Phật Giáo

Giải mã Kinh Niệm Xứ chặng đường thoát khỏi khổ đau (P.13)

Thứ năm, 17/06/2016 | 10:15

Tất cả các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần đều phải vô ngã chấp và vô ngã mạn với chúng, điều này có nghĩa không nên chấp thủ vào năm uẩn là của ta, là ta, là tự mãn nơi ta (ngã chấp) và dựa vào đó so sánh hơn thua với người khác (ngã mạn).

4.2.5 Quán pháp Vô thường, Khổ, Vô ngã trên nội- ngoại pháp Năm Thủ Uẩn

“Sắc,… Thọ,…Tưởng,…Hành,…Thức, này các Tỳ kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc…
 
Này các Tỳ kheo, nếu vị Tỳ kheo đối với sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối với thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành giới... đối với thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” (Tóm lược bài kinh III.Vô Thường, TƯ3, 44a = [Ve.7.45])

Trong đoạn kinh trên:

- ‘Cái này không phải của tôi’ là đối với ngoại năm thủ uẩn (kể cả sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
- ‘Cái này không phải là tôi’ là đối với nội năm thủ uẩn (kể cả sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
- ‘Cái này không phải tự ngã của tôi’ là đối với nội - ngoại năm thủ uẩn (kể cả sáu căn và sáu trần).
- Khái niệm sắc giới, thọ giới, tưởng giới, hành giới và thức giới có nghĩa bao gồm cả nội và ngoại năm uẩn.

Vì sự chấp thủ nội năm thủ uẩn và chấp thủ ngoại năm thủ uẩn có liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, giống như hai mặt của một bàn tay; do đó cần phải quán nội-ngoại pháp năm thủ uẩn một cách kết hợp. Như vậy theo cách quán kết hợp nội-ngoại pháp, khái niệm ‘Vô ngã’ là khái niệm tổng hợp của hai khái niệm: Vô ngã chấp và vô ngã mạn.

Đoạn kinh sau đây đức Thế Tôn dạy cho Vacchagotta là minh chứng cụ thể: “- Này Vaccha, tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ. Nhưng này Vaccha, đây là điều Như Lai đã thấy: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt; đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt; đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt; đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt; đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt”. Do vậy, ta nói rằng, với sự đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả ảo tưởng của tất cả hôn mê, của tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên, mà Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ.”

Ngã kiến, ngã sở kiến là ngã chấp kiết sử thuộc nội pháp. Mạn tùy miên chính là ngã mạn kiết sử thuộc ngoại pháp. “Đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả ảo tưởng của tất cả hôn mê, của tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên” chính là vô ngã chấp và vô ngã mạn, hai pháp này gọi chung là vô ngã theo cách quán nội-ngoại pháp Năm thủ uẩn.

Theo đó cần nhận thức và thực hành đầy đủ: Có thắng tri thấy rõ bản chất vô thường, khổ đau của sắc-thọ-tưởng-hành-thức mới không chấp thủ năm uẩn là của ta, là ta, là tự ngã nơi ta; nhờ vậy mới không khổ đau vì ngã chấp. Đồng thời cũng không dựa vào đó để so sánh hơn thua với người, nhờ thế mới đoạn dứt được khổ đau do ngã mạn kiết sử gây ra. Có thường xuyên thực hiện cả hai cách quán song hành như trên mới chặt đứt được sợi dây Chấp mạn kiết sử.

Điều quan trọng cần nhắc lại thêm: Do chấp thủ năm uẩn là ta, là tự ngã nơi ta nên cũng dễ dàng dẫn đến chấp thủ năm uẩn và các pháp bên ngoài cũng là của ta, thuộc về ta. Chính vì chấp thủ như vậy nên khi các ngoại pháp này thay đổi, biến hoại theo quy luật vô thường cũng khiến cho ta bị sầu, bi, khổ, ưu, não theo.

Ngược lại, nếu biết quán xét và tác ý rằng bản thân mình vô thường và các ngoại pháp cũng vô thường nên thực chất chúng cũng không có gì là sở hữu của ta, thuộc về ta. Nhờ biết thường xuyên như lý tư duy nhắc tâm như vậy, nên dù các ngoại pháp có biến diệt thế nào thì cũng không gây hệ luỵ cho mình, đúng như lời dạy trong kinh Pháp Cú số 62:

“Con tôi, tài sản tôi, 
Người ngu sinh ưu não, 
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu.”

Người học Phật cần tham khảo thêm Đại Kinh Mãn Nguyệt (TB3, 109 = [Sb.21]), trong đó đức Phật phân tích rất kỹ về năm uẩn và năm thủ uẩn. Trong bài kinh này có đoạn đức Phật dạy cách quán vô ngã chấp và vô ngã mạn có liên quan với nhau trong mối liên hệ giữa nội và ngoại pháp năm thủ uẩn, đồng thời phủ nhận cách hiểu vô ngã là vô ngã tánh.
 
Trong bài kinh này một Tỳ-kheo đã hỏi đức Thế Tôn: “- Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài?

- Này Tỳ kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Phàm có thọ gì... tưởng gì... hành gì... phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
 
Này Tỳ kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài.

Rồi một Tỳ kheo khác khởi lên sự suy tư như sau: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?”

Thế Tôn biết được tâm tư của Tỳ kheo ấy với tâm tư của mình, liền nói với các Tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Ðạo sư với câu hỏi: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?” Này các Tỳ kheo, các Ông đã được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ kheo, sắc là thường hay vô thường?...”

Rõ ràng vị Tỳ-kheo thứ hai đã hiểu ‘vô ngã’ là vô ngã tánh (không có tự tánh, không có cái ta) nên mới thắc mắc ‘ngã nào’ cảm thọ kết quả và đã bị đức Thế Tôn khiển trách nặng nề. Các Tỳ-kheo cần phải ý thức rõ điều này để không bị xếp vào loại ‘ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối’.

Thật vậy, chính vì ‘ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối’ nên mới không hiểu rằng tất cả các pháp đều có ngã tánh cụ thể và do duyên kết hợp mà thành. Cái xe có ngã tánh của cái xe, bánh xe có ngã tánh của bánh xe, khung xe có ngã tánh của khung xe, mui xe có ngã tánh của mui xe.

Chỉ có điều, ngã tánh chủ thể ‘cái xe’ được tồn tại dựa trên sự tồn tại và kết hợp của các ngã tánh cá thể ‘bánh xe’, ‘khung xe’, ‘mui xe’. Cho nên dù các ngã tánh cá thể này vẫn tồn tại nhưng khi các duyên kết hợp của các ngã tánh cá thể này không còn, thì chủ thể “cái xe” cũng không còn. Điều này không thể nói các pháp là vô ngã tánh được, và càng không thể dựa vào đây để phủ định Bốn Thánh Chân Lý (vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo) của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trừ khi là có ý đồ bất thiện.

Cũng vì ‘ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối” nên mới không hiểu rằng các pháp đều do duyên hợp, vì thế chúng cũng vô thường. Cái xe, bánh xe, khung xe, mui xe dù có cứng rắn, quý giá đến đâu chăng nữa cũng không thoát khỏi quy luật vô thường, nay còn mai mất. Cho nên một người có trí không chấp cái xe là ta, ta là cái xe, cái xe là của ta (vô ngã chấp), và không dựa vào cái xe để hơn thua với nhau (vô ngã mạn); nhờ vậy mới tránh được đau khổ vì cái xe. Đây mới chính là ý nghĩa thiết thực hiện tại của khái niệm ‘vô ngã xe’.

Ngược lại quan niệm cái xe là vô ngã tánh, từ đó dẫn đến phủ nhận tất cả các pháp cũng không có ngã tánh giúp diệt khổ như thế nào đây?

Vị nào chủ trương như thế có dám tự ‘phân rã’ thân năm uẩn - tứ đại của mình để chứng minh mình cũng vô ngã tánh như cái xe?

Có dám chấp nhận bị đòn 100 roi để chứng minh thọ uẩn không có ngã tánh lạc hay khổ? sắc uẩn cũng là không? Mà dù có dám chăng nữa, nhưng khôn ngoan và trí tuệ ở chỗ nào đây?

Có dám ăn cả đồ dơ bẩn để chứng minh các pháp là vô ngã tánh, không dơ không sạch? Mà dù có dám chăng nữa, nhưng như vậy có hơn gì các sinh vật cấp thấp?
 
Hiểu các pháp là vô ngã tánh như vậy, có thực tế không và có giá trị gì ở đây?

Về phương diện thực hành, điều cần ghi nhớ là luôn phải kết hợp pháp quán vô thường - khổ - vô ngã cùng với pháp như lý tác ý thích đáng để đoạn diệt những kiết sử tuỳ miên (ngủ ngầm, tiềm ẩn) cũng như những niệm kiết sử phát khởi hiện hành. Trong trường hợp có sự chấp thủ cả hai nội và ngoại pháp, ở đây không có gì rõ ràng cụ thể hơn lời dạy của đức Thế Tôn trong kinh Đoạn Giảm:

Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận,- chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy” (TB1, 8 = [Sb.1.3])

Trong đoạn kinh trên cũng như nhiều bài kinh liên hệ đến năm thủ uẩn, cụm từ “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi” được nói đến rất nhiều lần, đây chính là câu như lý tác ý để đoạn trừ và tẩy rửa các niệm chấp mạn kiết sử sau khi đã quán sát tánh vô thường, khổ đau và không thể làm chủ được chúng. Trong lời dạy trên, cần lưu ý hai từ ‘đoạn trừ’ và ‘xả ly’. Điều này có nghĩa câu tác ý ‘Cái này… của tôi’ vừa có tác dụng đoạn trừ các sở kiến về ngã luận và thế giới luận đã phát khởi, đồng thời tẩy rửa các ngã kiến tùy miên còn ngủ ngầm để xả ly chúng khỏi tiềm thức.
 
Khi tu tập pháp môn này, người học Phật hãy xem như mình có phước duyên hy hữu được chính đức Thế Tôn hỏi và mình lần lượt trả lời: “Sắc là thường hay vô thường?

- Vô thường, bạch Thế Tôn.

- Những gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, bạch Thế Tôn.

- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn (tiếp tục với Thọ, Tưởng, Hành và Thức)”. Sau đó phải nhớ lập lại câu Như lý tác ý nêu trên (nếu cần hãy xem nó như câu thần chú siêu việt).

Cứ như vậy cho đến lúc người tu tách biệt được ‘mình’ ra khỏi thân năm uẩn của ‘ta’, giống như trường hợp ‘mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai’. Được như vậy là người học Phật đã làm được rất nhiều, đã bớt được biết bao khổ đau phiền não do bị trói cột bởi chấp thủ năm uẩn (dĩ nhiên đây không phải trạng thái tâm thần phân liệt, vì người tu luôn có ý thức tỉnh giác rõ ràng).

Ví dụ trong khi ngồi thiền nếu có cảm giác thích thú hay khó chịu khởi lên, người tu không nên chấp thọ ấy là ta, ta là thọ ấy, không tham đắm cũng không bực bội, hãy tập quán sát chúng. Khi cảm thọ phát sinh, hãy xem các cảm thọ ấy như một loại “định tướng” của thiền để quán sát chúng.

“10. Lại nữa, này các Tỳ kheo, quán sát tướng được vị Tỳ kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.

11. Ví như, này các Tỳ kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, quán sát tướng được Tỳ kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.

Này các Tỳ kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.” (Bài kinh Năm Chi Phần, TC2, C5, III. Phẩm Năm Phần, số 28, tr.339- 346 = [I.5.28]).

Cũng vậy, ta như một người quán sát (tướng thọ của) một người khác, như người đứng quán sát (tướng thọ của) người ngồi, hay người ngồi quán sát (tướng thọ của) người nằm. Các ‘tướng’ khác cũng cần tập quán sát như vậy, đừng chấp thủ chúng là ta, là của ta. Cố gắng tu tập theo đây mới giúp tâm định tĩnh, thoát khỏi chấp thủ trước các cảm thọ cũng như các pháp khác.

Và khi đó, nếu có một người cung kính quỳ lạy, ca ngợi sắc-thọ-tưởng-hành-thức của ‘ta’, thì ‘mình’ như một người thứ ba vô can, đứng ngoài khách quan quán sát nên không vì thế ham thích ngạo mạn. Ngược lại, khi thân năm uẩn của ‘ta’ có biến diệt đổi thay, thì ‘mình’ cũng như một khán giả vô tư đang xem các diễn viên đóng kịch, nhờ vậy sẽ bớt được rất nhiều đau buồn, khổ sở.

Duy trì được điều này, người tu xem như đã tránh được biết bao đau khổ từ sự trói cột của sợi dây ngã chấp và ngã mạn kiết sử - gọi chung là chấp mạn kiết sử hay mạn kiết sử. Một người tu tập Bốn Niệm Xứ tinh cần, luôn quán sát thân tâm một cách chặt chẽ sẽ thấy chấp mạn kiết sử rất bền chắc và nguy hiểm; sẽ thấy các niệm liên quan đến chấp thủ mình, chấp thủ người khác, chấp thủ mình và người khác hiện ra trói cột tâm rất nhiều.

Người tu cần phải cảnh giác và kiên trì thực hiện đúng lời Phật dạy một cách tích cực mới có thể đoạn trừ dần được phiền não phức tạp và vi tế này. Xin chớ coi thường để rồi bị năm sợi dây thòng lọng của năm thủ uẩn treo ngược ta vào với đau khổ!

Một điểm cần lưu ý thêm, trong bài kinh Khema, hai Tỳ-kheo Khema và Sumana đã trình bày nhận thức của mình về vô ngã nhưng mới chỉ hiểu một khía cạnh của vô ngã là vô ngã mạn, không đề cập đến khía cạnh thứ hai của vô ngã là vô ngã chấp. Đức Thế Tôn tuy khả chứng cho nhận thức ấy, nhưng Ngài cũng khuyến cáo rằng hiểu vô ngã chỉ một mặt như vậy vẫn còn là những kẻ ngu si, ngạo mạn nên vẫn còn bị nguy hại về lâu dài:

“Như vậy, này các Tỳ kheo, các thiện nam tử nói lên chánh trí, có nói đến mục đích, nhưng không đề cập đến tự ngã. Tuy vậy, ở đây một số kẻ ngu nói lên chánh trí một cách ngạo mạn đắc chí. Họ về sau rơi vào nguy hại” (TC VI:49, tr.131 = [I.6.49]).
 
Sự nguy hại đầu tiên của việc không đề cập đến tự ngã là sẽ rơi vào tà kiến ngộ nhận ‘vô ngã’ thành ‘vô ngã tánh’ tức không có ngã tánh, không có cái ta, không có cái bản thể. Rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn đương thời Phật đều mắc phải tà kiến này. Ngay cho dù đức Thế Tôn đã nhiều lần khuyến cáo cách hiểu sai lầm này, thế nhưng xem ra các luận sư Bà-la-môn đương thời Phật, và cả sau này, vẫn không thoát khỏi chấp thủ vào truyền thống tà kiến của mình, cho nên họ vẫn còn tiếp tục bị ngộ nhận và lầm lạc.

Trong thực tế, năm uẩn cũng như tất cả các pháp khác đều có ngã tánh riêng biệt cụ thể, nhờ vậy mới phân định được ‘đây là sắc, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, đây là thức’. Thế nhưng không nên chấp thủ sai lạc năm uẩn để rồi dẫn đến quan niệm ta có tự ngã hay không có tự ngã.

Để dễ hiểu, có thể ví năm uẩn như ngôi nhà chúng ta đang sống. Sự hiện hữu của căn nhà với đầy đủ ngã tánh của nó là một thực tế không thể phủ nhận. Chính nhờ có ngã tánh căn nhà nên mới phân định được ‘nhà ở’ với ‘nhà thương’, ‘nhà xác’, ‘nhà trẻ’, ‘nhà tù’… Thế nhưng sự hiện hữu của căn nhà là vô thường, vì thế ta không nên chấp ‘nhà ở’ là của ta, ta là căn nhà, căn nhà là ta; và cũng không nên dựa vào căn nhà để hơn thua với người khác, nhờ vậy mới tránh được đau khổ vì căn nhà. Đây là tri kiến chánh trực và thực tiễn.

Ngược lại, dựa vào sự vô thường của căn nhà để rồi phủ nhận sự thật hiện hữu của căn nhà là một sai lầm ấu trĩ, một hoang tưởng tà vạy, và càng rồ dại hơn khi dựa vào đây phủ nhận các sự thật khác. Càng tệ hại hơn nữa khi dựa vào sự hoang tưởng phi thực tế này phủ nhận cả bốn sự thật thuộc về chân lý của Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Có thể nói đây là kiểu nguỵ biện đầy nham hiểm của tà kiến, hoặc nếu không thì cũng là hệ quả của sự loạn tưởng đến tận cùng.

Chính vì thế, chấp thủ ‘căn nhà năm uẩn’ dẫn đến chấp thủ ‘ta có tự ngã’ là một cực đoan của vô tri, vô minh; trái lại phủ nhận không có ‘căn nhà năm uẩn’ dẫn đến chấp thủ ‘ta không có tự ngã’ lại là một cực đoan thứ hai của vô tri, vô minh không kém. Trong kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc, đức Phật đã khẳng định rõ những nhận thức này đều thuộc về tà kiến:

“Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: “Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn…” (TB1, 2 = [U.4.4d])

Cụ thể hơn, trong bài kinh ‘Ānanda hay Sự Có Mặt Của Ngã’ (Lưu ý tựa đề. PNGP), dù du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hai lần hỏi đức Thế Tôn ‘Có tự ngã không?’ nhưng Ngài đều im lặng không trả lời, sau đó Ngài đã dạy cho tôn giả Ānanda:

“Này Ānanda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, này Ānanda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.
 
- Và này Ānanda, nếu được hỏi: “Có phải không có tự ngã?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Không có tự ngã”, như vậy, này Ānanda, là thuộc về phái các Sa- môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.

- Lại nữa, này Ānanda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: “Tất cả các pháp là vô ngã”?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Lại nữa, này Ānanda, nếu được hỏi: “Có phải không có tự ngã?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Không có tự ngã”, như vậy, này Ānanda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: “Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa” (TƯ4, 400 = [Sb.38.10]).

Xin lưu ý: Các pháp (năm uẩn) đều có ngã tánh cụ thể, nhưng đừng chấp thủ chúng để không rơi vào biên chấp ta có tự ngã hay không, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau, cần phân biệt rõ. Bên cạnh đó, Đức Chánh Biến Tri cũng đã vạch trần cả những kiểu hý luận ‘trườn uốn như con lươn’ của các ngoại học mà sau này một số người vẫn mắc phải khi giải thích lươn lẹo vô ngã không phải như thế này, vô ngã không phải như thế kia:

“Này các Tỳ kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn:... Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế… tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây” (Kinh Phạm Võng, số 1, Trường Bộ 1 = [So.38.49]).

Đến đây, những ai đã tuệ tri năm uẩn và năm thủ uẩn đều phải hiểu rằng ‘vô ngã’ chính là vô ngã chấp và vô ngã mạn, hoàn toàn không phải là vô ngã tánh. Và như vậy câu ‘Tất cả các pháp là vô ngã’, xét trong mối quan hệ với năm thủ uẩn, cần phải được hiểu một cách chính xác và đầy đủ, đó là:

Tất cả các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần đều phải vô ngã chấp và vô ngã mạn với chúng, điều này có nghĩa không nên chấp thủ vào năm uẩn là của ta, là ta, là tự mãn nơi ta (ngã chấp) và dựa vào đó so sánh hơn thua với người khác (ngã mạn).

Tuyệt đối không nên hiểu ‘Vạn pháp là vô ngã tánh’ vì những ngộ nhận phi thực tế này đã, đang và sẽ nhấn chìm những ai tin theo nó sa lầy vào những tà kiến nguy hiểm, những hý luận hư vô ngớ ngẩn cùng những sự phủ định sạch trơn tai hại.

Tóm lại, nói theo ngôn ngữ Bốn Niệm Xứ, các nhận thức trên nằm trong phương pháp Quán pháp Vô thường, Khổ, Vô ngã trên nội -ngoại pháp Năm thủ uẩn để đoạn trừ tham ưu do chấp mạn kiết sử gây ra.
 
4.2.6 Quán tánh sinh khởi, tánh đoạn diệt, tánh sinh diệt trên pháp Năm Thủ Uẩn

Trong bài kinh Thủ Chuyển (TƯ3, 58 = [Ve.7.56]), đức Thế Tôn đã dạy pháp ‘bốn chuyển’ gồm có: Thắng tri năm uẩn, thắng tri năm uẩn tập khởi, thắng tri năm uẩn đoạn diệt, thắng tri con đường đưa đến đoạn diệt chấp thủ năm uẩn (lẫn không còn tái sinh luân hồi). Trong bài kinh này sau khi định nghĩa về năm uẩn, đức Phật đã chỉ rõ:

- Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.

- Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.

- Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt.

- Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt.

- Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt.

- Con đường đưa đến đoạn diệt năm thủ uẩn là con đường Thánh đạo tám ngành gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Với lời dạy trên, nếu chú ý hơn nữa người học Phật có thể nhận thấy ‘Xúc’ chính là nhân duyên tập khởi cho cả ba uẩn: Thọ, tưởng và hành. Điều này có nghĩa: Nếu xúc ‘trắng’ (tiếp xúc chánh pháp, thiện hữu tri thức…) thì thọ, tưởng, hành theo đó cũng ‘trắng’; ngược lại xúc ‘đen’ thì thọ, tưởng, hành cũng ‘đen’ theo.

Lại nữa, thắng tri được ý nghĩa này sẽ dễ dàng hiểu được vì sao xuyên suốt trong kinh tạng Nikāya pháp môn biệt trú độc cư luôn được đức Thế Tôn nhấn mạnh và nhắc nhở các Tỳ-kheo. Đây là yếu tố hết sức quan trọng nhằm đạt được chánh định để đi tới giác ngộ giải thoát cho mình từ đó mới giúp được cho người khác.

Chính bản thân đức Phật cũng tự thân giáo hóa và nêu gương thực hiện phương pháp này với hai ý nghĩa tự lợi - lợi tha rõ ràng: “Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sinh trong tương lai” (Kinh Khiếp đảm và sợ hãi, TB1, 4 = [So.1.29]).

Để hiểu rõ hơn ý nghĩa diệt khổ của cách quán này, người học Phật cần tham khảo thêm về cách quán 12 Chi Phần Nhân Duyên đã được giới thiệu trước đây. Trong mối liên hệ nhân duyên, trong Tương Ưng Uẩn có bài kinh Thiền Định (TƯ3,13 = [Ve.7.5]) được xem như tiêu biểu cho cách quán tánh sinh khởi và đoạn diệt năm thủ uẩn.
 
 Người tu Bốn Niệm Xứ cần tham khảo kỹ những bài kinh trong chương này.

Tóm lại, để tu tập quán pháp Năm thủ uẩn một cách thực tế, người học Phật cần thực hiện bốn nội dung chính sau đây:

(1) Trước hết cần phải nhận thức đầy đủ và phân biệt rõ các khái niệm thuộc về năm uẩn, năm thủ uẩn, ngã chấp, ngã mạn, chấp mạn kiết sử, vô ngã, vô ngã chấp, vô ngã mạn.

(2) Sau đó cần luôn ghi nhớ ‘có các pháp ở đây’ là các pháp vô thường, khổ, vô ngã và quán xét chúng trên các pháp năm thủ uẩn (tự hỏi và trả lời như đã nói ở trên) để tẩy rửa dần các chấp mạn kiết sử tuỳ miên trong nội tâm. Đồng thời phải quán xét những nguyên nhân nào khiến tâm hay sinh khởi những niệm chấp thủ năm uẩn, và phải quán các cách ngăn chận đoạn trừ chúng.

(3) Hoặc khi một niệm chấp thủ năm uẩn nào tập khởi thì ngay đó phải tỉnh giác phát hiện xem đó là niệm chấp thủ sắc, hay chấp thủ thọ, hay chấp thủ tưởng, hay chấp thủ hành, hay chấp thủ thức. Và tuỳ theo tính chất của niệm đó thuộc nội, ngoại hay nội-ngoại pháp để quán pháp vô thường, khổ, vô ngã tương ưng trên niệm đó.

(4) Cuối cùng phải luôn ghi nhớ như lý tác ý ‘cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã nơi ta’ để đoạn diệt năm thủ uẩn tận gốc.
 
Trên đây là nội dung ý nghĩa của đoạn kinh: “Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sinh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sinh diệt trên các pháp.

“Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ kheo, như vậy là Tỳ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn”.

Tỳ Kheo Pani Giới Pháp
Trích trong Giải mã Kinh Niệm Xứ chặng đường thoát khỏi khổ đau
Còn nữa...

TIN, BÀI LIÊN QUAN:

Pani Giới Pháp
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z