Vị Hòa thượng trọn đời dành tâm nguyện nuôi trẻ mồ côi
HT.Thích Hành Sơn, sinh năm Mậu Thân (1908) tại xã Tam Thái, huyện Phú Ninh (Quảng Nam cũ). Ngài là vị giáo phẩm sống trong thời buổi chiến tranh ác liệt vẫn luôn nỗ lực hoằng pháp lợi sanh; trong khoảng 30 năm tu học và hành đạo, Ngài đã trùng kiến và xây dựng 5 ngôi chùa, 1 Cô nhi viện An Hòa tại Quảng Nam.

Theo tiểu sử cho môn đồ pháp quyến phụng soạn, Hòa thượng Thích Hành Sơn thế danh Lê Đình Nam, sinh năm Mậu Thân (1908) trong một gia đình trung nông, có truyền thống Nho học, ở làng Đại An, xã Kỳ Long (xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam - nay thuộc TP Đà Nẵng). Thân phụ ngài là cụ ông Lê Văn Thơ, Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mới.
Những năm đầu của thập niên 40, Ngài mới có nhân duyên gặp Phật Pháp và cũng trong thời gian này Ngài cùng với người anh là Lê Trọng Hoàng, em là Lê Tấn Phước cùng với Phật tử Nguyễn Quế phát tâm sáng lập chùa Đại An tại quê nhà vào năm 1944.
Năm Ất Mùi (1955) Ngài thọ Tam Quy - Ngũ Giới với Hòa Thượng Thích Trí Giác tại Tổ đình Phước Lâm - Hội An với Pháp danh Thị Hải.
Năm Canh Tý (1960) thấu rõ được lẽ vô thường của nhân sinh thế cuộc, Ngài phát tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Giải An tại chùa Thọ Sơn, tỉnh Quảng Ngãi với pháp tự Hành Sơn. Sau hai năm thờ thầy học đạo, Ngài được Hòa thượng Bổn Sư cho thọ giới Cụ túc tại Đại Giới Đàn do Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức tại Phật Học Viện Sài Gòn, chùa Ấn Quang vào ngày mùng 2 tháng 8 năm Nhâm Dần (1962).
Sau khi thọ Cụ Túc giới, Ngài lưu lại Sài Gòn ở chùa Giác Nguyên - Vĩnh Hội (nay là phường Vĩnh Hội, TP HCM) để tu học một thời gian và tham dự An Cư Kiết Hạ tại dây.
Sau khi về lại quê nhà, Ngài được Giáo Hội Quảng Nam cùng Phật tử Quế Sơn thỉnh làm trụ trì chùa Viên Minh, làng Trung Lộc, xã Sơn Phúc, quận Đức Dục (nay là xã Nông Sơn, TP Đà Nẵng). Ở đây, Ngài nỗ lực tu tập, tiếp tăng độ chúng và phát triển Phật Pháp rộng ra các vùng phụ cận như Trung Phước, Đại Bình, Khương Quế, Nông Sơn, Sơn Ninh, Sơn Thuận (tức Quế Ninh, Quế Phước cũ).
Năm 1965, chiến tranh lan rộng nên Ngài về lánh nạn tại Hội An. Đến năm 1966, Ngài cùng với chư tôn đức lãnh đạo GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam thành lập chùa An Lạc tại trại định cư Thanh Đông (nay thuộc phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng).
Cũng trong thời gian này, Ngài lên khu kỹ nghệ An Hòa, quận Duy Xuyên khai sơn ngôi chùa An Hòa. Tiếp đó, Ngài khai sơn chùa Nông Sơn, chùa Minh Giác và được cử làm Chánh Đại Diện Phật Giáo quận Đức Dục. Năm 1968, chiến sự diễn ra mỗi lúc càng khốc liệt, nạn nhân mỗi ngày càng nhiều, được sự ủy nhiệm của tỉnh Giáo Hội Quảng Nam, Ngài đứng ra thành lập Cô Nhi Viện An Hòa và làm Giám Đốc, nhận nuôi nấng các trẻ em mồ côi và giúp cho các nạn nhân chiến tranh.
Năm 1971, chùa An Hòa và Cô Nhi Viện An Hòa bị kẻ lạ mặt dùng pháo và súng liên thanh tấn công vào ban đêm, làm chết một vị tăng và nhiều trẻ em mồ côi. Riêng thầy bị thương nặng, phải chuyển về chữa trị tại Bệnh Viện Duy Tân - Đà Nẵng.
Sau khi phục hồi sức khỏe, được sự chỉ đạo của Tổng vụ Từ Thiện Xã Hội Giáo Hội Trung ương, Hòa thượng quyết định chuyển dời Cô Nhi Viện về tại khuôn viên chùa Pháp Hội, An Hải Đông - quận 3, Đà Nẵng, Ngài tiếp tục nhiệm vụ Giám Đốc và nuôi dạy trẻ mồ côi.
Năm 1972, Ngài được thỉnh cử làm trụ trì chùa Pháp Hội, Hòa thượng đã trùng kiến toàn bộ ngôi chùa này.

Năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, Ngài bàn giao Cô Nhi Viện An Hòa cho Nhà nước, nghỉ chức Giám đốc Cô Nhi Viện, chỉ giữ lại chức vụ trụ trì chùa Pháp Hội.
Vào tháng 3 năm 1975, người dân lánh nạn chiến tranh lần lượt trở về quê cũ. Hòa thượng trở lên Quế Lộc xây dựng lại ngôi chùa Viên Minh để kịp thời có chỗ cho chư Tăng và Phật tử tu tập, phụng sự Đạo pháp. Sau đó, Ngài giao lại cho đệ tử là thầy Đồng Châu làm trụ trì, Ngài trở về tiếp tục điều hành Phật sự tại chùa Pháp Hội, đồng thời về quê nhà củng cố lại chùa Đại An.
Năm 1986, vì tuổi cao sức yếu, Ngài bàn giao chùa Pháp Hội cho Phật tử tập đảm nhiệm, Ngài lui về chùa Đại An ven đồi núi quê nhà để an dưỡng tu niệm.
Đầu năm Kỷ Tỵ (1989) tự thấy mình tuổi đã cao, sức đã yếu, biết không còn sống được bao lâu nữa, nên Ngài thu xếp mọi việc để chuẩn bị cho chuyến đi xa. Dự tri thời chí, vào lúc 18 giờ, Ngài an nhiên viên tịch - trụ thế 83 tuổi, 28 Hạ Lạp.
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường (1930-2026)
Tăng sĩCuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường là bài pháp vô ngôn về hạnh xả ly và thoát tục.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục
Tăng sĩDù ở bất kỳ vị trí, nhiệm vụ nào, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục cũng đều tận tâm, tận lực, hành Bồ-tát đạo, nêu cao tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật “Phật pháp bất ly thế gian giác”, là tấm gương sáng cho hàng hậu học noi theo.
Đức Đại lão HT.Thích Tịnh Khiết - danh Tăng lỗi lạc
Tăng sĩĐại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), nguyên Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Đệ nhất Tăng thống GHPGVN Thống nhất, bậc danh Tăng kiệt xuất đã lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đi qua khúc quanh bi tráng nhất của một thời đại.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Như Tín (1939-2026)
Tăng sĩHòa thượng thế danh Huỳnh Thứu, sinh năm Kỷ Mẹo (1939) tại thôn Phúc Khương, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Vu Gia, TP.Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Huỳnh Thanh Dật, pháp danh Chơn Nhân, sau xuất gia với Tổ Hoằng Cam tại tổ đình Cổ Lâm - huyện Đại Lộc (cũ) được ban pháp tự Đạo Nghĩa, hiệu Minh Châu. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Kiến, pháp danh Chơn Tánh.
Xem thêm














