơi nương tựa của biết bao nhiêu con người bơ vơ, lạc lõng, bế tắc, đau khổ trên cuộc đời này. 

Đồng thời, đó cũng chính là nơi xuất hiện nghi thức mà ngày xưa chư Tổ đã tạo ra cho chúng ta như: Hộ niệm, cầu an, chúc phúc, cầu quốc thái dân an, cầu mưa, v.v... Ngày hôm nay, khi ta được mời đến để làm lễ cầu an – cầu siêu cho ai thì phải hiểu rằng ta đang kế thừa cái sự linh thiêng, cái truyền thống tâm linh mà chư Tổ để lại. Cho nên, lúc đó ta phải hết sức là thành kính, chứ đừng có xem việc cầu an, cầu siêu như một phương tiện kiếm sống, mà việc đó là bổn phận thiêng liêng của người tu sĩ Phật giáo đối với chúng sinh. Tuy nhiên, để cho việc cầu an, cầu siêu đó có kết quả, đòi hỏi quý Thầy phải hết sức thanh tịnh, phải có đạo lực sâu dầy, sự giáo hóa của mình đối với chúng sinh phải chân chính và mình đang hướng về Thánh vị. 

Tóm lại, để cho ngôi chùa trở thành linh thiêng thì ta phải tu hành cực khổ cả một đời, vất vả không kể được. Và khi có ngôi chùa linh rồi ta mới đáp ứng được nhu cầu tâm linh của quần chúng bằng các nghi lễ mà chư Tổ đã hướng dẫn như: Cầu an, cầu siêu, chúc phúc, giải nghiệp, v.v…

Ngoài ra, chùa không chỉ là điểm tâm linh của dân tộc, mà chùa còn là nơi khách thập phương hành hương đến lễ bái, để mọi người cũng hưởng được sự linh thiêng của ngôi chùa đó, chứ không phải chỉ có người dân địa phương mà thôi. Thực tế, có những ngôi chùa thu hút hàng nghìn du khách và phật tử khắp nơi đến đây hành hương, tham quan bởi sự linh thiêng và vẻ uy nghiêm của ngôi chùa đó.

Lại nữa, Thượng tọa còn gợi ý cho chư tăng, ni tìm ra một số dấu hiệu khác biểu hiện sự linh thiêng của một ngôi chùa. 
 
Theo Thượng tọa, khi chúng ta đề cập đến giá trị tâm linh của một ngôi chùa thì hãy xem chừng qua thời gian dài, có những loại hình tâm linh khác của dân gian đã xâm nhập vào trong chùa, do những vị giữ chùa, hoặc những vị tu sĩ trong chùa đó không đủ bản lĩnh, đạo lực để giữ cái tâm linh cho đạo Phật, nên họ đành vay mượn một số tâm linh bên ngoài dân gian đem vào trong chùa, rồi làm cho tâm linh của chùa bị biến tướng và trở thành mê tín, đây là điều đáng lo. Thượng tọa đã dẫn chứng về những loại hình tâm linh đã bị biến tướng, không phải đạo Phật như: lên đồng, bói toán, phong thủy, đốt vàng mã, bùa chú, v.v…

Thử hỏi, tại sao lại có hiện tượng tín ngưỡng của dân gian xâm nhập vào? Bởi vì chùa đó không đủ tâm linh để đáp ứng cho quần chúng, cho nên buộc phải mượn tâm linh của bên ngoài đưa vào. Thế là làm mất đi tâm linh của đạo Phật. Hiện nay, còn những chùa nặng nề các hiện tượng mê tín dị đoan, khiến có người không hiểu rõ, vội phê bình đạo Phật mê tín. Thật ra, một tôn giáo chân chánh, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi trong tín đồ, trong dân tộc mình. Do đó, bản lĩnh của người tu là cố gắng không sử dụng các phương thuật tâm linh của thế gian, chỉ giữ đúng tâm linh của Phật giáo mà thôi.

Trong việc làm lợi ích cho chúng sanh, nếu có kết quả tức là ta tu tốt; còn chưa có kết quả thì ta tu chưa tốt, phải ráng tu thêm, vậy thôi, chứ không vay mượn. Chúng ta có can đảm thì ta mới giữ được tâm linh chân chính của đạo Phật. Chẳng hạn, nếu ta chú nguyện cho người mua may bán đắt mà không có kết quả thì do hai điều: Thứ nhất đạo lực ta chưa đủ; thứ hai là nghiệp người đó nặng quá. Chúng ta hãy khuyên họ ráng làm phước như: đắp đường, phóng sinh, bố thí, v.v…Hãy làm từ những việc phước nhỏ nhặt thì lời dạy đó chân chính, ta không tổn phước mà còn giúp người khác vun đắp cái phước của họ lại từ từ. Tuy thấy chậm nhưng chắc. Còn vay mượn bùa ngải của ngoại đạo về để làm cho có kết quả nhanh thì không những đánh mất bản thân, mất đạo, mà ta còn lạc vào con đường tà. 

Sau cùng, Thượng tọa nhắc nhở: Chùa là điểm tâm linh của dân tộc mà thế giới này đầy bất an, bế tắc, nên con người cần một chỗ dựa tâm linh, cần một cánh cửa để kết nối với Thần thánh. Những người có thiện căn, họ đã tìm đến tâm linh của đạo Phật. Chúng ta biết rằng "Linh tại ngã, bất linh tại ngã" (nghĩa là linh thiêng, hiệu nghiệm hay không là do ở mình). Vì vậy, trách nhiệm của tu sĩ là làm cho chùa “Linh” bằng cả cuộc đời tu hành vất vả, cần khổ của mình. 
 
Bài Pháp thoại đến đây kết thúc. Thượng tọa đã điểm qua những nét khái quát “Chùa là điểm tâm linh của dân tộc”. Hy vọng với những kiến thức quý báu trong việc quản lý tự viện và những gợi ý trả lời phù hợp sẽ giúp cho hành giả sắp đi vào hạnh nguyện Hoằng pháp sau khi ra trường này nắm được những yếu chỉ tu hành cũng như cách quản lý tự viện, nhằm góp phần giữ vững giềng mối và phát triển đạo Phật”. 

Ngày hôm nay, khi thế giới đầy dẫy những bất an, bế tắc, con người cần một chỗ dựa tâm linh thì người tu sĩ càng ý thức về giá trị bản thân, càng hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với Phật pháp, đối với cộng đồng xã hội và với con người mà phấn đấu trở thành một bậc tu hành chân chính, có đầy đủ đạo lực, trí tuệ, lòng thương yêu chúng sinh mà đảm nhận vai trò cao quý này. 

Lành thay! Khi việc tu và giáo hóa của mình có kết quả tốt đẹp thì ta mới cảm trọng được ân đức sâu dày của các bậc Tổ đức từ bao đời trước và các bậc tôn túc tăng già ngày nay – những người có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực đời tu cũng như bước đường hành đạo - đã truyền trao cho mình nắm bắt được những ưu thế, sự tinh tế đối với sứ mệnh hoằng pháp trong thời hiện đại, mà ta cố gắng khéo tu, khéo hoằng truyền… làm sao độ tận chúng sanh; làm sao để Phật pháp ngày càng được phổ cập khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp nhân dân; và làm sao cho tất cả chúng sanh đều được giác ngộ, lìa khổ được vui.

Tuệ Đăng
Tuệ Đăng
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z