Phật Giáo

Quần thể lăng tẩm nhà Trần ở Đông Triều, Quảng Ninh (5)

Thứ năm, 01/12/2013 | 10:17

Ngoài dấu vết nền các công trình, theo mô tả của sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ, tại lăng còn lại 40 tảng đá kê chân cột; các dấu vết bậc cấp có thành bậc chạm rồng và chạm sấu, bậc rộng trung bình 4 thước (1,32m).

2.1.  Mục lăng - lăng vua Trần Minh Tông

Mục lăng là lăng của vua Trần Minh Tông. Vua Trần Minh Tông là vị vua thứ năm của nhà Trần, tên húy là Trần Mạnh. Ông là con thứ tư của vua Trần Anh Tông và mẹ là Bảo Từ Hoàng hậu (người được phụ táng vào Thái lăng cùng vua Trần Anh Tông). Ông sinh ngày 21 tháng 8 năm Canh Tý (1300), năm 14 tuổi ông được vua cha Trần Anh Tông nhường ngôi, ở ngôi 15 năm, làm Thái thượng hoàng 28 năm.

Sinh ra trong buổi thái bình, lớn lên và làm vua trong giai đoạn đất nước đang đà phát triển và ổn định, vua Trần Minh Tông đã khéo kế thừa những thành quả tốt đẹp và làm cho đất nước tiếp tục phát triển phồn vinh. Vua Trần Minh Tông được sử sách ca ngợi là người: “Đem văn minh sửa sang trị đạo, làm rạng rỡ công nghiệp người trước, giữ lòng trung hậu, lo xa cho con cháu, trong nước được yên, bên ngoài theo phục”. Ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu, ông băng ở cung Bảo Nguyên, thọ 58 tuổi. Ngày 11 tháng 11 năm 1357, ông được táng vào Mục lăng ở Yên Sinh (An Sinh).

Bia Trần triều bi ký cho biết: Minh Tông hoàng đế mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu, táng tại lăng xứ Đồng Mục.

Năm Minh Mạng thứ 21 (1840), vua Minh Mạng cho dựng bia để ghi nhận vị trí lăng tẩm của các vua Trần ở An Sinh, Mục lăng cũng được dựng bia, nội dung của bia được ghi lại trong sách Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ như sau:“明 命 弍 拾 弌 年 玖 月 初 陸 日 奉 陳 明 宗 皇 帝 陵 勅 造” (Minh Mệnh nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, lục nhật tạo Trần Minh Tông hoàng đế lăng sắc chỉ tạo) Nghĩa là: Ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 (1840) phụng sắc tạo bia tại lăng vua Trần Minh Tông31.

Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Lăng Đồng Mục: lăng Trần Minh Tông, ở chân núi xã Yên Sinh, tẩm điện cũ rồng đá, kỳ lân đá vẫn còn”32.

Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ cho biết: lăng Đồng Mục ở xã Đốc Trại (nay là thôn Trại Lốc) tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Theo họa đồ về vị trí của lăng nằm đối ứng với Thái lăng về phía Đông Nam qua suối Phủ Am Trà.

Như vậy, Mục lăng nằm ở phía Đông Nam của Thái lăng, cách Thái lăng qua suối Phủ Am Trà. Mục lăng còn được gọi là lăng Đồng Mục. Cũng giống như Thái lăng, vùng đất xung quanh lăng (thường là đã được cấp cho lăng) được gọi là đồng Mục (lăng). Khu đồng Mục lăng được gọi tắt là đồng Mục, sau đó tên khu đồng lại được dùng để chỉ lăng do đó lăng còn được gọi là lăng Đồng Mục. Vì thế Mục lăng hay lăng Đồng Mục là một - đó là nơi an táng của vua Trần Minh Tông.

Mục lăng nay đã bị phá hủy hoàn toàn do việc xây dựng đập Trại Lốc vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20. Thông tin duy nhất hiện còn về Mục lăng những ghi chép trong sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ.

Quan sát bản vẽ mặt bằng của Mục lăng được vẽ lại trong sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ có thể thấy, Mục lăng có cấu trúc ba cấp nền chồng xếp lên nhau kiểu hình kim tự tháp. Cấu trúc tổng thể của lăng gồm đường Thần Đạo, sân Hành lễ khu Tẩm điện. Bản vẽ cho thấy các thông tin khá chi tiết về mặt bằng của khu Tẩm điện, theo đó thể đoán rằng Chính Tẩm nằm ở chính giữa và cao nhất, xung quanh Chính Tẩm có khoảng sân, phía sau là tòa Đại Điện, trước Chính Tẩm có cổng vào, hành lang hai bên kết nối từ cổng vào Đại Điện tạo thành một vòng khép kín vây quanh Chính Tẩm.

Ngoài dấu vết nền các công trình, theo mô tả của sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ, tại lăng còn lại 40 tảng đá kê chân cột; các dấu vết bậc cấp có thành bậc chạm rồng và chạm sấu, bậc rộng trung bình 4 thước (1,32m).

 Bản vẽ mặt bằng kiến trúc Mục lăng trong sách “Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ”
 Toàn cảnh khu vực An lăng. Ảnh: Nguyễn Văn Anh
2.2.  Ngải Sơn lăng - lăng vua Trần Hiến Tông

Ngải n lăng hay n gọi là An lăng là lăng vua Trần Hiến Tông. Vua Trần Hiến Tông là vua th 6 của nhà Trần, n y là Trần Vượng, con thứ của vua Trần Minh Tông, Ông sinh ngày 15 tháng 2 m K i (1319), m 10 tuổi được vua cha Trần Minh Tông truyền ngôi, ngôi 13 năm, mất ngày 11 tháng 6 m n T (1341), th 23 tuổi. Vua lên ngôi khi n trtuổi và lại mất sớm n việc điều khiển triều chính, dẹp loạn và gi n b i đều do Thái thượng hoàng Trần Minh Tông đảm nhiệm. Ông được s sách ghi nhận là người có “tư chất tinh anh sáng suốt, vận nước thái bình, nhưng ở ngôi không được lâu, chưa thấy thi th việc gì”. Ngày 16 tháng 8 năm 1344 được an táng o An lăng.

V An lăng hiện cũng n nhiều vấn đ chưa thống nhất, trong đó có vấn đn gọi và vtrí xây dựng của lăng. c i liệu ghi chép v hai vấn đ này có khá nhiều khác biệt, thậm chí bản thân sách Đại Việt s ký toàn thư chép cũng không thống nhất. phần khái quát v cuộc đời, s nghiệp của vua Trần Hiến Tông, Đại Việt s ký toàn thư chép: Vua húy là Vượng, con th của Minh Tông, m đích là Hiển TTuyên Thánh Hoàng thái hậu, msinh là Minh Từ Hoàng Thái phi Lê Thị. ngôi 13 năm, th 23 tuổi, băng chôn lăng Xương An33. Khi chép v ngày táng của vua Trần Hiến Tông, sách y lại chép “Giáp Thân m th 4 (niên hiệu Thiệu Phong - 1344) Mùa thu, tháng 8 ngày 16, táng Hiến Tông An lăng tại Kiến Xương34. Như vậy, Đại Việt s ký toàn thư đã không thống nhất khi chép về tên gọi của lăng. Khi thì chép là Xương An, khi khác lại chép là An lăng.

Về vị trí xây lăng, Đại Việt Sử ký toàn thư chép là Kiến Xương. Kiến Xương dưới thời Trần là một ph nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình.

Khi chép về việc nhà Trần cho chuyển thần vị của các lăng từ Tam Đường về An Sinh, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục có đề cập đến địa danh Kiến Xương. Tuy nhiên, điều tra thực tế tại khu vực vốn là Phủ lộ Kiến Xương dưới thời Trần đã không tìm thấy dấu vết lăng tẩm nào của các vua Trần.

Bia Trần triều bi ký không thấy nhắc đến lăng của vua Trần Hiến Tông, nhưng lại nhắc đến lăng của c v vua sau là vua Trần DTông và vua Trần Ngh Tông.

Sách Đại Nam nhất thống chí thì viết: “Lăng Ngải Sơn: lăng Trần Hiến Tông, dưới núi An Sinh, người đá và voi đá, ngựa đá, hổ đá, dê đá, trâu đá nay vẫn còn”35.

Năm Minh Mạng thứ 21 (1480), vua Minh Mạng cho dựng bia tại các lăng tẩm nhà Trần ở An Sinh, trong đó có lăng Ngải Sơn, bia đá hiện vẫn còn tại di tích, nội dung bia ghi: 明 命 弍 拾 弌 年 玖 月 初 陸 日 奉 陳 憲 宗 皇 帝 陵 勅 造”(Minh Mệnh nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, lục nhật tạo Trần Hiến Tông hoàng đế lăng sắc chỉ tạo). Nghĩa là: Ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 (1840) phụng sắc tạo bia tại lăng vua Trần Hiến Tông). Bia và nội dung của bia được chép lại trong sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Tấm bia đá này đã bị vỡ một phần nhưng đã được phục nguyên, hiện đang được bảo quản và trưng bày trong khuôn viên của lăng.

Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ thì cho biết Ngải Sơn lăng ở xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Như vậy, An lăng, Ngải n lăng (lăng Ngải Sơn) là những n gọi khác nhau của lăng vua Trần Hiến Tông. V v trí của lăng hiện có hai quan điểm, quan điểm th nhất cho rằng ban đầu lăng được xây dựng ở phKiến Xương (Thái Bình), đến năm 1381 thì được chuyển v An Sinh [Nguyễn Du Chi, tr.169]; quan đểm th hai cho rằng ngay t đầu An lăng đã được y dựng ở An Sinh [Nguyễn n Anh (2011), tr 34-35], việc ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư  là sự nhầm lẫn. Cơ sở của quan điểm này là:

Th nhất, t m 1320 c vua nhà Trần đều chọn An Sinh là i y dựng lăng tẩm của mình, trên thực tế An lăng là lăng th hai được y dựng An Sinh (1344), An lăng được y dựng khi Thượng hoàng Trần Minh Tông đang nắm thực quyền, không có lý gì ông chọn An Sinh làm nơi xây dựng lăng tẩm của mình mà lại không chọn nơi đây để xây dựng lăng cho con.

- Thứ hai, Ngải Sơn lăng là lăng có quy mô rất lớn, những gì hiện còn cho thấy lăng có đường Thần đạo lớn, hai bên có tượng người và tượng thú đứng chầu. Đế bia còn lại cũng cho thấy lăng có những tấm bia lớn, đặc biệt các di vật ở đây đều khá tinh xảo, khác với các di vật được xây dựng ở giai đoạn sau như lăng Phụ Sơn và Nguyên lăng.

 

- Thứ ba, mặc dù Đại Việt sử ký toàn thư  có chép “rước thần tượng ở các lăng Giác Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương” nhưng đồng thời cũng cho biết là các Thần tượng này được “đưa về lăng lớn ở Yên Sinh”. Qua ghi chép này có thể thấy hai điều, thứ nhất là nhà Trần cho rước Thần tượng, tức là bài vị chứ không phải  mộ, thứ hai các Thần tượng này đều được thờ chung ở một nơi (lăng lớn), do vậy không thể xảy ra việc các vua đầu triều thì thờ chung trong khi vua Trần Hiến Tông lại được thờ phụng ở một lăng lớn và riêng biệt.

Trên thực tế, thời điểm nhà Trần cho chuyển các lăng tẩm về An Sinh là giai đoạn nhà Trần đã bước vào khủng hoảng toàn diện, quân Chăm-pa thường xuyên đánh phá ra tận kinh đô Thăng Long, triều chính thì bị lũng đoạn bởi các phe phái, kinh tế khủng hoảng theo đà giảm phát. Tất cả các yếu tố đó khiến nhà Trần không còn đủ năng lực để tổ chức xây dựng các công trình có quy mô lớn. Và có lẽ, cũng vì thế khi nhà Trần chuyển Thần vị các lăng ở Tam Đường về An Sinh, nhà Trần chỉ đủ sức xây dựng một lăng lớn để thờ chung Thần vị của tất các các vua mới được chuyển về. Và cũng chính bởi thế, việc xây dựng một Ngải Sơn lăng to lớn trong bối cảnh của nhà Trần lúc này là hoàn toàn không thể.

An lăng hay Ngải Sơn lăng hiện thuộc khu làng Trại Lốc, xã An Sinh, huyện Đông Triều (Quảng Ninh), diện mạo An lăng cụ thể như thế nào vẫn là một bí ẩn trong lòng đất. Theo mô tả của Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ thì lăng có quy mô to lớn, các dấu vết còn lại gồm: “Nền trong dài hai trượng, chín thước (9,57m); rộng 8 thước (2,64m); cao 1 trượng (3,30m), tường vây quanh bằng gạch, mỗi mặt dài 4 trượng 5 thước (14,85m), dày 3 thước (1m)”.

Xung quanh khu lăng hiện còn lại rất nhiều di vật, trong đó đặc biệt phải kể đến là bộ tượng bằng đá, gồm tượng quan hầu, tượng thú và rùa. Bộ tượng này vốn được đặt dọc hai bên Thần đạo của lăng theo từng cặp đối xứng nhau, tượng quan hầu ở tư thế đứng chầu, tượng các loại thú đều được tạc ở dạng phủ phục. Bộ tượng đá ở An lăng không chỉ được đánh giá là một sưu tập quý của nghệ thuật điêu khắc thời Trần, mà điều quan trọng hơn nữa là, qua bộ tượng này chúng ta biết  được trong cấu trúc Thần đạo lăng tẩm thời Trần hai bên có tượng quan hầu và tượng thú đứng chầu.

 Bản vẽ mặt bằng An lăng trong sách “Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ”

Ngoài các tượng thú, tại An lăng còn có hai tượng rùa đá của thời Trần, trong đó có một tượng rùa có kích thước rất lớn: dài 1,57m; rộng 0,94m, dày 0,34m, trên lưng rùa có một lỗ mộng lớn cho thấy rùa này cõng bia. Dựa trên kích thước của rùa có thể đoán định tấm bia đặt trên thân rùa cũng có kích thước lớn, chiều rộng của bia này tối thiểu là 0,94m. Với kích thước lớn như vậy thì đó phải là một bia rất quan trọng. Trong lăng tẩm thường có một tấm bia ghi chép công đức của người được táng trong lăng, bia đó gọi là bia “Thánh Đức thần công”. Ở An lăng có lẽ bia Thánh Đức thần công được đặt trên tượng rùa to.

Năm 2002, lăng được xây lại như hình dáng hiện nay, việc tôn tạo không dựa trên những nghiên cứu đã khiến cho công trình hiện nay không phù hợp với diện mạo ban đầu của lăng.

 An lăng được xây lại năm 2002. nh: Nguyễn Văn Anh
 Tượng quan hầu ở An lăng. nh: Nguyễn Văn Anh
 Dấu vết bó nền Chính Tẩm của Phụ Sơn lăng. Ảnh: Lê Đình Ngọc

2.3.  Phụ Sơn lăng - lăng vua Trần Dụ Tông

Lăng Phụ Sơn là lăng của vua Trần Dụ Tông. Vua Trần Dụ Tông sinh năm Bính Tý (1336), tên húy là Hạo, con thứ 10 của vua Trần Minh Tông, năm 1341, vua Trần Hiến Tông mất, ông được chọn lên kế ngôi. Trần Dụ Tông làm vua 28 năm, thọ 34 tuổi. Ông được ghi nhận là người có “tư chất thông minh, nhanh nhẹn, học vấn cao minh, phòng bị việc võ, sửa sang việc văn, các người man di thần phục. Chính sự lúc mới lên ngôi cũng khá, từ năm Đại Trị (1358) về sau vua sa vào ăn chơi sa đọa, hoang dâm vô độ, gian thần kéo bè kéo đảng làm rối loạn triều chính, loạn lạc nổi lên khắp nơi, giặc Chiêm Thành nhiều lần đem quân tiến đánh vào tận kinh đô,..” cơ nghiệp nhà Trần từ đây suy yếu.

Ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1369), vua Trần Dụ Tông băng hà, thọ 34 tuổi; tháng 11 năm 1369 táng vào Phụ lăng.

Bia Trần triều bi ký” viết “Dụ Tông hoàng đế, mất ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu. Táng tại lăng Phụ Xứ, 65 mẫu. Phụ xứ tục gọi là xứ Đồng Mối”36.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép “lăng Phụ Sơn: lăng Trần Dụ Tông chân núi Yên Sinh, tẩm điện và rồng đá vẫn còn”37.

Sách Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ cho biết, lăng Phụ Sơn ở xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Năm Minh Mạng thứ 21 (1840), vua Minh Mạng đã cho dựng bia ghi nhớ vị trí lăng tẩm của các vua nhà Trần tại An Sinh, trong đó có Phụ lăng, nội dung của bia được ghi lại trong sách Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ “Minh Mạng nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, sơ lục nhật phụng sắc tạo, Dụ Tông hoàng đế lăng38. Nghĩa là: Ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), phụng sắc tạo (bia) lăng hoàng đế Dụ Tông. Tấm bia này hiện nay đã mất phần thân, chỉ còn lại phần đế bia.

Theo mô tả và bản vẽ của sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ thì lăng có ba cấp nền, cấp trong cùng cao nhất có chiều dài 2 trượng (6,6m); rộng 1 trượng 5 thước (5m), nền ngoài (tức cấp nền 2) dài 6 trượng (19,8m), cao 1 thước. Sân nằm giữa hai cấp nền rộng 1 trượng (3,3m); hai bên tả hữu có hai nền (giống như kiểu Tả Vu, Hữu Vu, kích  thước  rộng  1  trượng 5 thước (5m) dài 2 trượng 5 thước (8,25m). Xung quanh vòng ngoài có tường bao bằng đá, khoảng cách từ cấp nền 2 đến tường bao là 26 trượng (85,8m); các bậc thềm đều có thành bậc chạm rồng và sấu39.

 Lá đề cân trang trí vũ nữ apsara tìm thấy tại Phụ Sơn lăng. Ảnh: Nguyễn Văn Anh
 Lá đề lệch trang trí rồng tìm thấy tại Phụ Sơn lăng. Ảnh: Nguyễn Văn Anh

Tháng 6 năm 2012, Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành đã khai quật thăm dò di tích lăng Phụ Sơn. Kết quả khai quật đã phát hiện một phần nền móng của Chính Tẩm, dấu vết sân và tường bao và các loại gạch ngói dùng để xây dựng tại đây.

Các bằng chứng khảo cổ học tìm được ở đây cộng với những ghi chép của sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ cho phép suy đoán lăng có cấu trúc gồm ba cấp nền chồng xếp lên nhau hình kim tự tháp.

Chính Tẩm ở giữa và thuộc cấp nền cao nhất, xung quanh chính tẩm có sân và các kiến trúc kết nối liên hoàn tạo thành các vòng tròn bao quanh lấy Chính Tẩm. Cấu trúc khu Tẩm điện của lăng Phụ Sơn giống cấu trúc khu Tẩm điện trung tâm của Thái lăng (lăng của vua Trần Anh Tông) Bên cạnh các dấu vết tẩm điện đã được phát hiện, cách Chính Tẩm 112,2m về phía Nam, khảo cổ học cũng đã phát hiện dấu vết tường bao, điều đó cho phép suy đoán xung quanh lăng Phụ Sơn có tường bao ngăn cách giữa khu lăng với khu bên ngoài. Dấu vết dòng chảy, các khu ruộng trũng hiện còn xung quanh khu lăng cho thấy ngoài tường bao xung quanh lăng còn có hào nước. Với các di tích tường bao, hào nước bao quanh khu Tẩm điện trung tâm cho thấy về cấu trúc tổng thể lăng Phụ Sơn được xây dựng mô phỏng theo cấu trúc kinh đô với thành, hào bao quanh tẩm điện trung tâm.

Các kiến trúc ở lăng Phụ Sơn được trang trí hết sức đẹp đẽ và tinh xảo. Khảo cổ học đã tìm được những lá đề cân gắn trên ngói mũi sen trang trí hình vũ nữ apsara; những lá đề lệch trang trí hình rồng. Các di vật này cho chúng ta hình dung phần nào về các trang trí trên mái kiến trúc của lăng Phụ Sơn.

 Bản vẽ phục dựng mặt bằng Chính Tẩm và khu Tẩm điện trung tâm của Phụ Sơn lăng qua kết quả khảo cổ học. Người vẽ: Lê Đình Ngọc
 Dấu vết kiến trúc Tẩm điện của Nguyên lăng. Ảnh: Nguyễn Tiến Hưng

Còn nữa...
Nguyễn Văn Anh 
-

31.  Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Sđd, tờ 5b, 6a.
32.  Đại Nam nhất thống chí. Sđd, tr.490.
33. Đại việt sử ký toàn thư. Sđd, tr.610.
34.  Đại việt sử ký toàn thư. Sđd, tr.628
35.Đại Nam nhất thống chí. Sđd, tr.490.
36. Hoàng Giáp (2003). Cụm bia lăng mộ các vua Trần tại đền An Sinh huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Thông báo Hán Nôm học năm 2003, tr.164.
37.  Đại Nam nhất thống chí. Sđd, tr.490
38.  Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Sđd. tờ.8a.
39.  Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Sđd, tờ. 8b, 9a

TIN, BÀI LIÊN QUAN:

Nguyễn Văn Anh
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ

Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z