Phật Giáo

Niệm Phật tam muội

Thứ năm, 15/10/2016 | 10:31

Niệm Phật tam muội phương tiện và phương pháp tu quán tưởng niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật từ nội tâm cho đến ngoại cảnh, chẳng còn thấy có chơn vọng, khi ấy được thuần thục chứng nhập Chánh định (Tam Muội) Cảnh Tịch tịnh hiện tiền. Như thế mới thực hiện được lý “Duy Tâm Tịnh Độ, Tự Tánh Di Đà”.

Nên biết phương pháp niệm Phật Tam Muội này, thuộc về Thiền Quán, Đại thừa diệu lý. Khi tu phải thể hiện ngay đời sống hiện tại, để chứng thiền định giải thoát. (Chẳng giống như pháp xưng danh niệm Phật, để khi chết cầu vãng sinh về cõi Tịnh Độ). Không phải như người ta tưởng ngoài tâm ra, mà cần có Phật và các Pháp.v.v…

Bổn niệm Phật Tam Muội này, chia ra 14 tiết có ba điều:
(bổn tức là gốc, nguyên sơ vốn có)

Tóm tắt:
1) Quán tưởng là Tam Muội bổn
2) Niệm Phật là Tam Muội Duyên
3) Đoạn tuyệt vọng tưởng điên đảo là dứt chướng của Tam Muội.

Trước khi chúng ta muốn gia công tu tập, cần phải xem rõ các tiết mạch. Như thế trên đường tu tập khỏi sợ sai lạc. Tóm lại Pháp môn tu dù khó dễ thế nào đi nữa, ta cũng cần phải gia công bền chí, thời sự tu tập mới mong có kết quả được. 

Thiền Đường Khai Thị

Chư vị thường thời đến thỉnh chỉ dạy, khiến tôi cảm giác tự thẹn. Chư vị mỗi ngày bị tần khổ về các việc đời, mà cũng không làm mất, niệm đầu hành đạo, ấy là tâm ân cần vì đạo hiện tại khiến tôi cảm định!

Hư Vân này hổ thẹn vì không đạo, không đức, nói không trên chỗ khai thị, chỉ lượm lại mấy câu đàm dãi của các cổ nhơn để đáp lại lời hỏi của quý vị vậy thôi. Dụng công tu tập là phương pháp nhập môn (vào đạo). Phương pháp dụng công hành đạo có rất nhiều, nhưng nay chỉ ước lược như dưới đây.

Điều Kiện Tiên Quyết:

Chẳng luận là hạng người nào, nếu có tư tưởng dụng công hành đạo, thì trước hết phải luôn nhớ nghĩ những điều dưới đây: 1- Thâm tín nhân quả; 2- Nghiêm trì giới luật; 3- Lòng tin kiên cố; 4- Quyết định pháp môn tu hành.

1) Thâm tín nhân quả:

Nếu chẳng tin Nhân Quả, mà làm càn v.v…chẳng cần nói: Hành đạo thành công, hay chẳng thành.

Cổ đức có nói: “Muốn biết nhân đời trước, ta hãy nhìn đời hiện tại của ta như thế nào? Muốn rõ đời sau thế nào: ta hãy nhìn lại cái nhân trong đời hiện tại, coi ta làm những gì?”

Cổ đức còn nói: “Giả sử, trăm ngàn kiếp ta đã tạo rồi, thì nghiệp quả ấy chẳng mất: khi nào nhơn duyên đủ thì quả báo phải tự thọ lấy chẳng sai.”

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhơn địa bất chơn quả chiêu du khúc” nghĩa là: chỗ tạo nghiệp nhân không ngay thẳng, thì chịu cảm quả báo cong quẹo. cho nên trồng nhân lành, thì kết quả tốt; tạo nhơn dữ thì kết quả dữ; trồng dưa thì được dưa; trồng đậu thì ra đậu, đạo lý nhân quả rõ ràng như vậy.

2) Nghiêm Trì Giới Luật:

Giới là nguồn gốc của đạo vô thượng Bồ đề (Phật quả) Nhân Giới sinh Định; Nhân Định sinh Trí Huệ. Nếu không trì giới mà tu hành thì không có lý. Kinh Lăng Nghiêm Lăng Nghiêm nói: “Bốn món thanh tịnh dạy ta rõ ràng. Nếu không trì giới mà tu thiền định (Tam muội) thì trần lao không ra khỏi; dù có nhiều trí huệ thiền định hiền tiền cũng sa lạc về tà ma ngoại đạo.” Nên biết trì giới là trọng yếu của người tu hành. Người tu hành mà trì giới thì được Long Thiên ủng hộ và tà ma ngoại đạo kính sợ. Người phá giới bị quỷ thần khinh khi, kêu là giặc lớn trong nhà Phật, (phá nhà chánh pháp của Như Lai).

Giới là căn bản để dứt trừ tội lỗi và ngăn ngừa tam nghiệp cho thanh tịnh. Nếu thiếu giới luật thì đã đành bị luân hồi sinh tử (vì tạo nhân phải trả quả mà còn làm cho thâm tâm bị tán loạn, làm sao tu thiền định)?...

Lục Tổ nói: “Tâm bình nào nhọc phải trì giới, hạnh trực đâu phải dụng tham thiền.”

Tôi xin được hỏi quý vị: Tâm đã bình, hạnh đã trực chưa? Có hôm người đẹp lõa thể đứng gần quý vị, quý vị có động tâm hay không?...Và nếu vô cớ có ai đến nhục mạ quý vị, có thể không giận hờn hay không?... Quý vị có thể, không phân biệt kẻ thân người sơ và kẻ thương, người ghét, ngã nhân (người), thị phi chăng?...

Tóm lại, nếu ai làm được hết những việc như đã kể trên mới nên cả tiếng nói: Chẳng cần trì giới, như câu: “Tâm bình nào nhọc trì giới.v.v…” Nếu chưa được như vậy, xin phải trì giới; chớ nên nói suông. Giới là làm nền tảng tu thiền định. Nếu không giữ giới, thì tu thiền định chẳng thành công.

Giới có tại gia, xuất gia, đại thừa, tiểu thừa. Tại gia có Ngũ giới, và Bồ tát tại gia. Xuất gia giới có; Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát; Đại thừa giới như: Bồ tát xuất gia, tại gia đều có; Tiểu thừa giới: từ ngũ giới cho đến Tỳ kheo giới. Tùy hoàn cảnh phát tâm thọ giới gì do ở chính mình phải học hiểu và thọ trì.

3) Lòng Tin Kiên Cố:

Dụng công hành đạo ta cần có một lòng tin kiên cố, Tin là mẹ đẻ các công đức, chẳng luận là việc gì, nếu ta không tin, có làm đi nữa, việc ấy chẳng có kết quả mỹ mãn. Chúng ta muốn thoát sinh tử, cần yếu nhất là lòng tin phải kiên cố.

Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước, nên không chứng được.” Phật nói ra rất nhiều pháp môn để tùy cơ đối trị tâm bệnh của chúng sinh. Chúng ta phải tin lời Phật chẳng luống dối, và tin chúng sinh như ta có thể tu thành Phật; nhưng sở dĩ chúng ta chưa thành Phật đều bởi thực hành chưa đúng.

Thí dụ như: Có người chỉ cho ta biết, chính nhà ta có mỏ vàng, mà ta chưa có dụng cụ và phương pháp đào và nấu lộc vàng, hơn nữa nếu có người chỉ dạy mà ta không thực hành đúng theo lời chỉ dẫn ấy; thử hỏi, ta có thể đem vàng ra khỏi mỏ được không?...

Chúng ta tu hành (tham thiền hay niệm Phật) cũng thế. Nếu ta tin mà chẳng thực hành cho trúng, và có thực hành mà đức tin chẳng kiên cố bao giờ kết quả tốt đẹp được ư?...

Nếu ta tu hành có lòng tin vững chắc, và thực hành đúng phương pháp, luôn luôn không thối lui, quyết định sẽ có ngày thành công.

Ông Vĩnh Gia Thiền sư nói: “Chứng thật tướng không còn Nhơn, Pháp, trong giây lát diệt nghiệp A tỳ, nếu đem lời dối gạt chúng sinh, thì tự chịu lấy quả báo, bị cắt lưỡi hằng sa kiếp.”

Ngài Vĩnh Gia Thiền Sư vì lòng từ bi, nên thương chúng sinh, phát lời thệ nguyện chứng minh lời chư Phật và Bồ tát, lúc nào cũng chân thật, để tế độ chúng sinh. Vì thế ta phải đặt đức tin vững bền, luôn luôn; tin ta sẽ thực hành được, và lời Phật chân thật.

4) Quyết Định Pháp Môn Tu Hành:

Lòng tin đầy đủ, ta cần chọn một pháp môn nhất định để tu trì, không nên sớm Tần, chiều Sở (ý nói đừng thay đổi) chẳng hạn pháp niệm Phật cũng tốt, trì chú cũng tốt, tham thiền cũng tốt, đều phải nhận định một pháp môn nào cho rõ ràng để ta tu trì; thực hành đến đích không thối chuyển. Ngày nay chưa thành công, thì ngày mai, năm nay không thành còn năm tới.

Tổ Qui Sơn nói: “Mỗi đời nếu ta tu hành không thối lui, bực Phật quyết định khả kỳ” Có lắm hạng người thực hành pháp môn không nhất định: vì thiếu chủ ý. Thí dụ như: Hôm nay nghe vị thiện tri thức nào đó, nói: Pháp niệm Phật là hay, liền theo pháp niệm Phật; niệm Phật được vài ngày lại nghe vị nào đó, nói tu thiền hay lại theo tham thiền; vài ngày lại chạy đông chạy tây v.v…

Một đời tu như thế, đến chết chưa có kết quả gì đáng kể. Bởi thế người tu hành cần phải quyết định một pháp môn nào duy nhất để tu trì. Như thế mới mong có kết quả, chẳng uổng một đời tu hành của chúng ta. Hôm nay đã quyết định tu theo pháp niệm Phật Tam muội, thệ nguyện đến chết không lui, nếu ta chưa thành đạo quả.

Niệm Phật Tam Muội

1. Nhập thất

Kinh Pháp Hoa nói: “Nhập Như Lai thất phục Như Lai y, tọa Như Lai tòa”.
• Như Lai thất, tức “ Đại Từ Bi”
• Như Lai y, tức “Nhu Hòa Nhẫn Nhục”
• Như Lai tòa, tức “Nhất thiết Pháp Không”.

Nhập chúng sinh thất, là còn có ý tranh danh trục lợi, dầu tìm nơi thanh vắng, cũng không thể hàng phục vọng Tâm. Lấy thân làm thất, thì phiền não càng ngày càng sinh. Lấy Tâm làm thất, mới thật là Vô tướng thất. 

Niệm Phật, trước phải phát Tâm đại từ bi, xem chúng sinh như một thể bình đẳng cứu độ, không để một chúng sinh nào chẳng thành Phật, phương chi sát hại cho đành. Nhập đại từ bi thất, với Như Lai đồng trụ nên đặng gần Phật.

Theo Tam học (1) gọi là Định. Đã Nhập thất phải dùng y phục che thân. Bởi ta dùng mỹ phục, tâm mới loạn động. Nên lấy Tâm niệm làm y phục, mới phá hết tất cả chướng ngại.

Gặp kẻ cường bạo ngăn, lấy nhu hòa điều phục; Gặp kẻ khinh mạng ngăn, lấy nhẫn nhục đối đãi. 

Nếu mặc được áo Như Lai, nhu hòa nhẫn nhục, thì tất cả ma chướng trở thành món trợ đạo. Tuy bao phen thiên ma bách chiếc (2) cũng không nao núng.

Theo Tam học gọi là giới. Đã nhập thất, phục y, phải có tọa. Trong bốn oai nghi, tọa với hành, trụ ngọa, nó cũng in nhau. Tuy tọa thiền kiết già mà không gián đoạn, chỗ dụng công như thế là cùng, nên nói hành, trụ, tọa, ngọa, in nhau.

Phải quán tất cả các Pháp không, ngoài lục trần không, tức trong lục căn không. Lục căn chẳng trước nhiểm lục trần, tức sự, tranh danh trục lợi và tất cả trong thế gian, mỗi việc thảy đều không.

Quán được nhứt thiết pháp không, tức là tọa. Tuy có chỗ tọa, thật ra chẳng ly tọa, nên gọi là “vô thượng thâm diệu thiền”.

Theo Tam học gọi là Huệ. 
Nhập thất Như Lai, nguyện từ đây chẳng bỏ đại từ bi.
Mặc áo Như Lai, nguyện từ đây chẳng lìa nhu hòa nhẫn nhục .
Tọa cái tòa Như Lai, nguyện từ đây niệm, niệm hằng quán nhứt thiết pháp không. 

Người hành đạo tu theo giới định huệ, một lòng tinh tấn chẳng thối, thì lúc bấy giờ thân ta cùng mười phương ba đời các Phật không hai, không khác. Được vậy nhiên hậu dụng Tâm ấy niệm Phật, mới nói Tâm ấy là Phật. Dùng Tâm ấy làm Phật Quán, mới gọi tâm ấy làm nên Phật. Đó là cơ sở của Pháp tu “niệm Phật Tam Muội”. Thế là rốt ráo.
 
Thích nghĩa: 
(1) Tam học, tức Giới, Định, Huệ.
(2) Thiên ma bách chiếc, Ngàn lần mài, trăm lần giũa không sờn lòng.

2. Quán niệm

Đoạn trên đã thành lập cơ sở, song ta phải xem xét một niệm, do Tâm niệm hay miệng niệm. Nếu do miệng niệm, mà Tâm không khởi lấy gì có niệm?

Nếu nói do Tâm niệm, mà miệng không động, lấy gì có tiếng? (1) Nên biết ban đầu do Tâm niệm rồi truyền ra miệng lưỡi, diêu động thành tiếng, mới nên một niệm, lại quán niệm ấy, như nước với sóng, dầu muôn ngàn lượng sóng, mà tánh nước vẫn một. Thế thì Tâm niệm ấy tuy một niệm, mà đến muôn ngàn vạn niệm cũng là một. Phương chi, trong lúc niệm đó, là cái giả tướng của sắc Tâm liên tiếp xin theo thứ lớp.

Trong khi dùng một niệm so với một niệm ngàn muôn năm sau, hai lúc đó chẳng khác. Cái niệm trong ngàn muôn năm, tuy nhiều đến bất khả tư nghì (2) song chẳng qua như sóng sinh ra vô số vô lượng, dầu bao nhiêu tánh nước vẫn không thay đổi. Niệm số tuy nhiều, mà niệm sau không khác niệm trước, nên gọi muôn năm một niệm. Nếu tỏ được muôn năm một niệm, mới rõ trong khi một tiếng niệm Phật dứt đặng tám mươi ức kiếp sinh tử tội trọng, và mới biết từ bao nhiêu đời trước khởi sinh vọng niệm đọa lạc tam đồ, cho đến ngày nay bao nhiêu số niệm Phật đến thành Phật đạo, đều chẳng lìa một niệm ban đầu.

Người tu đã tỏ thấu một niệm, phải trân trọng một niệm ấy, không phút nào gián đoạn thì công phu niệm Phật từ đây cho đến tận vị lai tế cũng chẳng dứt được, bởi niệm niệm nối luôn không còn gián đoạn.

Thích nghĩa:
(1) không phải bảo niệm ra tiếng, dầu ra tiếng cùng không ra tiếng, câu niệm Phật phải vận thông cả toàn thân chỗ niệm cả. Nếu không vọng động, chỗ nào không phải câu niệm Phật.
(2) một con số rất lớn không thể kể xiết.

3. Thiệt tướng

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“ Nếu ai muốn rõ biết
Cả thảy Phật ba đời
Lại quán Pháp giới tánh.
Gây việc bởi lòng người”.

Đã biết tam thế chư Phật do Tâm tạo, thì ngày nay đối với tất cả cảnh chẳng phải Phật, đều có thể làm quán Phật. Chẳng hạn cảnh nào, bởi nó là giả hiện, vốn chẳng lìa tánh pháp giới. Nếu nương theo tánh pháp giới làm các phép quán, thì cảnh theo tâm mà biến đổi, không chổ nào chẳng đặng. Do phương tiện ấy phàm như chổ thấy cũng không thấy của nhãn căn, đều có thể mượn làm tiếng niệm Phật, mà nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và ý căn, đối với ngũ trần cũng đều có thể mượn làm tiếng niệm Phật.

Cho đến mượn cõi ta bà làm cực lạc. Lục đạo chúng sinh làm chư thượng thiện nhơn (1). Các thứ liên trì, lầu các, thất bảo, thất trùng… Cũng tùy quán, tùy hiện. Tập lâu thuần thục, ta bà lần xa, Tịnh Độ càng gần. Chỗ tiếp xúc lục căn xa lần lục trần, thế mới đúng với chổ nơi của kinh Lăng Nghiêm:

Nhiếp hết lục căn, tịnh niệm liền nối. Quán như thế trước đem (2) tịnh tướng thay, gọi là hữu tướng, sau uế tướng (3) đã dứt, thì tịnh tướng cũng không còn, tánh thể làu làu nên gọi là Vô tướng.

Hơn nữa, vô tướng cũng không, tịch quang (4) ứng hiện nên kêu là thật tướng. Niệm Phật như thế ấy, mới gọi là tương ưng (5) cùng Phật.

Thích nghĩa:
(1) Chư Thượng Thiện Nhơn, như các Bồ tát, La Hán.
(2) Tướng sạch.
(3) Uế tướng: là tướng dơ.
(4) Cái nhơn Tâm rất quang minh tịch mịch.
(5) tương ứng: là hiệp.

4. Tùy hỷ

Phổ hiền bồ tát phát mười đại nguyện công đức tùy hỷ đứng vào thứ năm. Phàm thấy người làm các công đức mà phát tâm hoan hỷ thì công đức ấy ta cũng có phần trong đó, nên gọi là công đức tùy hỷ. Ta niệm Phật hoặc khuyên người niệm Phật, hoặc nghe thấy người niệm Phật mà phát tâm vui mừng khen ngợi đều có phần công đức cả.

Nếu như có tiếng người niệm, mà chưa tất là tiếng niệm Phật (1) hoặc khởi sinh tiếng mắng nhiết ta, hoặc chẳng phải tiếng người, như điểu, thú, thủy, phong…làm cho ta vui hay buồn.

Đối với người chưa niệm Phật, ắt sinh các thứ chướng ngại. Ta nay niệm Phật nên xem tất cả tiếng của người và chẳng phải người ấy đều là tiếng niệm Phật, chẳng khởi sinh hào ly phân biệt, đây là lành, dữ, đó là người cùng chẳng phải người. Các tiếng ấy đều dùng làm tiếng giúp ta niệm Phật, thay ta niệm Phật, ta nên vui mừng tùy hỷ. Quán như thế ấy, mới lần lần vào chỗ đại nguyện của Ngài Phổ Hiền.

Thích nghĩa:
(1) Tập niệm, hơn nữa, tiếng niệm Phật: kiêu ngạo, tiếng niệm dèm pha người tu.

5. Niệm pháp

Niệm Pháp có nhiều phương pháp, tùy người thích hợp chọn lấy một pháp trong kinh, chẳng nhứt định chừng lập ban châu tam muội (1) hay tọa nhứt hạnh tam muội (2).

Làm như thế cho được đại tấn rất khó, chi bằng hành tọa kim dụng tiện hơn gồm cả. Kinh Di Đà dạy trì danh hiệu. Quán kinh dạy các phép quán, vẫn có chỗ hay đều nên làm cả, hoặc trì danh hiệu lại phổ thông hơn.

Pháp trì danh hiệu, phải truy đỉnh (3) câu niệm Phật, phải lóng nghe câu niệm Phật. Hoặc là chỗ Tâm ấn (4) của Bổn Sư và chỗ Pháp Sư nói thập niệm (5) thảy đều dể làm mà rất thiết yếu.

Kẻ sơ học vào trường kỳ nhập hạ dể sinh tánh cẩu thả, chẳng bằng trước hết hết một thất (7 ngày) sau hai ba thất rồi đến tháng đến năm tánh cẩu thả bớt lần. Song không luận kiết thất, trường kỳ, đều cốt yếu là phải làm thinh chớ có nói năng mà niệm khó thuần nhứt.

Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói:

Nói ít một thoại đầu (6)
Niệm nhiều Phật một câu.
Nếu muốn Pháp thân sống
Phải giết quách niệm đầu (7)

Nếu chẳng khởi thoại thì chẳng niệm nhiều câu Phật, chẳng giết đặng niệm đầu, pháp thân há đặng sống sao?

Thích nghĩa:
(1) Ban châu tam muội. Tàu dịch là Phật lập. Trường hành đạo có ba nghĩa; 1. Phật oai lực; 2. Tam muội lực; 3. Bổn công đức lực.

Làm theo pháp này: 1. khi khởi niệm; 
2. Niệm gián đoạn mới có đầu câu niệm, nếu không thì bao nhiêu niệm cũng là một niệm, cho đều không còn cái một là gì. Chư Phật thường đều hiện tiền, như ban đêm trời thanh, thấy bao nhiêu ngôi sao sáng ánh. Cách tu 90 năm làm một kỳ, thân thường hành, miệng thường tụng, tâm thường niệm lục tự Di Đà không phút nào dứt.

(2) Nhứt hạnh Tam muội, Tâm cứ duy nhứt, chuyên tu một pháp chánh định, và một nghĩa nữa gồm đủ các công hạnh, từ khi phát Tâm đến thành Chánh Giác.

(3) Truy đỉnh, hết sức tinh tấn dõng mảnh, niệm một tiếng truy một tiếng, niệm một câu truy một câu, một mặt bước tới như gió cuốn mây tuôn, không cho gián đoạn, niệm cho phân minh, lóng nghe cho rành rẽ. Bao nhiêu tinh thần đều chú hết vô câu niệm Phật.

(4) Tâm ấn: Khẩu truyền Tâm thọ, không chỉ nghe ở câu vâng, phải lấy tinh thần lãnh hội, rồi ghi gắn vào lòng.

(5) Thập niệm là mười câu niệm Phật. Quán vô lượng thọ kinh nói: Đủ 10 câu niệm 10 niệm lục tự Di Đà (khênh những 10 câu niệm, 10 vạn câu mà tập niệm cũng chẳng được ích gì).

(6) Khi khởi niệm.
(7) Niệm gián đoạn mới có đầu câu niệm, nếu không thì bao nhiêu niệm cũng là một niệm, cho đều không còn cái một là gì.

Chư Phật thảy đều hiện tiền, như ban đêm trời thanh, thấy bao nhiêu ngôi sao sáng ánh. Cách tu 90 năm làm một kỳ, thân thường hành, miệng thường tụng, tâm thường niệm lục tự Di Đà không phút nào dứt.

6. Sách tấn

Biển khổ mênh mông, đường đời mù mịt, thân giả hiệp nghĩ càng thêm chán, kiếp phù sinh trông thấy mà đau! Thảm thay cho con người, sớm còn tối mất nay thạnh mai suy, rồi đây nấm đất vùi xương, sự nghiệp như mây tan bèo rã. Thế mà người đời vẫn không nhàm chán còn một hơi thở cũng đeo đuổi đến cùng. Phương chi ta đảm đương đại đạo xuất thế gian, được thoát khỏi khổ căn, lẽ nào không gắn sức! Hoặc tu lâu sinh chán rồi ngã lòng, cho thế là nhọc nhằn phiền phức!

Ta nên nhớ đến sự thống khổ của chúng sinh, trong ba ngã, sáu đường, rất thê thảm, vì đâu nông nổi ấy? Ta nếu chẳng tinh tấn niệm Phật, quyết không thoát khỏi khổ đó, nếu mình chưa thoát khổ, khó mong cứu người. Hãy phấn phát, hãy dõng mảnh. Đừng quản gì thân mạng, quyết cầu cho thấy Phật nghe Pháp, để tự lợi lợi tha.

7. Bất xả

Pháp tinh tấn hữu vi của thế gian, đều có sinh có diệt, thì không thể nối nhau lâu dài, vì chẳng nối nên ngày nay niệm: hoặc khi khởi niệm từ tháng này năm nọ, song thế nào cũng có gián đoạn. Dụng công sơ lược như thế thì Tâm cẩu thả dễ sinh.

Đức Khổng Tử đứng đầu sông xem nước than rằng: “Trôi luôn như thế không trở lại, ngày đêm chẳng ngừng ư!” Nay ta mượn cái dòng nước ngày đêm chẳng ngừng ấy mà quán. Hoặc mượn tiếng nước tuôn chẳng ngừng ấy dùng nối niệm của ta mà quán.

Nước tuôn chẳng ngừng là tại bản tánh của nó, hoặc có ngừng bởi đất đá ngăn. Thế thì cái niệm ấy chẳng dứt hoặc có dứt bởi vọng tưởng xen vào, song đất đá chỉ ngăn được tướng nước, mà tánh nước vẫn không ngăn.

Vọng tưởng chỉ dứt được tướng niệm Phật, mà tánh niệm Phật vẫn không dứt, cho nên niệm ấy hằng còn, Phật cũng chẳng dứt. Có niệm không niệm, Phật tự như như, vào ải, ra ải nào có nghĩ ngừng.

8. Hàng ma

Trong thời kỳ tu niệm do chỗ dụng công rất tốt, nên lần lần chóng phát Huệ Tánh, một vẩy là nên thi kệ, lẹ như nước tuôn.
Sơn Đại Sư nói: “ Cái bịnh thiền không nên phóng lúng nó, phải tưởng như hột châu đã chìm mất lâu đời, nay tuy tầm được nên thận trọng, chớ nên mừng.”

Dầu có làm thi kệ tuyệt diệu cũng nên im ẩn. hoặc khi thấy Phật tướng hảo quang minh, không nên vui mừng, nên tưởng đó là chơn Tâm ứng hiện. Xem như bóng ở trong gương, gương lờ bóng ẩn, gương sáng bóng bày. Không đủ cho là một sự hy kỳ (1). Phàm thấy bao nhiêu cảnh giới cũng đều niệm tưởng: Pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp.

Dùng Tâm bình thường mà xem, nên gọi Tâm bình thường là Đạo. Thế mới đủ sức hàng phục tất cả ma chướng. Vậy thì kệ kia chưa lấy gì làm đủ mà sinh ma ngã mạng cống cao! Thấy tướng hảo quang minh kia đem lòng hoan hỷ, thì cuồng loạn mất chánh định, bởi ma hoan hỷ xen vào, người tu niệm nên biết chổ ấy.

Thích nghĩa:
(1) hy kỳ: là chuyện lạ, ít có. 

9. Trị vọng

Niệm Phật không được nhất Tâm, là bởi vọng tưởng xen vào. Vọng tưởng sinh bởi ngũ căn đối ngũ trần làm nhiễu động ý căn. Hoặc ý căn vọng động buột kéo ngũ căn tuy không đối trần cũng do tưởng nghĩ.

Dứt vọng tưởng phải đoạn ý căn, đoạn ý căn, trước phải dứt cái dụng của ngũ căn. Như khi tưởng nghĩ, hoặc thấy sắc, liền tưởng nhãn căn đã dứt, không nên xem sắc mà sa đắm, thì ý căn cũng dứt liền theo đó, cho đến nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn, cũng đều dứt cái dụng như thế, thì ý căn chẳng sinh được. Lại một phương tiện: Khi vọng tưởng sinh, liền tưởng thân này đã đến nơi Thất Bảo Liên trì, niệm Phật. Niệm như thế đối với chơn lý tuy không ích gì, nhưng cũng có thể trị được ma vọng tưởng.

10. Chánh niệm

Vọng tưởng do chánh niệm lưu chuyển mà ra, cho nên lìa chánh niệm thì không vọng tưởng (1) bởi vọng tưởng là chánh niệm. Thế thì khi vọng tưởng sinh, chẳng cần trừ nó, chỉ biết nó là vọng tưởng, liền đề khởi chánh niệm, chánh niệm khởi, vọng tưởng tiêu không trừ nó cũng tự dứt.

Người tu nên quán vọng tưởng tự tánh vốn không, đặng không quán ấy, thì chẳng thấy Phật mà sinh ma phiền não.
Chỉ bình thường niệm niệm nối nhau đừng sinh cái tướng thấy Phật, cũng đừng sinh cái tướng chẳng thấy Phật. Đó mới thật là chánh niệm.

11. Thích nghi

Nếu có khi cầu thấy Phật mà chẳng đặng thấy, thì chẳng nên sinh ưu phiền vì chẳng thấy Phật. Bởi sao?
Tâm kinh nói: “Sắc tức là không, không tức là sắc. Chỉ đặng cái tâm không, thấy cùng chẳng thấy nào có khác nhau”. Hoặc còn có nghi theo kinh Kim Cang nói:

“ Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm điệu cầu ta
Người ấy cầu tà đạo”.

Hẳn không thấy đặng ta. Như sợ cái niệm Phật, thấy Phật ấy là tà đạo, bởi sắc kiến, thanh cầu, thì nên tưởng sắc thanh đều không. Không ấy tức là Như Lai. Pháp thân Như Lai ta chẳng nên nói dùng sắc thanh mà cầu thấy, cũng chẳng nên nói dùng sắc thanh cầu mà chẳng thấy. Người tu Phật chẳng cầu thấy Phật, thì niệm niệm chẳng biết, mà cầu thấy Phật là vọng tưởng (1), chỉ nên niệm cầu thấy, mà thật như chưa cầu, niệm niệm chẳng thấy, cũng không cái chẳng thấy.

Thích nghĩa
(1) Phật tức chúng sinh, chúng sinh tức Phật. Chánh định với vọng tưởng cũng thế. Không chánh là vọng, không vọng là chánh. Đã chánh định, mà còn chấp trước cái chánh định tức là vọng tưởng.

12. Giải hành

Tu pháp niệm Phật Tam muội chẳng ngoài cái hiểu, và làm như trước đã nói, muốn làm phải rõ lý cho thông đạt, khi làm mới khỏi sai lầm. Nếu chỉ có Tâm nghe rõ nghĩa cho là triệt ngộ, cũng như cơn đói mà nhìn cái bánh vẽ, thật chẳng ích gì. Tuy thông đạt nghĩa lý, khi đem thực hành, cái tri giải ấy, phải tảo trừ cho sạch, không còn dính một hào ly (1), chỉ để Tâm không mà niệm.

Nên nói khi làm tri giải phải đoạn tuyệt, thì niệm Phật mới tương ưng. Nếu tri giải ấy còn một hào ly chẳng quên, thì chẳng đặng thật chứng Tam muội. Hai chữ Hành Giải nếu tâm sơ xuất lần lần ắt phải ngộ nhận. Nếu sai một hào ly, cách xa trời biển.

Thích nghĩa
(1) Hào ly : Mảy may nhỏ nhất.

13. Bị cơ

Pháp tịnh độ đối với cõi trược, thật là phương pháp rất hợp bịnh. Thế giới ngày nay đủ cả ngủ trược (1), nghiệp chướng nhảy đầy, như tham, sân, si, sát, đạo, dâm, vọng… trược như thế mà không nói Pháp tịnh độ thì làm sao mà cứu nổi.

Danh nghĩa chữ Tịnh: Tịnh là không tạp, nếu tạp thì tuy kim thiện pháp cũng không thể nào làm hết trược đặng. Ví như nước tuy trong, dầu lấy cây thủy tinh mà quậy, đã quậy tất phải hổn trượt, thì vầng trăng kia tuy quang minh cũng không thể thấy được cái phản ảnh (2) của nó.

Bởi thế Đường Thiện Đạo Hòa Thượng nói “Tu tịnh nghiệp có chuyên, tạp hai thứ, chuyên tu mười phần đặng trọn cả mười, còn tạp tu trăm phần khó đặng một, hai.”

Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát chỉ quyết về Tây Phương mà nói: “ Chuyên tu là một pháp môn tối yếu”. Người tu Tam muội, nên xem đó là kim chỉ nam.

Thích nghĩa
(1) Ngủ trược: là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, chúng sinh trược và mạn trược.
(2) Phản ảnh: Bóng chiếu.

14. Nghiêm thành

Hoặc hỏi: Nếu chẳng cầu thấy Phật, thì thành Tam muội là gì? Trọn không sở đắc, làm sao biết là Tam muội?
Đáp: Niệm Phật là cái nhân của Tam muội, Tam muội là cái quả của niệm Phật.
- Nhân ngay thẳng thì quả không vạy vò. Nếu y theo pháp niệm Phật, công thuần rồi thấy Phật cũng được, không thấy Phật cũng được.

Như niệm Phật chẳng y theo Pháp, hoặc công chẳng đến tột, thì có sở đắc là ma, không sở đắc là si ám. Bản thể chúng ta là Phật, chưa thành Phật là bởi nhiều kiếp đến nay khởi hoặc tạo nghiệp, phát sinh món món tập khí, như tham sân, sát, đạo, dâm, vọng.

Người tu nếu niệm Phật, công đã tột rồi, thì khi đối với cảnh duyên, không có một mảy phát sinh các món ấy. Cũng như tứ chi đã chặt đứt, không bao giờ liền lại được.

Theo trong tông môn nói: Đại tử đại hoạt (1). Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói: “Nếu muốn pháp thân sống, phải giết quách niệm đầu.” Cho đến các món thần thông diệu dụng đặng, chẳng nên mừng, cũng chẳng nên lộ. Mừng thì sa vào ma vọng tưởng, còn lộ thì cái đặng ấy ắt phải mất. Nên thận trọng.

Thích nghĩa
(1) Đại tử đại hoạt: Đoạn tuyệt trần tâm, liễu ngộ Phật Tánh.

Hòa thượng Hư Vân
Sa môn Hiển Chơn dịch
Hư Vân
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z