Phật Giáo

Thế nào là 7 đức Phật quá khứ, nguyên thủy thất Phật?

Thứ bảy, 06/07/2019 | 12:00

Bảy vị Phật quá khứ hay 7 vị Phật nguyên thủy, quá khứ thất Phật, nguyên thủy thất Phật, là tên gọi chung chỉ 7 vị Phật được đề cập tới kinh sách Phật giáo, trong Đại bổn kinh của Trường bộ kinh (Trường a hàm kinh). Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) thuộc Hiền kiếp là vị Phật cuối cùng trong số này.

Lịch sử chư Phật này ghi trong các kinh, luật: Tạp A-hàm 34, Trường A-hàm 1, kinh Đại Bản, Kinh Tăng Nhất A-hàm 45, Kinh Hiền Kiếp 7, Kinh Thất Phật Phụ Mẫu Tự Tính Tự, Kinh Thất Phật, Phật Bản Hạnh Kinh Tập 11, Hữu Bộ Tì-nại-da Phá Tăng Sự, Kinh Du Hành Bản Khởi… về nhân thân, sự ra đời, dòng họ, cha, mẹ, thê tử, đệ tử, thị giả, nơi ở, đạo tràng, chúng hội thuyết pháp đầu tiên.

Tập Dị Môn Túc Luận 3 (Đại 26, 378 hạ) đã đặt vấn đề: Đời quá khứ là gì? Và trả lời rằng:

“Các hành đã khởi, đã cùng khởi, đã sinh, đã cùng sinh, đã chuyển, đã cùng chuyển, đã nhóm họp, đã xuất hiện, rơi vào quá khứ, diệt hết và biến đổi thành tính quá khứ, loại quá khứ, thuộc về đời quá khứ, đó là nghĩa quá khứ thế”.

Một vấn đề nữa, quá khứ chư Phật trên thuộc về kiếp nào? Kiếp chia làm 3 loại: Đại kiếp, Trung kiếp và Tiểu kiếp. Đại kiếp hiện tại gọi là Hiền kiếp, Đại kiếp quá khứ gọi Trang Nghiêm kiếp, Đại kiếp vị lai gọi là Tinh Tú kiếp. Trong mỗi kiếp có 1.000 vị Phật ra đời. Như vậy 7 vị Phật trên thuộc về Quá khứ Trang Nghiêm kiếp, lần lượt ra đời từ đầu kiếp 91 trở đi, tức tuổi thọ loài người từ 80.000 tuổi, 70.000 tuổi… 30.000 tuổi đến Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 4,5 trước Tây lịch.

Thường trong giai đoạn đầu, khi chư Phật ra đời đệ tử đều thanh tịnh, chư Phật chỉ nói một bài kệ ngắn gọn, đệ tử y theo đó tu hành nhanh chóng chứng quả giác ngộ. Nội dung chung nhất là luôn phải chiết phục thân, khẩu, ý, luôn ngăn chận đừng làm các điều ác mà phải hành động thiện, thể hiện điều thiện qua đi, đứng, nằm, ngồi, qua đối nhân, xử thế…

Vì thế trong Phẩm Tự, Kinh Tăng Nhất A-hàm 1 (Đại 2, 551 thượng) giải thích ý nghĩa cô đọng như sau: “Nghĩa của Tứ-hàm thì trong một bài kệ đều có đầy đủ giáo pháp của chư Phật và giáo pháp của Bích-chi-phật, Thanh văn. Sở dĩ như vậy là vì các điều ác đừng làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; Còn tuân thủ làm các điều thiện thì tâm ý thanh tịnh, tự lòng mình trong sáng, đọan trừ tà kiến điên đảo, đó là lời chư Phật dạy, trừ bỏ ngu hoặc”.

1) Tỳ Bà Thi Phật: 

Nhập Niết Bàn cách đây chín mươi mốt kiếp, thọ tám vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Duy Vệ, trị vì đất nước tên Sát-mạt-đề. Thị giả của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên A-thâu-ca. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-bà-thi Như Lai có sáu vạn hai ngàn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới Kệ:

忍辱爲第一

佛說無爲最

不以剃鬚髮

害他爲沙門

Phiên âm:

Nhẫn nhục vi đệ nhất

Phật thuyết vô vi tối

Bất dĩ thế tu phát

Hại tha vi sa-môn

Tạm dịch:

Nhẫn nhục là bậc nhất

Niết-bàn là tối thượng

Xuất gia não hại người

Không xứng danh Sa-môn

Tỳ Bà Thi Phật

Tỳ Bà Thi Phật

2) Thi Khí Phật: 

Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ bảy vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Phật Thức, trị vì đất nước tên A Lâu Na Hòa Đề. Thị giả của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên Sát-ma-ca-rô. Hội thuyết pháp thứ nhất của Thi-khí Như Lai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có tám mươi ức Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

若眼見非邪

者不座牀亦復然

執志爲專一

是則諸佛敎

Phiên âm:

Nhược nhãn kiến phi tà

Tọa sàng diệc phục nhiên

Chấp chí vi chuyên nhất

Thị tắc chư Phật giáo

Dịch nghĩa:

Như mắt thấy sai quấy

Chỗ nằm ngồi cũng vậy

Giữ chí cho chuyên nhất

Là lời chư Phật dạy

Thi Khí Phật

Thi Khí Phật

3) Tỳ Xá Phù Phật: Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ sáu vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Tùy Diệp, trị vì đất nước tên A-nâu-ưu-ma. Thị giả của Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Ô-ba-phiến-đổ. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-xá-phù Như Lai có tám vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có sáu vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

不 害 亦 不 非

奉 行 於 大 戒

於 食 知 止 足

座 牀 亦 復 然

執 志 爲 專 一

是 則 諸 佛 敎

Phiên âm:

Bất hại diệc bất phi

Phụng hành ư đại giới

Ư thực tri chỉ túc

Tọa sang diệc phục nhiên

Chấp chí vi chuyên nhất

Thị tắc chư Phật giáo

Tạm dịch:

Không hại, không sai trái

Luôn hành trì đại giới

Ăn uống biết dừng đủ

Chỗ nằm ngồi cũng vậy

Giữ chí cho chuyên nhất

Là lời chư Phật dạy

Tỳ Xá Phù Phật

Tỳ Xá Phù Phật

4) Câu Lưu Tôn Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ sáu trong hiền kiếp, thọ bốn vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Câu Lâu Tần, trị vì đất nước tên Luân-ha-lợi-đề-na. Thị giả của Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Một-đề-du. Câu-lưu-tôn Như Lai thuyết pháp một hội có bốn vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

譬如蜂採花

其色甚香潔

以味惠施他

道士遊聚落

不誹謗於人

亦不觀是非

但自觀身行

諦觀正不正

Phiên âm:

Thí như phong thái hoa

Kỳ sắc thậm hương khiết

Dĩ vị huệ thí tha

Đạo sĩ du tụ lạc

Bất phỉ báng ư nhân

Diệc bất quán thị phi

Đản tự quán thân hành

Đế quán chánh bất chánh

Tạm dịch:

Như ong hút mật hoa

Hương sắc hoa càng thắm

Đem vị ban cho người

Tỳ kheo vào làng xóm

Không phỉ báng một ai

Thị phi chẳng nhìn đến

Chỉ xét hành vi mình

Có đoan chính hay không

CauLuuTonPhat

5) Câu Na Hàm Mâu Ni Phật: 

Xuất hiện vào kiếp thứ bảy, thọ ba vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Sai-ma-việt-đề. Thị giả của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên To-rô-đế-lý-dã. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội có ba vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

執志莫輕戲

當學尊寂道

賢者無愁憂

當滅志所念

Phiên âm:

Chấp chí mạc khinh hý

Đương học tôn tịch đạo

Hiền giả vô sầu ưu

Đương diệt chí sở niệm

Tạm dịch:

Giữ tâm chớ khinh đùa

Cần học đạo tịch diệt

Hiền giả không sầu lo

Quyết tâm diệt sở niệm

6) Ca Diếp Phật: 

Xuất hiện vào kiếp thứ tám, thọ hai vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Ba-la-tư. Thị giả của Ca-diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tát-lý-phược mật-đát-la. Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội có hai vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 

Giới kệ:

一切惡莫作

當奉行其善

自淨其志意

是則諸佛敎

Phiên âm:

Nhất thiết ác mạc tác

Đương phụng hành kỳ thiện

Tự tịnh kỳ chí ý

Thị tắc chư Phật giáo

Tạm dịch:

Đừng làm các điều ác

Vâng làm các điều thiện

Giữ tâm ý trong sạch

Là lời chư Phật dạy

CaDiepPhat

7) Thích Ca Mâu Ni Phật: 

Xuất hiện vào kiếp thứ chin, thọ trên dưới 100 tuổi (Khi giảng kinh, Ngài nói Ngài thọ trên dưới 100 tuổi, thật tế Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi). Ngài trị vì đất nước tên Ca-duy-la-vệ. Thị giả của Thích Ca Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên A-nan-đà. Phật Thích Ca thuyết pháp một hội có một ngàn hai trăm năm mươi Bí-sô đắc quả A-la-hán.(Nếu kể thêm vị Phật tương lai là Phật Di Lặc thì chúng ta có tất cả 8 vị Phật thị hiện ở cõi Ta bà này).

Giới kệ:

護口意清淨

身行亦清淨

淨此三行迹

修行仙人道

Phiên âm:

Hộ khẩu ý thanh tịnh

Thân hành diệc thanh tịnh

Tịnh thử tam hành tích

Tu hành tiên nhân đạo

Tạm dịch:

Giữ miệng, ý thanh tịnh

Thân hành cũng trong sạch

Ba nghiệp đều thanh tịnh

Đạo Như Lai tu hành

Giới Bồ-tát cũng hình thành từ 7 kệ trên, cho thấy rõ trong Tam Tụ Tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới tức không làm các điều ác. Nhiếp thiện pháp giới tức làm tất cả các điều thiện, Nhiêu ích hữu tình giới làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Như vậy Bảy kệ giới của chư Phật quá khứ là giới luật căn bản của Đạo Phật, không luận xuất gia hay tại gia.

Để kết thúc xin dẫn ra bài kệ của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà trong Luật Bí Sô thuộc Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ coi đó là Giới Kinh được Ngài đúc kết sau khi Thành đạo:

Tỳ-bát, Thí-thức Khí

Tỳ-xá, Câu-lưu-tôn

Yết-nặc-ca Mâu-ni

Ca-diếp, Thích-ca Tôn

Như vậy Trời trong trời

Bậc Vô-thượng Điều ngự

Bảy Phật đều hùng mạnh

Hay cứu hộ thế gian

Đầy đủ đại danh xưng

Đều nói Giới kinh này.

Chư Phật và đệ tử

Đều cùng tôn kính giới

Do cung kính Giới kinh

Chứng đặng quả Vô-thượng

Người nên cầu xuất ly

Siêng tu trong Phật giáo

Hàng phục quân sanh tử

Như voi phá nhà cỏ

Ở trong pháp luật này

Thường tu không phóng dật

Làm khô biển phiền não

Sẽ hết ngằn mé khổ

Như Giới kinh này nói

Hòa hợp làm trưởng tịnh

Phải cùng tôn kính giới

Như trâu mao tiếc đuôi

Tôi nói Giới kinh rồi

Chúng Tăng trưởng tịnh xong

Phước lợi các hữu tình

Đều trọn thành Phật Đạo.

Hình tượng 7 vị Phật tại Quần thể hang động Ajanta, Ấn Độ. Ảnh: Amarnath

Hình tượng 7 vị Phật tại Quần thể hang động Ajanta, Ấn Độ. Ảnh: Amarnath

Trong 3 kiếp quá khứ, hiện tại, vị lai đều có cả nghìn vị Phật; tuy nhiên đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật quá khứ là Nhiên Đăng Cổ Phật (Dipankara), đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật vị lai là Di Lặc Tôn Phật (vị lai có ý nghĩa bề mặt là "chưa đến" hay thuộc về "tương lai").

Số lượng các vị Phật theo kinh điển mô tả là hằng hà sa số (nhiều như cát sông Hằng), do vậy tìm hiểu khởi nguồn của chư Phật là không thể, quá phạm vi kiến thức mà một chúng sinh có thể biết, đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi được hỏi về vấn đề này bởi một người Bà La Môn, Ngài đã im lặng không trả lời vì nó thật sự không cần thiết, một việc vô nghĩa đối với giáo pháp tu tập để đạt giác ngộ.

  

Nguyên Phong
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z