Cốt cách người tu hành: HT Thích Trí Tịnh
Nhiều người tu lâu năm, thường đi chùa, ăn chay, ngồi thiền, niệm Phật, làm công quả, theo học giáo lý với nhiều thầy nổi tiếng, nhưng bấy nhiêu đó có đủ để chứng minh là người này tu khá, tu đúng và đưa đến giải thoát hay không?
Cũng có những người tu chỉ thích đến chùa làm công quả, hoặc thích tạo chùa to, tượng lớn. Có người thích nhiều chùa, đông đệ tử. Có người thích học lấy nhiều bằng cấp thế gian. Có người thích nổi tiếng... Những cái đó có phải là tu không?
Nhiều người tu lâu năm, thường đi chùa, ăn chay, ngồi thiền, niệm Phật, làm công quả, theo học giáo lý với nhiều thầy nổi tiếng, nhưng bấy nhiêu đó có đủ để chứng minh là người này tu khá, tu đúng và đưa đến giải thoát hay không?
Sau đây là những tiêu chuẩn tối thiểu và căn bản để nhận xét một người tu đúng hay không?
1. Còn ham thích tài sản, danh lợi và sắc dục hay không?
2. Còn dễ nổi sân hay không? Khi gặp chuyện trái ý thì có giận dữ, bực tức hay không?
3. Còn kiêu căng ngã mạn hay không? Còn thích khoe khoang, điều khiển kẻ khác không? Còn thích được khen ngợi, được tâng bốc hay không?
4. Còn chấp vào Đạo của tôi, thầy tôi hay pháp môn của tôi là hay hơn hết? Còn có cái tâm hẹp hòi, ưa chia rẽ, bè phái, chỉ trích vu khống, chụp mũ người khác không?
Nếu còn 4 điều trên thì dù đã tu 30, 40 năm, ngồi thiền nhập định 6, 7 tháng, tu đủ loại pháp môn Thiền, Tịnh, Mật, tụng làu làu đủ loại kinh chú, có hàng ngàn đệ tử, viết hàng trăm cuốn sách, người này vẫn chưa tu đúng theo đạo Phật!
Ngoài ra, một người tu còn cần phải có ít nhất những đức tính sau đây:
1. Biết làm phước, bố thí:
Có những người học (đọc) nhiều kinh sách, hiểu biết giáo lý, nói đạo rất hay, nhưng không biết làm phước, bố thí, mà lại keo kiệt, bỏn sẻn, bo bo bám chặt vào tài sản, tiền bạc của mình.
2. Nói lời ái ngữ:
Có người theo học đạo lâu năm mà không giữ gìn khẩu nghiệp, ăn nói xả láng, chê bai, chỉ trích, vu khống, bịa đặt, phỉ báng kẻ khác.
3. Từ, Bi, Hỷ, Xả:
Thiếu 4 đức tính này thì không phải là kẻ tu hành!
4. Khiêm cung và lễ độ:
Càng tu thì cái ngã phải nhỏ dần và biết cung kính tôn trọng kẻ khác, nhất là các bậc trưởng thượng. Hãy nhìn vào các phiên họp Đạo, các giao tế cộng đồng thì thấy rõ nhất.
Nếu chưa có những đức tính này thì cũng gọi là chưa biết tu hoặc tu chưa đủ để sửa đổi tâm tánh.
Hãy tự xét lại, nhìn lại mình xem, mình đạt đến đâu để dừng lại sửa ngay sơ sót, kẻo uổng phí một kiếp người may mắn có Đạo.
LÀM GÌ CŨNG PHẢI NHỚ MÌNH LÀ NGƯỜI CON PHẬT !
HT Thích Trí Tịnh
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường (1930-2026)
Tăng sĩCuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường là bài pháp vô ngôn về hạnh xả ly và thoát tục.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục
Tăng sĩDù ở bất kỳ vị trí, nhiệm vụ nào, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục cũng đều tận tâm, tận lực, hành Bồ-tát đạo, nêu cao tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật “Phật pháp bất ly thế gian giác”, là tấm gương sáng cho hàng hậu học noi theo.
Đức Đại lão HT.Thích Tịnh Khiết - danh Tăng lỗi lạc
Tăng sĩĐại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), nguyên Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Đệ nhất Tăng thống GHPGVN Thống nhất, bậc danh Tăng kiệt xuất đã lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đi qua khúc quanh bi tráng nhất của một thời đại.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Như Tín (1939-2026)
Tăng sĩHòa thượng thế danh Huỳnh Thứu, sinh năm Kỷ Mẹo (1939) tại thôn Phúc Khương, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Vu Gia, TP.Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Huỳnh Thanh Dật, pháp danh Chơn Nhân, sau xuất gia với Tổ Hoằng Cam tại tổ đình Cổ Lâm - huyện Đại Lộc (cũ) được ban pháp tự Đạo Nghĩa, hiệu Minh Châu. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Kiến, pháp danh Chơn Tánh.
Xem thêm














