Bạn đang tìm kiếm để hiểu ý nghĩa của từ khóa . Ý nghĩa của từ ngạ quỷ theo Tự điển Phật học như sau:
có nghĩa là:
(餓鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Hán âm: Tiết lệ đa, Bế lệ đa, Tỉ lễ đa, Ti lợi đa, Di lệ đa, Bế đa, hoặc tiếng Phạm Pitf, Hán âm là Đế lê. Cũng gọi Quỉ đạo, Quỉ thú, Ngã quỉ đạo. Loài quỉ thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn. Là 1 trong 6 đường, 1 trong 5 ngả, 1 trong 6 ngả. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16, loài ngã quỉ có 2 chỗ ở: Trong thế giới loài người và trong thế giới ngã quỉ, dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần. Về tên gọi thì có 36 loài như: Ca bà li (thân bị nấu trong cái vạc), Kiện đà (ăn hơi), Bà la ba xoa (ăn thịt trẻ con), A tra tì (ở chỗ đồng trống), Ma la ca da (tự giết mình) v.v... Luận Thuận chính lí quyển 31 liệt kê 3 loại ngã quỉ: 1. Vô tài ngã quỉ (ngã quỉ không có của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ miệng lửa, ngã quỉ miệng kim, ngã quỉ miệng hôi. Loại ngã quỉ này hoàn toàn không có thức ăn, thường bị khổ não vì đói khát; nếu may gặp được chút thức ăn, thì khi đưa đến miệng, bỗng bốc thành lửa, không thể ăn được. 2. Thiểu tài ngã quỉ (ngã quỉ ít của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ lông kim, ngã quỉ lông hôi, ngã quỉ bướu cổ. Loại ngã quỉ này chuyên ăn máu mủ. 3. Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của cải): Gồm có 3 loại: Ngã quỉ ăn đồ cúng tế thừa, ngã quỉ ăn vật người ta vứt bỏ và ngã quỉ được thức ăn ngon. Hai loại ngã quỉ Thiểu tài và Đa tài cũng gọi là Hữu tài ngã quỉ (ngã quỉ có của cải). Luận Du già sư địa quyển 4 thì nêu ra 3 loại ngã quỉ là: Ngã quỉ do cảnh bên ngoài làm chướng ngại việc ăn uống; ngã quỉ do bên trong thân làm chướng ngại việc ăn uống và ngã quỉ không bị chướng ngại trong việc ăn uống. Luận Đại trí độ quyển 30 thì gọi loại ngã quỉ không có uy đức, thường chịu khổ đói khát là Ngã quỉ và gọi loại ngã quỉ có uy đức, hưởng thụ nhiều thú vui là Tệ quỉ.Ngã quỉ ở cõi Diêm ma do vua Diêm ma thống trị. Cũng có loại ngã quỉ ở những nơi tha ma mộ địa và hang núi tối tăm tại nhân gian. Theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, ngã quỉ có loại do hóa sinh, có loại do thai sinh. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 6 thì thân ngã quỉ cao nhất là 1 do tuần, còn nhỏ nhất bằng đứa trẻ cao 3 tấc. Về tuổi thọ, có thuyết cho rằng dài nhất là 8 vạn 4 nghìn năm, còn ngắn nhất thì không nhất định, hoặc cho rằng 5 nghìn năm ở nhân gian là 1 ngày 1 đêm trong cõi ngã quỉ. Theo kinh Nghiệp báo sai biệt thì có 10 thứ nghiệp khiến chúng sinh chịu báo ngã quỉ. 1. Thân tạo nghiệp ác nhẹ. 2. Miệng tạo nghiệp ác nhẹ. 3. Ý tạo nghiệp ác nhẹ. 4. Khởi nhiều tham muốn. 5. Khởi tâm ác tham. 6. Ghen ghét. 7. Tà kiến. 8. Luyến tiếc của cải lúc hấp hối. 9. Chết vì đói. 10. Chết vì khát. Ngoài ra, thế tục gọi trẻ con tham ăn là ngã quỉ, kẻ tham dâm là Sắc ngã quỉ, kẻ giàu có mà keo kiệt là Tài ngã quỉ. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Chương sở tri Q.thượng; luận Câu xá Q.11].
Trên đây là ý nghĩa của từ trong hệ thống Tự điển Phật học online do Cổng Thông tin Phật giáo Việt Nam cung cấp. Các từ khóa khác về Phật học trên hệ thống sẽ được tiếp tục cập nhật.
Cảm ơn bạn đã truy cập Tự điển Phật học online trên trang nhà.
Bạn cũng có thể tìm hiểu thêm các từ khóa Phật học khác có cùng ký tự tương ứng trên Tự điển Phật học online:
na nã na na na a lại da mạn đà la na bà ma li na bà ma lợi na bà ma lợi na da na daTuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)