Phật Giáo

Quảng Bình: TT.Thích Chân Quang thuyết giảng Pháp thoại "Càng lớn càng nhỏ"

Thứ năm, 14/01/2015 | 16:26

Tối ngày 16/11/Giáp Ngọ (06/01/2015), theo lời mời của HT.Thích Tánh Nhiếp – Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Quảng Bình, trụ trì chùa Đại Giác (Đồng Hới), TT.Thích Chân Quang đã đến tham dự Lễ Khánh đản đức Phật A Di Đà, và có buổi nói chuyện với phật tử về bài Pháp thoại “CÀNG LỚN CÀNG NHỎ”. 

Thông qua bài Pháp thoại này, các phật tử sẽ biết những điều lớn lao, vĩ đại đều bắt nguồn từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống. Từ đó, mọi người có cái nhìn kĩ lưỡng, cẩn trọng hơn để ý những điều nhỏ nhất, nhằm nâng cao trình độ tu tập cũng như tăng thêm công đức của bản thân.

Được biết, đây là Lễ hội Vía đức Phật A Di Đà, lần đầu tiên BTS GHPGVN tỉnh Quảng Bình tổ chức tại chùa Đại Giác (trụ sở BTS GHPGVN tỉnh) từ ngày 15 – 17/11 và sẽ trở thành ngày hội truyền thống hàng năm cho Phật giáo Quảng Bình.

Vào ngày Khai hội Vía Phật A Di Đà, chứng minh và tham dự có: HT.Thích Tánh Nhiếp – Trưởng BTS PG tỉnh Quảng Bình; HT Thích Thiện Tấn - Trưởng BTS PG tỉnh Quảng Trị cùng Chư tôn đức tăng trong Ban Thường trực BTS PG Quảng Bình và đông đảo phật tử đến từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh.
 
 
 
Buổi Lễ diễn ra trong ba ngày gồm có: Nghi thức niêm hương bạch Phật, Khóa lễ Cầu an – Sám hối, khai kinh, khóa lễ tụng kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ, niệm Phật kinh hành, hoa đăng cầu nguyện quốc thái dân an, cầu âm siêu dương thái, lễ Quy y cho hơn 200 vị, cúng thí thực, phóng sinh, văn nghệ cúng dường. Đặc biệt có chương thuyết giảng liên tiếp trong thời gian diễn ra Lễ hội với sự chia sẻ của các vị Giảng sư như: HT.Thích Khế Chơn – Phó Trưởng ban thường trực BTS GHPGVN tỉnh TT.Huế; HT.Thích Thái Hòa & TT.Thích Thái Tịnh (chùa Phước Duyên – Tp.Huế); TT.Thích Chân Quang - Phó ban Kinh tế Tài chính T.Ư GHPGVN; HT Thích Viên Giác - Chủ tịch Hội Cựu Sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM, trụ trì chùa Từ Tân (quận Tân Bình, Tp.HCM). 

Đến với Pháp hội, các phật tử ngoài việc hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa ngày Vía đức Phật A Di Đà, về  giá trị của danh hiệu Phật A Di Đà, cũng như pháp tu Tịnh độ do các vị Giảng sư truyền đạt thì còn hiểu thêm một số quan niệm được mở rộng về các pháp môn hành trì trong đạo Phật do TT.Thích Chân Quang chia sẻ. Trước hết, Thượng tọa bày tỏ niềm xúc động, khi Hòa thượng trụ trì không phân biệt sự khác nhau về tông phái, vùng miền, đã mời Thượng tọa về tham dự buổi lễ. Chứng kiến sự phát triển của Phật giáo nơi đây, dù mới là sự phát triển bước đầu, còn sơ sài và thiếu thốn về người và của là việc không thể tránh khỏi, nhưng Thượng tọa tin tưởng vào sự phát triển của Phật giáo Quảng Bình cũng như sự hòa hợp của các tông phái nơi đây, rằng: “Một ngày không xa, Phật giáo Quảng Bình sẽ phát triển hưng thịnh, bắt kịp với sự phát triển chung của Phật giáo trong cả nước”.
 
 
 
 
Trước khi đi vào trọng tâm bài giảng, Thượng tọa đã giải thích thêm về nguồn gốc và ý nghĩa ngày Vía Phật A Di Đà, trong đó nhấn mạnh: Chỉ có đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới có ngày sinh, ngày nhập Niết Bàn, ngày thành đạo, vì Ngài là một người có thật trong lịch sử. Ngoài ra, cũng có các vị Phật hay các vị Bồ tát chỉ có ngày Vía do Chư Tổ đặt ra. Trong đó, đức Quan Thế Âm Bồ tát là có ba ngày Vía mỗi năm, vì tín ngưỡng dân gian quá mạnh.  

Phật A Di Đà là một đấng tôn chủ, biểu tượng cho Tịnh độ tông - một tông phái trong đạo Phật được rất nhiều người tin tưởng và tu tập theo. Tịnh độ tông chiếm ưu thế hơn các tông phái khác, trở thành hình ảnh chủ đạo của Phật giáo Đại thừa. 
 
 
 
Do đạo Phật có rất nhiều tông phái, các phật tử cũng vì thế mà có nhiều sự lựa chọn, ưu ái cho những tông phái khác nhau mà mình thấy thích và phù hợp. Tuy nhiên, những vị Tổ lớn thì nhìn các tông phái không có phân biệt, vì tông phái này hàm chứa tông phái khác. Các vị tu tập cao rồi nên từ một tông, các vị ấy có thể thấy nhiều tông khác. Ví dụ người tu Thiền, không tu Tịnh độ nhưng cũng dành thời gian học về Tịnh độ. Đó là cái hay của Phật giáo Việt Nam, tạo môi trường chung đồng, nhiều hệ phái, nhiều hướng tu nhưng các phái vẫn hòa hợp, đoàn kết, tôn trọng, quý mến và giúp đỡ lẫn nhau. Vì vậy, các quý phật tử phải nhớ điều đó để có hành vi, ứng xử với các bạn tu trong tông phái khác cho phù hợp, phải phép.

Tiếp theo, đi vào nội dung bài giảng, Thượng tọa giải thích câu ‘Càng nhỏ càng lớn - Càng lớn càng nhỏ”, tức càng nhỏ chừng nào thì càng phải lớn lao chừng ấy; và càng lớn chừng nào thì càng phải nhỏ nhiễm. Đây là điều vĩ đại ẩn giấu trong những điều nhỏ nhặt. Để làm rõ hơn câu nói đó, Thượng tọa dẫn dụ câu nói của một vị thiền sư Trung Hoa rằng: “Ai cũng biết một giọt nước rơi vào hồ to nhưng ít ai biết cả một đại dương rơi vào trong một giọt nước.”
 
 
 
Từ câu nói đó, ta thấy cái ngộ của một Thiền sư có điều đặc biệt là các Ngài thấy một sự bình đẳng trong mọi vật ở cuộc đời này, dù vật đó to hay nhỏ, xấu hay đẹp, giàu hay nghèo thì cuối cùng cũng tan biến. Để có thể nhìn được vẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng thì sâu thẳm trong tâm thức, tiềm thức của các Ngài là một sự thanh tịnh tuyệt đối.

Theo Thượng tọa, có những điều lớn lao ẩn giấu trong những điều nhỏ nhiệm là điều rất hợp lí, đúng đắn và bắt đầu từ khoa học. Ví dụ để biết rõ hơn về vũ trụ, người ta phải nghiên cứu, xem xét từ các hạt nguyên tử nhỏ bé. Như vậy, một hạt nguyên tử nhỏ bé ẩn chứa cả bí mật của vũ trụ bao la, rộng lớn. Hay một hạt giống nhỏ bé, ẩn chứa một đời sống của một loài cây. Từ đó, chúng ta thấy cả một cuộc sống nhiều khi bắt đầu từ những điều rất nhỏ, và một hành động rất nhỏ ẩn chứa cả một tâm hồn rất lớn.

Qua đó, Thượng tọa đưa ra một nhận định rằng: Người làm được chuyện lớn là người nhìn vấn đề một cách chi tiết, kĩ lưỡng. Ngược lại, người hời hợt, không chú ý đến các chi tiết nhỏ thì không bao giờ làm được chuyện lớn. Hoặc người càng thông minh thì càng nhìn thấy những chi tiết nhỏ, còn người không thông minh chỉ nhìn thấy những vấn đề tổng quát. Sự thật, những phát minh, phát kiến trong khoa học đều được hình thành từ những điều rất nhỏ bé mà ít ai chú ý tới.

Lại nữa, có những ý nghĩ thoáng qua trong đầu ta một cái rất nhanh nhưng hình thành một định mệnh mới ở những kiếp sau, thay đổi hẳn cuộc đời mình. Nếu những ý nghĩ đó là những ý nghĩ tốt đẹp, lương thiện thì ta sẽ có phúc rất lớn. Ngược lại, những ý nghĩ đó xấu xa, tính toán hơn thua, sao cho lợi mình thiệt người thì cái nghiệp bát đầu hình thành và đeo đuổi ta trong nhiều kiếp về sau. Vì vậy, một ý nghĩ rất nhỏ nhưng cũng tác động rất lớn đến cuộc đời ta sau này.

Nhân đây, Thượng tọa cũng khẳng định thêm: Người càng từ bi, càng đạo đức thì càng yêu thương được những số phận thấp kém nhất. Chính sự từ bi lớn, vượt qua khỏi biên giới loài người, sẽ giúp ta biết yêu thương cả chúng sinh muôn loài, không còn sát sinh, không còn tạo nghiệp. Vì vậy, đạo Phật được khai sáng bởi những Bậc từ bi vô hạn và dạy chúng ta biết yêu thương muôn loài, không sát sinh kể cả những con vật nhỏ nhất. 

Hiểu được vậy, chúng ta mới thấy đạo đức, lòng từ bi của mình còn cách rất xa so với đức Phật. Từ đó, chúng ta gieo một tâm từ bi, thay vì chỉ giúp, chỉ yêu những người ta thương, ta quý thì ta phải có thái độ tích cực, mở rộng lòng mình hơn, biết yêu thương tất cả chúng sinh, thậm chí thương xót cứu gíup cả những kẻ mà ta ghét. Như vậy, ta mới xứng đáng là đệ tử Phật, làm đúng như những lời đức Phật răn dạy. Lòng từ bi của ta từ đó mà lớn dần, phước của ta cũng tăng lên. 

Ngoài ra, chúng ta cũng phải học cách nhìn, trân trọng những điều nhỏ nhất để ta thông minh hơn, từ bi hơn.

Ta tu tập, đạt được mức độ tâm thanh tịnh thì tâm hồn ta cũng nhạy bén hơn. Dù mọi người xung quanh chưa nói, nhưng ta biết họ muốn gì, tâm họ như thế nào. Rồi ta nhìn nhận mọi vật xung quanh với một tình yêu thương vô hạn, trải khắp thế gian. Cuộc sống của ta vì thế cũng hạnh phúc hơn, không còn thù ghét, oán hận hay đau khổ.

Và từ cách nhìn nhận đó, Thượng tọa đưa ra một số khái niệm về con người cũng như vị trí mà họ nắm giữ. Ví dụ: Người lãnh đạo giỏi là người lo toan những việc lớn, nhưng vẫn không quên quan tâm những tầng lớp nghèo khổ nhất trong xã hội, dù thành phần đó là ít. Hay vị Giảng sư giỏi là nêu ra được những vấn đề thực tế nhất, nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống và tâm hồn của con người. Ngược lại, người toàn nói những điều to tát là giảng sư dở. 

Đặc biệt, Người nhấn mạnh về khái niệm và đặc điểm của nhà hoằng pháp, Người nói: Nhà hoằng pháp giỏi là người quan tâm tới những nơi có ít chùa. Đó là lý do ta thấy gần đây có nhiều vị ở Huế tìm về mảnh đất này để giáo hóa. Chúng ta cầu mong nhiều nhà hoằng pháp giỏi, ý thức từ bỏ những nơi phố xá đông đúc để về những nơi phật tử mình còn khát khao, nơi mà ít khi được nhìn thấy bóng tăng, ni qua lại trên đường, nơi thiếu vắng tiếng chuông chùa. 

Bên cạnh đó, Thượng tọa còn đưa ra một số khái niệm, ví dụ để mọi người biết rằng, khi hiểu và lí giải được điều rất nhỏ, tự nhiên ta sẽ hiểu được điều rất lớn. Mà Người có thể hiểu được cặn kẽ, tất cả những điều lớn, nhỏ trong cuộc đời này chỉ có thể là những vị Thánh. Tuy nhiên, ta đừng chấp tiểu tiết mà quên mất đại cục, đừng quá chú ý đến những điều nhỏ nhặt mà quên những việc lớn. Theo đó, Thượng tọa nhắc nhở: Mọi người tuy chú ý đến những điều nhỏ nhặt nhưng phải cảnh giác với những điều nhỏ nhặt có thể làm tan vỡ tâm hồn, đánh mất đạo tâm, đánh mất tình yêu nước, tình yêu đạo pháp của mình. Sống trên đời là ta phải có những ước mơ, những hoài bão lớn, nhưng nếu quá chấp cái tiểu tiết thì ta có thể đánh mất đại cục, mất cả tâm hồn và phẩm hạnh của mình. Người phật tử cũng vậy, việc quan trọng nhất với mình khi đến chùa là lòng tôn kính Phật, tôn kính Tăng, còn lại đừng chú ý đến việc khác.

Điều cuối cùng, Thượng tọa muốn răn nhắc các phật tử là càng nhìn thấy những điều lớn chừng nào, càng phải để ý những điều nhỏ nhặt chừng ấy, vì những điều vĩ đại luôn ẩn dấu trong những điều nhỏ nhất.

Với một bài Pháp thoại ngắn nhưng lại ẩn chứa rất nhiều triết lí sâu xa , nhiều bài học lớn cho cả các phật tử và những người không theo đạo. Bên cạnh việc đưa ra những lí luận, những quan điểm, Người còn dẫn dụ rất nhiều ví dụ, câu nói nổi tiếng để các phật tử có thể ghi nhớ bài giảng một cách kĩ lưỡng, lâu dài. Cộng thêm giọng điệu, tốc độ, cách ngắt câu, đôi khi có pha trò của Thượng tọa đều có tính đặc trưng, làm người nghe khó quên, luôn cảm thấy giáo lý Phật pháp thật gần gũi, giản dị như chân lý cuộc sống. Nhờ đó, các phật tử có một cái nhìn mới mẻ về những điều xung quanh mình, vì biết còn nhiều điều họ chưa khám phá ra bên trong đó, mà trân trọng những điều nhỏ bé nhất.

Ngoài ra, bài pháp thoại cũng nhắc nhở một cách nhẹ nhàng về hành động của các phật tử, vì một hành động nhỏ cũng ẩn chứa một tâm hồn lớn. Từ đó, mọi người chú ý xây dựng từng hành động của mình cho đúng đắn, phù hợp với tâm hồn của một phật tử gương mẫu, đạo đức. 

Xét thấy, bàn bạc trong các bài giảng của mình, Thượng tọa thường chia sẻ những đạo lý cốt lõi, những quan điểm và phương pháp tu một cách chọn lọc, với những bước đi tỉnh táo và thích hợp, nhằm củng cố, duy trì lòng tin, hướng đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đồng thời đến sự giác ngộ giải thoát, trong đó đặc biệt quan tâm đến giới trẻ. Nhờ vậy tinh thần Phật giáo được lan tỏa sâu rộng, và bền vững hơn trong cộng đồng.

Phải chăng, trong cuộc đời nhờ có những vị giảng sư rất tâm huyết với đạo Phật như thế mà các phật tử có thể tìm ra ánh sáng soi rọi vào cuộc đời mình và soi chiếu vào cuộc sống của nhân sinh.

Tuệ Đăng
Tuệ Đăng
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z