Thứ tư, 24/04/2019 11:03 (GMT +7)

| Hà Nội 34°C /57%

Thứ năm, 05/06/2014, 09:38 AM

Phật giáo Nam tông Khmer và Tinh thần ngày 10.6.1974

Đỉnh cao là ngày 10/06/1974, tại tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá), với sự vận động và dẫn đầu của chư Tăng, chư Tăng Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước, hơn hai ngàn chư tăng, phật tử Khmer và một số đồng bào Kinh-Hoa tham gia biểu tình, bất chấp nắng mưa, bom đạn, hay kẽm gai.

THAM LUẬN

Hội thảo Khoa học Phật giáo Nam Tông Khmer đồng hành cùng dân tộc
“Tinh thần sự kiện ngày 10/06/1974 bốn vị sư Khmer đã anh dũng hy sinh”

 

Trang sử Phật           

Đồng thời là trang sử  Việt,           
Trải bao độ hưng suy           
Có nguy mà chẳng mất
….” 

                                                                           (Hồ Zếnh)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày bốn vị sư Khmer hy sinh vì sự nghiệp trường tồn của đạo pháp, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tổ chức Hội thảo Khoa học với chủ đề: Phật giáo Nam tông Khmer đồng hành cùng dân tộc.

Đề tài của tham luận: “Tinh thần sự kiện ngày 10.6.1974 bốn vị sư Khmer đã anh dũng hy sinh

 

1.- Lịch sử Phật giáo Nam tông Khmer

Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Phật giáo là một thể thống nhất, trọn vẹn, không phân chia hệ phái. Chỉ đến khi Đức Phật nhập Niết bàn, các đệ tử Phật tập trung nhau lại đọc tụng, ghi nhớ những điều Phật dạy, khi đó mới xuất hiện những quan điểm, hệ tư tưởng khác biệt về việc thực hành giới Luật.

Sự kiện bắt đầu vào lần kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Tỳ Xá Ly, sau khi Phật nhập niết bàn hơn 100 năm, để luận giải kinh điển, thực hành giới luật và tranh luận về 10 điều luật mới, do một bộ phận tỳ kheo trẻ đưa ra đã hình thành sự phân phái trong Phật giáo…

Trong 10 điều luật mới một bộ phận tỳ kheo trẻ đưa ra và cho là hợp chánh pháp, đó là: giáo diêm tịnh (được đem muối đựng trong sừng để bỏ vào các món ăn khi không đủ muối); lưỡng chỉ sao thực tịnh (bóng nắng quá ngọ 2 ngón tay vẫn được ăn); tụ lạc gian tịnh (trước ngọ ăn rồi nhưng đến làng khác vẫn được phép ăn); trụ xứ tịnh (ở đâu thì làm lễ Bố tát ngay ở đó); tuỳ ý tịnh (quyết nghị đã được Đại hội dù ít dù nhiều cho thông qua đều có giá trị thi hành); cửu trú tịnh (noi theo điều lệ, tập quán); sinh hoà hợp tịnh (được uống sữa pha nước sau giờ ngọ); thuỷ tịnh (rượu mới lên men được pha với nước uống trị bệnh); bất ích lũ Ni sư đàn tịnh (được dùng toạ cụ không viền, kích thước lớn hơn mẫu định); thọ súc kim ngân tiến định (được nhận tiền vàng bạc cúng dường). Các vị tỳ kheo lớn tuổi không chấp nhận, chủ trương giữ nguyên điều đức Phật dạy, tôn trọng lối truyền thừa.

Các vị tỳ kheo trẻ không chịu, vì cho rằng có một số vấn đề đặt trong sự phát triển của xã hội không còn phù hợp nữa, nên thấy cần thiết phải sửa đổi một số điểm khi ghi vào kinh sách nên chủ trương hành đạo theo tinh thần "Khế lý - khế cơ", phù hợp với căn cơ, hoàn cảnh từng thời kỳ, từng vùng, miền của chúng sanh. Các vị sư có quan điểm khác nhau sau nhiều ngày tranh luận đã không tìm được tiếng nói chung, không thống nhất được quan điểm, nên cuối cùng đã hình thành hai phái: Những vị sư chủ trương giữ nguyên giới luật chiếm số ít và là những vị cao tuổi, ngồi bên trên để chủ trì Pháp hội nên được gọi là phái Thượng tọa bộ.

Những vị sư trẻ chiếm số đông nên gọi là phái Đại chúng bộ. Sau đó phái Đại chúng bộ truyền lên phía Bắc sang Trung Quốc… được gọi là Phật giáo Bắc tông hay Bắc truyền. Phái Thượng tọa bộ truyền về hướng Nam, phát triển xuống Srilanca, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào… nên được gọi là Phật giáo Nam tông hay Nam truyền.

Phật giáo hệ Nam tông nghiêm trì giữ theo giới luật nguyên thủy và đọc tụng chủ yếu 5 bộ kinh khởi đầu, do đó Phật giáo Nam tông cũng được gọi là Phật giáo nguyên thủy.

Phật giáo Nam tông được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo đường biển tới Srilanca, Mianma, Thái Lan tới vùng sông Mê Công (Campuchia) và vào vùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (phía Nam) của Việt Nam, được đông đảo người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer đón nhận, trở thành tôn giáo của người Khmer, do đó gọi là Phật giáo Nam tông Khmer.

Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long từ rất sớm (vào khoảng thế kỷ thứ IV). Đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đại bộ phận các phum sóc của người Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6-2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa với 8.574 vị sư (=19,3% tổng số sư trong cả nước), tập trung chủ yếu ở các tỉnh (thành phố) Đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau…).

Theo phong tục của người Khmer, khi người con trai đến tuổi 12, 13 phải vào chùa tu một thời gian với một hay nhiều ý nghĩa: trả hiếu cho ông bà, cha mẹ; để thực hiện tình cảm, trách nhiệm đối với dân tộc; để tỏ lòng thành kính với Đức Phật… Các thanh niên này cần phải tu tối thiểu ở chùa là một tháng, cũng có thể ở chùa tu lâu dài hoặc suốt đời, tùy theo nhân duyên, căn cơ và ý nguyện của từng người. Sau thời gian một tháng họ có thể xin ra khỏi chùa (xuất tu) trở lại cuộc sống đời thường bất cứ lúc nào, họ có thể lập gia đình, làm ăn, tham gia các công việc xã hội, khi muốn họ lại có thể xin vào chùa tu một thời gian rồi sau đó lại có thể trở về với gia đình…

Người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long quan niệm, bất cứ người con trai Khmer nào cũng cần phải qua tu hành một thời gian để trau dồi đạo hạnh, trang bị tri thức và cách sống làm người. Người đã trải qua thời gian tu hành ở chùa được cộng đồng người Khmer nhìn nhận và đánh giá cao, mới dễ lập gia đình và dễ được tiếp nhận làm các công việc xã hội. Quan niệm này ảnh hưởng rất lớn đến người Khmer cũng như người theo Phật giáo Nam tông ở các quốc gia khác.

Theo truyền thống, Phật giáo Nam tông Khmer không có người nữ đi tu ở chùa, tuy nhiên những người phụ nữ Khmer lại được giáo dục và ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng và đạo đức Phật giáo, thông qua nếp sống của những người đàn ông trong gia đình (là những người ông, người cha, người chồng) và thông qua các lễ hội, các buổi nhà sư thuyết giảng giáo lý và nghi thức truyền thống mang đậm nét Phật giáo của dân tộc Khmer: Lễ Phật đản; lễ Dâng y; nghi thức dâng cúng vật phẩm cho chư tăng; lễ Chol Chnam Thmay (như Tết nguyên đán ở Việt Nam); lễ Đôn-ta (lễ cúng ông bà); lễ cúng Trăng… Dù là lễ của Phật giáo hay lễ dân tộc nhưng mọi hoạt động này đều gắn liền với các nghi thức tôn giáo bởi mọi người cùng đến chùa, đọc kinh, thả đèn lồng… và có sự tham gia của các vị sư.

Giống như Phật giáo Bắc tông, sư tăng Phật giáo Nam tông cũng thọ giới qua các bậc Sadi và Tỳ kheo, tuy nhiên số lượng giới phải giữ có sự khác biệt.

Đối với Phật giáo Nam tông:

- Người thọ giới Sa di phải giữ 105 giới.

- Người đã thọ  giới Sa di được thọ giới Tỳ kheo phải giữ 227 giới.

Cũng có thể người đi tu nếu không muốn thọ giới Tỳ kheo thì có thể giữ ở bậc Sa di suốt đời.

Người nam đi tu theo Phật giáo Nam tông trên tinh thần tự nguyện, tuy nhiên chỉ được nhận vào chùa và được thọ giới Sa di khi đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản:

- Phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng (nếu còn nhỏ). Người nam đã có gia đình muốn vào chùa tu phải được sự đồng ý của vợ.

- Phải là công dân tốt, không trong tình trạng vi phạm pháp luật.

- Phải có thầy dẫn dắt và có những vật dụng cần thiết của một nhà sư.

Về đời sống hàng ngày, Phật giáo Nam tông thực hành theo giới luật Phật giáo Nguyên thủy, nên không ăn chay như Phật giáo Bắc tông, các nhà sư sống bằng sự dâng cúng thức ăn mỗi ngày của Phật tử. Các sư chỉ ăn hai bữa một ngày, vào buổi sáng sớm và trước giờ Ngọ (12 giờ trưa).

Sau 12 giờ trưa cho đến hết đêm nhà sư chỉ được dùng vật lỏng để uống, như: nước, sữa, trà… Trong một năm có thời gian do bận việc mùa vụ, Phật tử không được rảnh rỗi thì Ban Quản trị chùa có thể trao đổi với các gia đình Phật tử dâng cúng theo từng ngày nhất định, tránh ngày thì quá nhiều, ngày lại quá ít. Nếu tín đồ bận, các sư có thể nhận thực phẩm do các gia đình dâng cúng, đem về chùa nhờ người chế biến.

Đối với người Khmer, các vị sư có vị trí và ảnh hưởng rất lớn. Nhà sư được coi là đại diện cho Đức Phật để truyền dạy và giáo hóa chúng sanh, bởi vậy vị sư luôn là người thầy được tôn kính và tin tưởng. Theo truyền thống từ xa xưa của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long, tuyệt đại bộ phận người dân theo Phật giáo thuộc hệ phái Nam tông, do đó khi nói đến dân số người Khmer ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc có thể hiểu đó là số lượng phật tử, tín đồ Phật giáo (trừ những vị sư đang tu trong chùa được coi là nhà tu hành). Có thể nói, đời sống thường nhật của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer không thể tách rời. Đúng là Phật giáo Nam tông Khmer luôn đồng hành cùng dân tộc.

Các vị sư đến chùa tu đều là con em của đồng bào dân tộc Khmer, chùa là nơi tu hành của các vị sư sãi, là nơi làm lễ của đồng bào, là nơi giáo dục đào tạo dạy chữ, dạy nghề cho con em , là trung tâm văn hóa của dân tộc, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế tự, điêu khắc, trạm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lễ hội dân gian)… đồng thời cũng là nơi thờ cúng những người thân của đồng bào dân tộc Khmer sau khi mất. Sinh hoạt trong gia đình, cộng đồng Phum, Sóc của người Khmer đa phần đều gắn với tín ngưỡng và triết lý của đạo Phật.

Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cộng đồng đều có sự tham dự của các vị sư. Đại bộ phận các ngôi chùa Khmer đã trở thành nơi hội tụ, điểm đến và là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã Khmer Việt Nam.

Năm 1964 Phật giáo Khmer Nam bộ thành lập Hội đoàn kết sư sãi yêu nước khu Tây Nam bộ do Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng. Tiếp sau đó là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long lần lượt thành lập, hoạt động. Hội đoàn kết sư sãi yêu nước đã là nơi quy tụ sư sãi, đồng bào, Phật tử Khmer nêu cao tinh thần yêu nước, đấu tranh đòi độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Phật giáo Nam tông Khmer luôn sát cánh cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến đến ngày toàn thắng.

Sau năm 1975, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ nói chung và Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ở các tỉnh nói riêng vẫn tiếp tục hoạt động, tập hợp sư sãi, đồng bào Phật tử tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết nước nhà. Đến năm 1980, ủng hộ chủ trương chung của các vị lãnh đạo các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước cũng như thể theo ý nguyện của đông đảo tăng, ni, phật tử trong cả nước, đại diện Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ đã tham gia Ban vận động thống nhất Phật giáo trong cả nước và đến tháng 11/1981, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ do Hòa thượng Dương Nhơn làm trưởng đoàn cùng với 8 tổ chức, hệ phái Phật giáo đã thống nhất thành lập một tổ chức chung đại diện cho tăng, ni, phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nước, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay tại Lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định: "Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp".

Trong thành tựu chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 33 năm qua Phật giáo Nam tông Khmer tiếp tục có những đóng góp công sức xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đất nước Việt Nam vững mạnh và trường tồn, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, xứng đáng với truyền thống của Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc qua mọi thời đại. 

 

2.- Tinh thần sự kiện ngày 10-6-1974 bốn vị sư Khmer đã anh dũng hy sinh

Đỉnh cao là ngày 10 tháng 6 năm 1974, tại tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá), với sự vận động và dẫn đầu của chư Tăng, chư Tăng Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước, hơn hai ngàn chư Tăng phật tử Khmer và một số đồng bào Kinh-Hoa tham gia biểu tình, bất chấp nắng mưa, bom đạn, hay kẽm gai.

Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi hoàn cảnh. Phật giáo hòa vào dân tộc như nước với sửa, như tim với óc của một cơ thể con người. Lúc đất nước hưng thịnh cũng như lúc suy, Phật giáo luôn gắn liền trách nhiệm của mình đối với đất nước, đối với dân tộc. Chư Tăng phật tử thể hiện tinh thần Từ, Bi, Hỷ, Xả, bằng những hành động cụ thể và thiết thực vào cuộc sống tu hành.Và cũng có những vị phải xả thân, xả y cà sa để cùng đồng bào phật tử đòi lại mãnh vườn, đám ruộng, đòi lại từng hạt lúa, bát cơm để nuôi những người còn lại giữ gìn phum sróc và chư Tăng cố gắng tu hành dâng hương, tụng kinh, niệm phật, giữ chùa…

Sau mùa hè đỏ lửa năm 1972, Miền Nam Việt Nam lúc nào cũng sôi sục khói lửa bom đạn, chùa chiền nông thôn thì hoang tàn, phum sróc vắng lặng; để có đủ quân số, Mỹ- Nguỵ không những bắt con em Phật tử đi lính mà còn bắt chư Tăng phải cởi áo Cà-sa gởi lại với đức Phật rồi theo chúng cầm súng, giết hại nhân dân vô tội.

Chư Tăng không cam chịu cảnh gia đình Phật tử người thì mất chồng, kẻ mất vợ, người thì mất cha lẫn mẹ, còn phum sróc điều hiu, vắng lặng, có những chùa lúc nào cũng có tiếng kinh cầu siêu, bầu trời khói bom đạn hoà lẫn với khói hoả táng nạn nhân…cho nên lúc này tinh thần Từ, Bi, Hỷ, Xả…cùng tinh thần đại đoàn kết càng hiện lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong mỗi người con Phật xuất gia và tại gia.

Cuộc biểu tình kéo dài và lan rộng hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Và đỉnh cao là ngày 10 tháng 6 năm 1974, tại tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá), với sự vận động và dẫn đầu của chư tăng, chư tăng Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước, hơn hai ngàn chư tăng phật tử Khmer và một số đồng bào Kinh-Hoa tham gia biểu tình, bất chấp nắng mưa, bom đạn, hay kẽm gai.

Trong cuộc biểu tình bảo vệ Phật pháp, bảo vệ dân tộc và bảo vệ chính nghĩa này đã có 4 vị sư hy sinh là đại đức: Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom và 32 vị bị thương, các vị đã hành theo hạnh Bồ Tát để đổi lấy sự an vui cho nhân loại, sự bình yên cho đất nước, đổi lấy sự trường tồn cho Phật pháp và dân tộc.

Để phi tang, Mỹ-Nguỵ đã cướp lấy thi hài của 4 vị sư đưa về nhà xác tỉnh Rạch Giá, đem Y bỏ xuống biển, cho mặt bộ đồ đen, đặt 4 khẩu súng bên 4 thi hài, lãnh đạo đoàn biểu tình đấu tranh mãi mới đem được thi hài của 4 vị sư về làm tang lễ.

Lễ tang của 4 vị sư diễn ra trong mấy ngày đêm lúc đất nước vẵn còn khói lửa chiến tranh, thông tin truyền thông còn nghèo nàn, nhưng hàng chục ngàn lượt tăng, ni, phật tử Khmer - Kinh – Hoa trong và ngoài tỉnh đến cầu nguyện, hộ niệm.

Hạnh Mahà Pàraccàgga đại thí của 4 vị sư cũng như của đoàn biểu tình đã góp phần to lớn cho sự thành công trong công cuộc thống nhất đất nước, hạnh phúc của nhân dân, góp phần to lớn cho sự trường tồn của Phật pháp và dân tộc.

Đức Phật đã dạy: “Nhân thiện sẽ trổ quả lành. Nhân bất thiện sẽ trổ quả dữ”, thật đúng như vậy, với tội ác của mình Mỹ-Nguỵ đã sớm tan biến như khói mây, bầu trời Việt Nam sáng chói đã tỏa khắp đất nước Việt Nam thân yêu sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Tổ quốc thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà…Đúng là: Sau cơn mưa trời lại sáng!

 3. Lời kết

Bốn vị sư Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom đã hy sinh trong cuộc biểu tình của hơn 2.000 sư sãi, đồng bào Khmer cùng các giới đồng bào trong quận Kiên Thành, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc phường Rạch Sỏi, TP.Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) để đấu tranh chống bắt sư sãi đi lính và bắn phá chùa chiền bừa bãi của chế độ Mỹ-ngụy.

Tưởng nhớ tấm gương anh dũng hy sinh của 4 vị sư và đồng bào sư sãi, ngày 11-2-1976, Nhà nước đã khởi công xây dựng tháp 4 sư liệt sĩ và công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 20-9-1990.

Hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 6, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Ban dân tộc tỉnh và các ban ngành trong tỉnh và huyện - thị, Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh và các huyện – thị, cùng chư tăng- ni phật tử Khmer – Kinh – Hoa, học sinh- sinh viên- tăng sinh Kiên Giang, Tp Hồ Chí Minh tề tựu nơi tháp 4 sư liệt sĩ, tưởng niệm và ôn lại truyền thống ngày Mahà Jìvita Pàraccàgga đại thí mạng, Mahà Anga Pàraccàgga đại thí thân, là ngày hy sinh độc của chư Tăng,  Phật tử Khmer noi gương Bồ tát Thích Quảng Đức và chư Thánh tử đạo vi pháp thiêu thân trong công cuộc bảo vệ phật pháp, bảo vệ sự trường tồn của đất nước và dân tộc.

 “…Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình
Làm đèn soi sáng nẻo vô minh
Khói thơm cảnh tỉnh ai còn “ngốc”
Tro trắng phẳng san hố bất bình
Thân cháy nát tan ra tro trắng
Thần thức nương về giúp sinh linh
Hỡi ai mộng ảo đang còn mộng
Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình…”

Năm nay,  Hội thảo Khoa học Phật giáo Nam Tông Khmer đồng hành cùng dân tộc tổ chức tại tỉnh Kiên Giang, tham luận với chủ đề “Tinh thần sự kiện ngày 10-6-1974 bốn vị sư Khmer đã anh dũng hy sinh” xin dâng một nén tâm hương tưởng niệm 40 năm ngày 4 vị sư Đại đức: Lâm Hùng, Danh Hoi, Danh Tấp, Danh Hom đã hành theo hạnh Bồ tát hy sinh để đổi lấy sự an vui cho nhân loại, sự bình yên cho đất nước, sự trường tồn cho dân tộc và Phật pháp.

Thật đúng là:

“Mỗi người mỗi  nước mỗi  non
Khi vào cửa Phật như con một nhà
Cùng nhau thực hiệnLục hòa
Chúng sinh lợi lạc chan hòa Bắc Nam…”

Nhà nghiên cứu Trí Bửu Ủy viên Ban TTTT T.Ư GHPGVN

 Tài liệu tham khảo:

1. Giới thiệu sơ lược về Phật giáo Nam tông Khmer (Ban Tôn giáo Chính phủ)
2. Tinh thần ngày 10/06/1974 của Phật giáo Nam  tông Khmer (phatgiao.org.vn)

TIN LIÊN QUAN

Cụ ông 90 tuổi ăn chay trường bán lạc làm từ thiện

Sách Phật giáo 09:34 21/02/2020

Cứ chập choạng tối, ông Lưu Bình, ở phường Quyết Thắng, TP Kon Tum dắt xe đạp rời khỏi nhà, yên sau chở cái thúng đựng lạc luộc. Cả gia đình ông theo đạo Phật, riêng ông ăn chay trường.

Truyện ngắn: Bóng

Sách Phật giáo 09:30 21/02/2020

Vầng dương đã lên cao. Nắng đổ nung nóng đều cát đá. Cây lá cũng đã cùng nhau trở mình, lớn thì uốn éo, nhỏ thì oằn oại, thì thầm than vãn với nhau khi những hạt sương long lanh cuối cùng đã tan biến vào cõi không khôi khôi với sắc trạng mới mẻ...

Ngôi chùa dạy miễn phí 6 thứ tiếng

Sách Phật giáo 09:16 21/02/2020

Giữa lòng Sài Gòn hoa lệ, có một trung tâm ngoại ngữ được đặt bên trong ngôi chùa Lá nhỏ bé tại quận Gò Vấp, Tp. HCM. Với 6 ngôn ngữ, 80 lớp học trong 1 tháng, mỗi tháng đào tạo 60.000 học viên trong suốt 10 năm qua và hoàn toàn miễn phí.

Kinh nghiệm thiền trong cung vua Trần

Sách Phật giáo 08:34 21/02/2020

Với thiền, đòi hỏi phải có sự thể nghiệm chân thật, phải chứng nghiệm qua cứ không thể nói suông hay bàn trên lý thuyết thôi. Chính Vua Trần Thái Tông, lúc đang làm Vua, với bao công việc triều chính bề bộn, vẫn để thời gian tham cứu Thiền và Vua đã từng linh nghiệm ngay chính bản thân mình.