Thứ tư, 24/04/2019 11:03 (GMT +7)

| Hà Nội 34°C /57%

DỮ LIỆU
Phật Giáo
Thứ sáu, 08/07/2016, 16:19 PM

Thế nào là “Ngôi học còn dính bụi?”

“Ngôi học còn dính bụi, cực sáng tức Như Lai”, đó là bài kệ trong Kinh Lăng Nghiêm, tả về biển giác của Tự tính. Theo cuốn Hoa Nghiêm Hợp Luận, tác giả Lý Thông Huyền, vị cư sĩ đã kiến tính, nói: Sơ tâm Bồ tát vì lòng tin chưa vững chắc, được thấy biết ít phần pháp thân Như Lai chẳng đoạn diệt, chẳng khứ lai. Chẳng đoạn diệt tức khắp thời gian, chẳng khứ lai tức khắp không gian, nhưng Bồ tát này còn chưa thể lìa sự phân biệt vi tế, nên chỉ thấy thô dụng, chưa vào được ngôi Pháp thân

Tiến thêm một bước, Tịnh tâm Bồ tát hơn Sơ tâm Bồ tát, nhưng còn thấy vi tế dụng. Như thế dần dần tiến lên, đến bậc Bồ tát cứu cánh, mới hết thấy vi tế dụng, gọi là thân thọ dụng.

Vì còn có nghiệp thức, nên thấy tâm có thọ dụng, nếu lìa nghiệp thức thì chẳng thể thấy. Tại sao? Vì tất cả Như Lai đều là Pháp thân, Pháp thân chẳng có sắc tướng sai biệt để thấy nhau, nên chẳng thể thấy. Tại sao hết thảy vi tế dụng gọi là thân thọ dụng? Vì còn có thân thọ dụng để biết sự hết thấy, vẫn là tướng vi tế của nghiệp thức. Các bậc hữu học và vô học còn dính mắc với tướng vi tế này, như tấm gương còn dính bụi, nên nói “Ngôi học còn dính bụi”.

Nếu nghiệp thức vi tế đã sạch, chẳng thấy có sự thọ dụng, gọi là Pháp thân Như Lai. Vậy bụi sạch thì gương sáng tỏ nên nói “Cực sáng tức Như Lai”.
 
Đối với câu “反聞聞自性-Phản văn văn Tự tính”, nhiều người còn hiểu sai về câu này, nên tôi ghi chú thêm:

Nếu chấp cái nghe là thật thì không nghe ngoài phải nghe trong, không nghe động phải nghe tịnh; nghe trong ngoài động tịnh đều là bỏ gốc theo ngọn, nên gọi là cái nghe điên đảo. Nay xoay cái nghe điên đảo này về chánh, chánh thì chẳng có năng nghe sở nghe, mới gọi là “phản văn-反聞”, cũng là “bản tánh văn-本性聞”. Nghịch cảnh trần, hợp giác tính, mới gọi là chánh. Đã trở về “bản tánh văn-本性聞”, tức thấy “bản lai diện mục-本來面目” của “Phật tánh-佛性”, cũng là tánh văn này, liền thành Vô thượng Bồ đề.

Trong Kinh Lăng Nghiêm nói: Do có lục trần mới phát ra cái tri, vì có lục căn mới hiện ra tướng này tướng kia, nên nói “Do trần phát tri, nhân căn hữu tướng-由塵發知因根有相”. Nếu không có lục trần thì kiến văn giác tri đặt ở chỗ nào? Chẳng thể sinh ra được.

Lục trần lục thức sinh lẫn nhau, cũng như con gà với trứng gà; chẳng có lục trần thì lục căn không có đối tượng để đặt. Lại nữa, chẳng có lục căn thì không thể biết đến lục trần, những cái biết phải có lục trần mới có thể sinh khởi. Chúng sinh điên đảo, cho những thứ đó là của mình, nên đức Phật mới ở trong Bát Nhã Tâm Kinh dùng chữ “Vô-無” để quét sạch lục căn, lục trần, lục thức.

Thiền sư Thích Duy Lực
Phật Giáo

TIN LIÊN QUAN

'Phong thủy, tướng mạng có đạo lý nhưng không phải là tuyệt đối'

'Phong thủy, tướng mạng có đạo lý nhưng không phải là tuyệt đối'

HomeAZ 07/10/2019, 17:47

Các nguyên lý xem tướng mạng, xem sao, địa lý phong thủy có từ rất sớm. Theo truyền thuyết của các nhà chiêm tinh học thì nguyên lý đó có từ thời thái cổ, đồng thời với sự hình thành của trời đất, vũ trụ.

Đạo Phật: Đạo là con đường, Phật là giác ngộ

Nghiên cứu 17:26 15/08/2020

Trong từ đạo Phật, "đạo" là con đường, "Phật" là giác ngộ. Thực hành lời Phật chỉ dạy đi con đường giác ngộ giải thoát, đó mới là tu.

Lời muộn màng con thương gửi mẹ

Nghiên cứu 16:44 15/08/2020

Hôm nay, mùa Vu lan sắp về, lòng con khắc khoải nhói đau khi nhớ về hình ảnh mẹ hiền nơi quê nghèo lam lũ, mỗi ngày vẫn mong ngóng con xa. Mẹ con là một người phụ nữ bình thường, nhưng với con mẹ là người rất phi thường.

Kinh Hiếu Tử

Nghiên cứu 16:40 15/08/2020

Đó là đoạn Kinh văn trong bản Kinh Hiếu Tử. Đọc mà cảm nhận 2600 năm trước, Phật đã thấy những thống khổ mà người làm cha làm mẹ trải qua.

Xử lý vấn đề tình cảm theo quan niệm Phật giáo

Nghiên cứu 16:12 15/08/2020

Tình cảm vốn là bản năng sẵn có của loài người, vì vậy chỉ cần phù hợp với pháp luật, đạo đức, đều là những điều cho phép của Phật giáo. Phật giáo hoàn toàn không bài xích tình cảm, nhưng lại chủ trương dùng từ bi để thăng hoa tình cảm, lấy Bát-nhã để giáo hóa khơi thông tình cảm.

Từ điển Phật học