Thứ tư, 24/04/2019 11:03 (GMT +7)

| Hà Nội 34°C /57%

DỮ LIỆU
Phật Giáo
Chủ nhật, 23/12/2012, 07:31 AM

Tưởng nhớ cố Đại lão Hòa thượng Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Vào lúc 5 giờ 05 phút ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu ( nhằm 23 tháng 12 năm 1993) Đại lão Hòa thượng Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhẹ nhàng lìa thân tứ đại giả huyễn lên đường về xứ Phật, hưởng thọ 97 tuổi, 77 năm tuổi đạo

Đại Lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1897-1993), pháp hiệu Thanh Thiệu, pháp danh Đức Huy, thế danh Phạm Đức Hạp, sinh quán tại thôn Quần Phương, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Ngài được sinh ra trong một gia đình Nho học nề nếp, lớn lên tại ngôi làng quê giàu văn hóa lịch sử, đã được vua Lê ban tặng tấm biển " Mĩ tục khả phong". Cha ngài làm nghề thuốc, từ nhỏ ngài thường được theo cha lên chùa Đồng Đắc (Kim Sơn, Ninh Bình) theo kinh lễ Phật và đàm luận với vị sư trụ trì. Truyền thống gia đình, quê hương và môi trường tiếp xúc đã tạo nên nhiều thuận duyên, Ngài có tâm hướng Phật từ rất sớm.

Năm Nhâm tý 1912, khi 16 tuổi Ngài xin xuất gia với sư cụ trụ trì chùa Đồng Đắc là hòa thượng Thích Thanh Nghĩa. Năm 1917, 21 tuổi ngài chính thức thụ Cụ túc giới tại chùa Phúc Nhạc (Già Lê tự, Ninh Bình), do hòa thượng Thích Thanh Khiết làm Hòa thượng Đàn Đầu. Sauk hi thụ giới Ngài tiếp tục tới các tổ đình lớn tham học. như tổ đình Đào Xuyên ( Gia Lâm, Hà Nội ), Bằng ( Thường Tín, Hà Nội ), Sở (Đống Đa, Hà Nội).

Với 77 năm tuổi đạo, Phật sự hoằng pháp độ sinh của Ngài để lại nhiều ấn tượng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận - hiện đại, trong đó có hai vấn đề mà Ngài đặc biệt quan tâm là củng cố, phát triển Giáo hội và mở trường đào tạo Tăng tài.

Năm 1940, sau khi du học tại các tổ đình lớn, Ngài trở về thừa kế trụ trì chùa Đồng Đắc. Phật sự đầu tiên của Ngài là thành lập hai trường Phật học ở chùa Đồng Đắc và chùa Kì Lân ( Gia Viễn, Ninh Bình) đồng thời được cung thỉnh làm Chủ hạ của các trường Hạ lớn ở Miền Bắc lúc bấy giờ.

Năm 1950 Hội Phật giáo tỉnh Ninh Bình cung thỉnh Ngài giữ chức Giám Luật Phật giáo tỉnh Ninh Bình.

Năm 1955, sau khi hòa bình được lặp lại trên Miền Bắc, Ngài được mời lên Thủ Đô Hà Nội để tham gia tổ chức lại Giáo hội. Trong thời gian này Ngài trụ trì chùa Phổ Giác (Đống Đa, Hà Nội) sau một thời gian Ngài về trụ trì chùa Quán Sứ.

Tháng 3 năm 1958 Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam thành lập. Ngài được bầu làm Phó Hội trưởng, và đảm nhiệm chức vụ này liên tục qua 4 nhiệm kỳ, đến năm 1979.

Năm 1969 Ngài về trụ trì chùa Hoằng Ân ( Quảng Bá, Hà Nội ), cho đến năm 1986 về trụ trì chùa Hồng Phúc ( Hòe Nhai, Hà Nội ). Cũng trong thời gian này, Hột Phật giáo Thống nhất Việt Nam mở trường tu học Phật pháp Trung ương tại chùa Quảng Bá. Đây là ngôi trường Phật học có tổ chức quy củ đầu tiên sau ngày Miền Bắc được giải phóng, Ngài làm Hiệu trưởng.

Năm 1979 Hòa thượng Hội trưởng Thích Trí Độ viên tịch, Ngài được suy tôn làm Quyền Hội Trưởng Thích Trí Độ viên tịch, Ngài được suy tôn làm Quyền Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, cho đến năm 1981 khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập.

Năm 1980, Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ra đời, Ngài được suy tôn làm Chứng minh Ban Vận động. Ngài đã vào lưu trú tại chùa Vĩnh Nghiêm (T.P. Hồ Chí Minh) một năm trời cùng các vị trong Ban Vận động đi thăm hỏi, trao đổi với lãnh đạo của các hệ phái, hội đoàn Phật giáo các tỉnh phía Nam để thực hiện thống nhất Phật giáo. Tháng 11 năm 1981 Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã diễn ra tại chùa Quán Sứ Hà Nội để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong Hội nghị, tuyệt đại đa số đại biểu của 9 hệ phái, hội đoàn Phật giáo đều nhất trí suy tôn Ngài vào ngôi Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và Ngài ở ngôi vị này cho đến khi viên tịch.

Vào lúc 5 giờ 05 phút ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu ( nhằm 23 tháng 12 năm 1993) Đại lão Hòa thượng Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhẹ nhàng lìa thân tứ đại giả huyễn lên đường về xứ Phật, hưởng thọ 97 tuổi, 77 năm tuổi đạo. Sau lễ tang, nhục thân của Ngài được an tang tại bảo tháp trong chùa Hoằng Ân, Quảng Bá- Hà Nội.

Với ngần ấy năm trụ thế hoằng pháp độ sinh, Ngài là bậc đống lương trong chốn Thiền môn, song toàn Hạnh - Tuệ, là tấm gương sáng cho các thế hệ hậu học noi theo.

Những ngày này hàng chục triệu người Con Phật trong cả nước đang hướng về Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ VII, ngày húy kị lần thứ 19 của Ngài sắp đến, chúng con xin vụng ghi đôi dòng cảm niệm, khể thủ kinh bái Giác linh Hòa thượng thùy từ chứng giám.



Tháng Mạnh đông năm Nhâm Thìn (2012)

Tỳ kheo Thích Thọ Lạc khể thủ kính bái.

Phật Giáo

TIN LIÊN QUAN

Là tín đồ của lối sống xanh, học ngay cách tái chế rác thành chậu trồng cây của nữ du học sinh người Việt

Là tín đồ của lối sống xanh, học ngay cách tái chế rác thành chậu trồng cây của nữ du học sinh người Việt

HomeAZ 22/05/2020, 08:45

Cùng chung tay giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ môi trường là lối sống xanh được mọi người rất ưa chuộng. Nếu là tín đồ của lối sống xanh, chắc chắn bạn sẽ không thể làm ngơ trước cách tái chế rác thành chậu trồng cây của nữ du học sinh người Việt bên đất Đức dưới đây.

Cội gốc của luân hồi sinh tử là tình ái

Đời sống 09:27 26/05/2020

Qua câu chuyện trên là một bài học nhân quả công bằng không thiên vị một ai, siêng năng tinh tấn tu hành thì chứng quả giải thoát, gieo tạo ác nghiệp thì đến hồi đủ duyên phải trả quả xấu.

Hòa thượng Thích Thanh Từ: Người tu phải dẹp bỏ tham sân si

Đời sống 08:47 26/05/2020

Sống được với ông Phật thật của chính mình, đó là người biết tu, biết trở về cái cứu kính chân thật, nguồn an lạc vĩnh cửu. Ngược lại, chạy theo tâm suy nghĩ lăng xăng, chúng ta chỉ chuốc đau khổ mà thôi.

Có hay không đời sống kiếp sau?

Đời sống 08:24 26/05/2020

Đáng buồn thay, không ai vượt được ra ngoài quy luật nhân quả, không chúng sinh nào thoát khỏi nghiệp quả của chính mình. Chúng ta có thể không tin vào quy luật của nghiệp và kiếp sau, nhưng không có nghĩa sự thật này không tồn tại.

Vị Tổ sư Thiền tông đời thứ mười lăm - Tôn giả Ca Na Đề Bà

Đời sống 08:23 26/05/2020

Tổ Ca Na Đề Bà, người đời gọi Ngài là Bồ tát. Sanh sau Đức Phật nhập Niết bàn 546 năm, ở miền Nam nước Ấn. Cha tên Ca Na Bạc, mẹ là bà Hữu Chung Truyền. Cha mẹ Ngài tu theo pháp môn Tiểu thừa và Trung thừa Phật giáo và thích làm phước thiện, vì vậy Ngài rất uyên thâm Phật học.