Phật Giáo

Trung Quốc, Nhật Bản kỷ niệm 1150 ngày Tổ sư Lâm Tế nhập Niết Bàn

Thứ năm, 12/09/2016 | 08:57

Ngày 07/09/2016, tại Chánh Định Lâm Tế Tự, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc đã diễn ra buổi Đại lễ Kỷ niệm 1150 ngày Tổ sư Lâm Tế nhập Niết Bàn, do hai quốc gia Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản đồng tổ chức.

Đến dự Pháp hội có sự hiện diện của chư tôn đức Tăng già Phật giáo thuộc Thiền phái Lâm Tế các nước trên thế giới, Nhật Bản, Canada, Hoa Kỳ, Pháp sư Minh Hải, Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo tỉnh Hà Bắc, Pháp sư Diên Tham trực tiếp điều hành tổ chức lễ.
 
Tiếp xúc với phóng viên truyền hình, Pháp sư Diên Tham phát biểu: “Pháp mạch của Lâm Tế Tổ sư từ chư lịch đại Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Tăng XánĐạo Tín, Hoằng Nhẫn Huệ Năng, sau Lục Tổ Huệ Năng sinh ra Năm Thiền phái, Tổ sư Lâm Tế là một trong năm Thiền phái ở Trung Quốc, Pháp mạch Thiền phái Lâm Tế lan truyền đến các nước trên thế giới, Đông Nam Á, châu Âu và Hoa Kỳ. 

Lâm Tế Tự thiên niên kỷ, trong lịch sử Phật giáo, Thiền phái Lâm Tế có một vị trí quan trọng trong việc hoằng dương Chính pháp, cống hiến Văn hóa Giáo dục, góp phần vào việc lan tỏa ánh sáng Từ bi Trí tuệ của Phật pháp khắp muôn nơi. 
 
Ngọn Bảo tháp của Tổ sư Lâm Tế vươn cao vút, hòa cùng trời xanh mây trắng trang nghiêm hoành tráng, Lâm Tế Tự thiên niên kỷ, Tổ đình của chư Tôn đức Tăng già Thiền pháp Lâm Tế khắp nơi, chốn Tổ linh thiêng mầu nhiệm.
 
Chính Định từng là một trung tâm tôn giáo quan trọng trong trên 1.000 năm, từ ít nhất là thời nhà Tùy tới nhà Thanh. Nó là nơi sáng lập của một trường phái lớn trong Thiền tông của Phật giáo. Tuy nhiên, nhiều tổ hợp kiến trúc tôn giáo cũ đã bị tổn hại và xuống cấp nghiêm trọng kể từ thời đó, thường chỉ để lại các mảng tàn tích tách rời. Ngoại lệ đáng chú ý nhất là chùa Long Hưng, được xây dựng từ thời nhà Tùy, với tổ hợp kiến trúc xây dựng của nó còn được bảo tồn nguyên vẹn. Bên cạnh đó, 4 ngôi chùa nổi tiếng khác, mỗi chùa với kiểu kiến trúc riêng của mình, vẫn còn tồn tại. Toàn huyền tổng cộng có 7 đơn vị bảo hộ văn vật trọng điểm toàn Trung Quốc. 

Chánh Định Lâm Tế Tự, là nơi khai sinh ra Lâm Tế tông của một trong ngũ gia tông thiền phái Phật giáo Trung Quốc. Bao gồm tháp Trừng Linh (tháp Thanh) xây dựng vào năm Hàm Thông thứ 8 (867) thời nhà Đường. Phần thân tháp hiện còn tồn tại được trùng tu năm Đại Định thứ 25 (1185) thời nhà Kim, cao 30,47 m, mặt cắt hình bát giác.

Thanh Tùng Cổ Tháp, nơi tôn thờ Ngọc cốt Tổ sư Lâm Tế, chu niên 1150 ngày viên tịch, tình Linh sơn cốt nhục, Tăng sĩ Phật giáo môn nhân Pháp quyến Thiền phái Lâm Tế chúng ta đồng trang nghiêm dâng hương kính tưởng niệm và nhiễu quanh Bảo tháp Tri ân công đức vị Tổ sư Khai sáng Thiền phái Lâm Tế”.

Khai tổ Thiền pháp Lâm Tế (787 – 867)

Tổ sư Lâm Tế - Nghĩa Huyền (臨 濟 義 玄 祖師) họ Hình, sinh năm Đinh Mão (787), niên hiệu Trinh Nguyên thứ 3 triều đại Đường Đức Tông, tại Nam Hoa thuộc Tào Châu (nay huyện Đông Minh, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Thuở Ngài vốn lanh lợi và có chí xuất trần, lớn lên Ngài xuất gia và thọ Cụ túc giới với Đạo hiệu Nghĩa Huyền. Ngài am tinh thông Kinh, Luật nhưng vẫn than rằng: “Đây là phương thuốc cứu thế, chưa phải yếu chỉ của Tâm tông Phật Tổ, Giáo ngoại biệt truyền”. Ngài liền quảy gói tha phương hành cước tham học cầu pháp và đến Pháp hội của Tổ sư Huỳnh Bá Hy vận.

Sau khi được Tổ sư Huỳnh Bá Hy vận ấn chứng, năm Giáp tuất (854), niên hiệu Đại Trung thứ 8 triều đại Đường Tuyên Tông, Ngài đến tỉnh Hà Bắc, phía Nam châu Đông Trấn dựng lập Lâm Tế Thiền viện tiếp Tăng độ chúng, truyền trì mạng mạch Tâm tông Phật Tổ. Mỗi khi có Thiền giả đến tham vấn, Ngài thường dùng tiếng Hét và Gậy đánh để khai ngộ đồ chúng. Ngài đã tạo nên một sắc thái đặc thù của Thiền tông nên được giới Phật giáo đồ tôn xưng Lâm Tế tông.

Ngài tọa thiền trang nghiêm tịch tĩnh dặn dò môn đồ rằng: “Sau khi ta nhập diệt, không được diệt mất Chính pháp Nhãn tạng của ta” và thuyết kệ truyền pháp:

沿 流 不 止 問 如 何                  Diên lưu bất chỉ vấn như hà
真 照 無 邊 說 似 他                  Chân chiếu vô biên thuyết tợ tha
離 相 離 名 人 不 稟                  Ly tướng ly danh nhân bất bẩm
吹 毛 用 了 急 須 磨                  Xuy mao dụng liễu cấp tu  ma

Theo dòng chẳng ngưng hỏi cái chi
Chiếu soi vô biên nói cho y
Lìa danh lìa tướng người không hiểu
Xuy-mao (*) dùng xong liền quên đi.

Tam Thánh ra nói: "Ðâu dám diệt mất Chính pháp Nhãn tạng của Hòa thượng".

Ngài bảo: "Về sau có người hỏi ngươi, ngươi nói với họ thế nào?"

Tam Thánh hét!

Ngài nói: "Ai dè Chính pháp Nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù này diệt mất". Nói xong, Ngài ngồi an nhiên thị tịch, ngày 10 tháng Giêng năm Đinh Hợi (867), niên hiệu Hàm Thông thứ 8, triều đại Đường Ý Tông. Vua ban cho Ngài hiệu là Huệ Chiếu Thiền-sư. Toàn thân nhập Tháp nơi phủ Tây núi hướng bắc Trấn Châu.

 (*) Xuy-mao là một thành ngữ ám chỉ một sợi tóc để trên lưỡi cây bảo kiếm, chỉ thổi một cái là đứt liền.

Ngữ lục của Ngài được Thiền sư Thích Duy Lực dịch sang chữ việt có tựa là "Lâm Tế Ngữ Lục" các bạn tìm đọc.

Vân Tuyền (Nguồn: Nhân gian PG Trung Quốc)
Vân Tuyền
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z