Thứ tư, 24/04/2019 11:03 (GMT +7)

| Hà Nội 34°C /57%

DỮ LIỆU
Phật Giáo
Thứ hai, 10/02/2020, 14:54 PM

'Từ bi' trong đạo Phật là gì?

Trong Phật giáo, tâm từ bi được đánh giá là tâm lý tối thượng, hành động từ bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi hành động. Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm hạnh phúc cao thượng nhất. Từ bi là suối nguồn tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm linh.

 > Chuyển hóa tâm thức

Hiểu từ bi theo Thắng Pháp Tập Yếu Luận

Từ (Mettà) có gốc từ ngữ căn mida là làm cho dịu, thương yêu. Chính là sự mong ước, khẩn nguyện cho hết thảy chúng sinh an lành. Mettà không phải là tình thương vật chất, cũng không phải là cảm tình riêng tư. Mettà bao trùm toàn thể chúng sinh không trừ một ai. Cùng tột của Mettà là sự thể nhập bản ngã với tất cả chúng sinh (Sabbatthtà).

Bài liên quan

Thực ra, tâm từ không có tâm riêng biệt trong các loại tâm. Tâm từ này là một trong những phận sự biết đối tượng của tâm sở vô sân (Adosacetasika). Tâm sở vô sân thuộc loại tâm sở tịnh hảo (sobhanacetasika) đồng sinh với tất cả tịnh hảo tâm. Nếu nó đồng sinh với tịnh hảo tâm không biết đến đối tượng chúng sinh là đáng yêu, đáng mến, đáng kính thì tâm vô sở sân ấy không gọi là tâm từ. Nếu biết đối tượng chúng sinh đáng yêu, đáng mến, đáng kính thì tâm sở vô sân ấy gọi là tâm từ.

Từ (Mettà) có gốc từ ngữ căn mida là làm cho dịu, thương yêu. Chính là sự mong ước, khẩn nguyện cho hết thảy chúng sinh an lành.

Từ (Mettà) có gốc từ ngữ căn mida là làm cho dịu, thương yêu. Chính là sự mong ước, khẩn nguyện cho hết thảy chúng sinh an lành.

Bi (Karunà), từ ngữ căn Kar (làm) + Unà là cái làm cho tâm sở người thiện thêm rung động trước sự đau khổ của chúng sinh; cái làm tiêu tan sự đau khổ của chúng sinh. Đặc tính của karunà là thương xót trước sự đau khổ của người khác, cầu mong diệt trừ sự đau khổ của người khác.

Cả từ và bi đều đi chung với chữ Citta: Tâm, sự hiểu biết.

Bài liên quan

Đối tượng của tâm “Từ” là chúng sinh đáng yêu, đáng mến, đáng kính (piyamanapasattapannatti); Còn đối tượng của tâm “Bi” là chúng sinh đang bị đau khổ (dukkhitasattapanntti).

Nếu xét theo tâm lý riêng, thì tâm “Từ” và tâm “Bi” không bao giờ đi đôi, không đồng sinh với nhau, bởi vì chúng có đối tượng chúng sinh khác nhau. Cho nên khi nào có tâm “Từ” thì không có tâm “Bi”; ngược lại khi nào có tâm “Bi” thì không có tâm ‘Từ”. Nhưng nếu xét theo tâm lý chung thì “Từ” và “Bi” đều không câu hữu với “Xả” vì chúng lấy chúng sinh làm đối tượng, nên không khởi trong các siêu thế tâm vì siêu thế tâm lấy Niết Bàn làm đối tượng.

Trong nhân gian chữ từ bi được hiểu là lòng thiện, lòng thương người, thương vật, không có tính vị kỷ và nhất là hay giúp đỡ người khác lúc khó khăn.

Trong nhân gian chữ từ bi được hiểu là lòng thiện, lòng thương người, thương vật, không có tính vị kỷ và nhất là hay giúp đỡ người khác lúc khó khăn.

Hiểu từ bi theo Thanh Tịnh Đạo Luận

Có thể phân tích tóm lược từ bi theo Thanh tịnh Đạo Luận như sau:

Về ý nghĩa: từ có nghĩa là hòa tan, hóa giải những uẩn kết; bi là tiêu hủy những nỗi khổ của người khác.

Bài liên quan

Về đặc tính: từ đem lại sự an lạc, làm cho ác tâm lắng dịu; bi có đặc tính làm giảm bớt đau khổ và triệt tiêu sự tàn bạo.

Về mục đích: từ diệt tâm sân; bi ngăn tâm ác.

Về chướng ngại: tham là chướng ngại gần của từ, sân là chướng ngại xa của từ; liên hệ với gia đình là chướng ngại gần của bi, tàn bạo là chướng ngại xa của bi.

Về giới hạn: từ là cơ sở cho sự giải thoát nhờ tịnh hướng; bi là điểm tựa căn bản cho không vô biên xứ.

Từ bi là suối nguồn tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm linh.

Từ bi là suối nguồn tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm linh.

Từ bi theo Kinh Đại Bảo Tích

Bài liên quan

Chúng sinh duyên từ: Từ bi là lòng thương tất cả chúng sinh theo lẽ thường.

Pháp duyên từ: Là kết quả của việc chứng ngộ được tính vô ngã pháp, là quả vị của tất cả những vị Thanh văn, Duên giác và Bồ Tát bước vào địa vị thứ nhất của thập địa.

Vô duyên từ: Là tấm lòng thương yêu vô phân biệt, vô điều kiện của một vị Phật.

Hiểu theo lối chiết tự chữ Hán

Chữ từ (慈), trên là chữ tư (玆) nói theo văn bạch thoại là chữ như thị (如是), nghĩa là như vậy; dưới là chữ tâm (心). Từ là tâm như vậy. Tâm như vậy là khi thấy niềm vui hay nỗi khổ của người khác, đều có sự cảm nhận tương đương như vậy. Khi thấy người khác vui thì cầu mong cho mọi người có niềm vui. Khi người khác khổ thì mong muốn cho họ chấm dứt sự khổ.

Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm hạnh phúc cao thượng nhất.

Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm hạnh phúc cao thượng nhất.

Chữ Bi (悲), trên là chữ phi(非), là không phải; dưới là chữ tâm (心). Bi là chữ phi tâm (非心). Phi tâm là không ngừng cải cách, chuyển hóa cái tâm phân biệt, ích kỉ của ta. Khiến cái tâm đó tiếp cận với “cái tâm như vậy”, tâm có khả năng cảm nhận niềm vui sướng cũng như nỗi khổ đau của người khác. Khi ấy chúng ta mới có được lòng từ bi đích thực. Nếu như không biến đổi được, hoặc không tìm ra được “cái tâm như vậy” thì lòng từ bi của chúng ta sẽ không được chân thật. “Cái tâm như vậy” chính là chân tâm, là Phật tánh, là bản thể thanh tịnh của chúng sinh.

Hiểu từ bi theo nhân gian
Bài liên quan

Trong nhân gian chữ từ bi được hiểu là lòng thiện, lòng thương người, thương vật, không có tính vị kỷ và nhất là hay giúp đỡ người khác lúc khó khăn. Khi những hoàn cảnh cùng khổ xảy ra thì người ta mong ước có vị Bụt với tấm lòng từ bi hiện ra. Cửa chùa được người đời gọi là “cửa từ bi”, bóng dáng của một vị sư được gọi là “bóng từ bi”, lòng hiền từ hay giúp đỡ người khác gọi là lòng từ bi, thậm chí đôi mắt từ bi, đôi môi từ bi. Nói chung những gì có tính năng giúp đỡ hoặc đem niềm vui đến cho người khác đều được gọi là từ bi. Như vậy chữ từ bi là thuần của Phật giáo và được ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp vào tâm trí nhân gian. Nó là niềm tin, là một điều gì đó hiền lành, thân thiện.

Trong Phật giáo, tâm từ bi được đánh giá là tâm lý tối thượng, hành động từ bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi hành động.

Trong Phật giáo, tâm từ bi được đánh giá là tâm lý tối thượng, hành động từ bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi hành động.

Như vậy “Từ”, “Bi” vừa là một loại tâm vừa là một loại nhận thức để hành động, vừa là một biểu tượng đẹp đẽ. Cho nên nó vừa là pháp tu tập cho bản thân để thăng hoa tâm linh vừa là pháp hành động để lợi ích cho tha nhân, và cũng vừa là lẽ sống cao đẹp, hạnh phúc cho mọi người.

Bài liên quan

Nhận thấy sự hổ tương mật thiết có tính lợi tha của “Từ” và “Bi” nên Phật giáo Đại thừa đã nêu cao giá trị của chúng thành tinh thần “từ bi” chung trong công cuộc cứu nhân độ thế. Cho nên từ bi thường được hiểu trong tinh thần: “Từ năng dữ lạc, bi viết độ sinh; từ bi nhị tự diệt thiên khiên”; hay “từ năng dữ nhất thiết chúng sinh chi lạc, bi năng bạt nhất thiết chúng sinh chi khổ”. Nghĩa là đặc tính của từ bi thì rất dịu mát, hiền từ, hay mang sự an ổn đến cho chúng sinh. Bởi vì nó có tính tích cực trong việc chia sẻ khổ đau với chúng sinh; mong tất cả được sống an lành và hạnh phúc.

Từ bi là cho không nhận, không bị cưỡng bách phải cho, không vì tự ngã, danh tiếng mà cho…

Từ bi là cho không nhận, không bị cưỡng bách phải cho, không vì tự ngã, danh tiếng mà cho…

Từ bi là cho không nhận, không bị cưỡng bách phải cho, không vì tự ngã, danh tiếng mà cho… Trong Phật giáo, tâm từ bi được đánh giá là tâm lý tối thượng, hành động từ bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi hành động. Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm hạnh phúc cao thượng nhất. Từ bi là suối nguồn tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm linh.

Phật Giáo
Ngắm kiến trúc Chùa Bổ Đà - Trung Tâm phật giáo vùng Kinh Bắc

Ngắm kiến trúc Chùa Bổ Đà - Trung Tâm phật giáo vùng Kinh Bắc

HomeAZ 29/05/2020, 11:17

Chùa Bổ Đà không chỉ là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam mà còn có kiến trúc độc đáo, khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc.

Người Phật tử giác ngộ và giải thoát cái gì?

Kiến thức 17:55 30/05/2020

Giác ngộ và giải thoát là mục đích tối thượng hay tột cùng của người tu. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tu dưới cội bồ-đề được giác ngộ giải thoát sanh tử, đó là mục tiêu cuối cùng Ngài đạt được.

Mục Kiền Liên Bồ tát trong Kinh Vu Lan qua lăng kính của Tổ sư Minh Đăng Quang

Kiến thức 16:57 30/05/2020

Mục Kiền Liên (viết theo Sanskrit: Maudgalyāyana; Pali: Moggalāna, tiếng Hán phiên âm: Mục Kiền Liên, đọc tắt là Mục Liên) là một nhân vật lịch sử sống vào thời Đức Phật. Vị Bà-la-môn tri thức thông thái này đã lừng danh một thời ở xứ Magadha thuộc Ấn Độ thời bấy giờ.

Tại sao chúng ta nên đơn giản hóa cuộc sống?

Kiến thức 15:57 30/05/2020

Hãy tạo ra thói quen thường tự hỏi mình: Công việc hay hoạt động này có thực sự cần thiết không, hay nó chỉ là một cách để chúng ta tỏ ra bận rộn?. Nếu bạn có thể giảm bớt, loại bỏ một số hoạt động, bạn có thể sẽ được thanh tịnh, yên tĩnh hơn.

Phương pháp tiến vong người chết

Kiến thức 15:51 30/05/2020

Người chết sau khi đã vãng sanh Tây phương, bà con trong thời gian bốn mươi chín ngày ăn chay niệm Phật giữ năm giới thì người còn kẻ mất cả hai đều được sự lợi ích không thể nghĩ bàn.