Nữ cư sĩ Visākhā Migāramātā - Đệ nhất bố thí
Giữa hội chúng, Đức Phật tuyên dương bà Visākhā Migāramātā có biệt hạnh là Đệ nhất bố thí trong hàng cận sự nữ đúng như lời ước nguyện quá khứ.
Công hạnh quá khứ:
− Khi Đức Phật Padumuttara (Thắng Liên Hoa) xuất hiện trên thế gian, tiền thân bà Visākhā là một tín nữ đi nghe thuyết pháp, chứng kiến một vị nữ cư sĩ được Thế Tôn ban danh hiệu Đệ nhất bố thí, bà sanh lòng hoan hỷ cúng dường và nguyện kiếp tương lai sẽ thành tựu được địa vị như thế.
− Vào thời Phật Kassapa (Ca Diếp), bà là công chúa thứ bảy con vua Kikī, sống độc thân hai mươi ngàn năm tạo nhiều thiện sự, xây dựng tinh xá, cúng dường các món vật dụng cần thiết: y áo, kim chỉ, thuốc men, thực phẩm thượng vị… cho 20 ngàn vị tỳ-khưu. Vì phước ấy mà kiếp hiện tại bà là người nữ có đại phước và sức mạnh hơn người.
Sujātā Senānīdhita - Đệ nhất nữ cư sĩ quy y đầu tiên

Đời sống hiện tại:
− Nữ đại cư sĩ Visākhā là con gái của đại trưởng giả giàu có Dhanañjaya và bà Sumanā, là cháu nội của ông Meṇḍaka tại Bhaddiya trong xứ Aṅga.
− Bà là người nữ đại phước đức vì thời điểm sinh ra có 500 cỗ xe và 500 nữ hầu đồng sinh với bà. Bà có sức mạnh của năm thớt voi cộng lại và đặc biệt có năm tướng quý của giai nhân: tóc mềm mại bụi cát không thể bám vào, môi đỏ như trái Bimba, hàm răng trắng đều không kẻ hở, làn da tự nhiên không thoa phấn vẫn mịn màng, nhan sắc mãi thanh xuân.
− Lúc Visākhā bảy tuổi, Đức Phật đến Bhaddiya du hóa. Ông nội Meṇḍaka cho 500 tùy tùng và 500 cỗ xe hộ tống cháu mình đến viếng Ngài. Khởi tâm tịnh tín khi lần đầu gặp Phật, Visākhā chăm chú nghe pháp và đắc quả Dự Lưu.
− Trưởng giả Migāra ở Sāvatthi phái sứ giả đi tìm hôn thê cho con trai. Đến chỗ nọ trời mưa, khi họ vào chỗ trú thì thấy Visākhā đi khoan thai từ ngoài vào mà không hớt hải như những người nữ khác. Quan sát thấy quý nữ này có phước tướng nên sứ giả tặng bà bó hoa như quà cầu hôn, đồng thời báo tin vui về cho ông trưởng giả.
− Ngày kết hôn, cha bà tặng nhiều của cải trang sức, đồng thời dạy thêm mười điều cần phải gìn giữ khi về nhà chồng, rồi ông lại cử tám người phán xét đi theo để bảo trợ và xem xét những khiếu nại liên quan đến bà khi ở nhà chồng. Visākhā có rất nhiều quà cưới nhưng bà phân phát hết cho người nghèo.
− Cha chồng của nữ cận sự theo ngoại đạo và bắt bà phải tôn kính họ, bà không đồng ý, họ xuyên tạc để đuổi đi nhưng ông Migāra không dám. Một lần, vị tỳ-khưu đến nhà khất thực nhưng cha chồng không muốn cúng dường, bà gia chủ bảo rằng cha ăn đồ thiu. Ông trưởng giả nổi giận đuổi bà đi. Nhưng khi tám người phán xét tuyên bố bà vô tội nên cha chồng bảo bà ở lại. Tuy nhiên bà có điều kiện phải thỉnh Phật và Tăng Chúng đến cúng dường.
− Đức Phật đến nhà, ông Migāra đứng sau rèm nhìn ra vì sợ ngoại đạo – thầy ông, biết được thì không vui. Tuy nhiên sau thời giảng pháp của Phật , ông chứng Sơ quả. Biết ơn con dâu, ông ban cho bà cái tên Migāramātā (Lộc mẫu, mẹ của Migāra), vì có bà mà ông được sinh ra trong giáo Pháp.
− Quý nữ Visākhā hạ sinh 10 trai, 10 gái. Đa số tất cả người trong gia đình bà đều có niềm tin sâu sắc đối với Tam Bảo.
− Mỗi ngày bà đều đến tinh xá yết kiến Phật và cúng dường thực phẩm cho 500 tỳ-khưu tại nhà. Khi tìm hiểu nhu cầu của các tỳ-khưu-ni, bà cũng dâng vật dụng cần thiết lên quý vị ấy.
− Một hôm đến tinh xá Kỳ Viên nghe pháp bà để quên món nữ trang đắt giá hơn 90 triệu tiền vàng. Khi dọn dẹp pháp đường, Ngài Ānanda thấy nữ trang của ai đánh rơi nên để một góc cho họ quay lại tìm. Tuy nhiên khi đi tìm lại, nữ tỳ vâng lệnh chủ nếu ai đã chạm tay vào rồi thì cúng dường luôn cho người ấy.
− Rồi bà lại nghĩ người xuất gia mà giữ món trang sức quá quý giá thì bất tiện nên đem nó bán đi lấy số tiền đó xây dựng một Tinh xá cúng dường Phật và chư Tăng. Rồi bà dùng 90 triệu tiền vàng mua mảnh đất phía Đông thành Sāvatthi (Xá Vệ) và xuất thêm 90 triệu tiền vàng nữa để xây dựng Tự viện. Công trình nhanh chóng được hoàn thành nhờ sự giám sát của Trưởng lão Moggallāna.
− Lễ lạc thành Đông phương tự diễn ra suốt bốn tháng trong sự hộ độ của đại tín nữ Visākhā. Vào ngày kết thúc, bà dâng đến chư tỳ-khưu bộ tam y trị giá 1000 đồng tiền vàng cùng vô số dược phẩm trị bệnh. Chi phí buổi lễ trong suốt bốn tháng hết khoảng 90 triệu tiền vàng nữa.
− Đức Phật giảng rất nhiều bài pháp cho bà Visākhā nghe, có nhiều bài pháp liên quan đến lễ Uposattha (Bố tát). Tín nữ thỉnh cầu Phật ban cho bà tám nguyện vọng để bà thực hành trọn đời: 1-được dâng y cho chư tỳ-khưu sau mùa an cư, 2- cúng dường thực phẩm cho chư tăng tại trú xứ, 3- cúng dường thực phẩm cho chư tăng khi các vị chuẩn bị đi du hành, 4-cúng dường cho bệnh nhân, 5- cúng dường cho người săn sóc bệnh nhân, 6- cúng dường dược phẩm, 7- cúng dường cháo điểm tâm sáng, 8- dâng cúng y cho chư tỳ-khưu-ni.
− Làm phước bố thí cúng dường rộng lớn như vậy, sau khi mạng chung bà tái sinh làm chánh hậu của Thiên Vương Sunimmita trị vì chư Thiên Nimmārati.
− Giữa hội chúng, Đức Phật tuyên dương bà Visākhā Migāramātā có biệt hạnh là Đệ nhất bố thí trong hàng cận sự nữ đúng như lời ước nguyện quá khứ.
Tài liệu được soạn dựa theo
Tăng Chi Bộ Kinh – chương Một Pháp
Phẩm Người Tối Thắng.
Đan Tâm biên soạn.
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Nữ cư sĩ Visākhā Migāramātā - Đệ nhất bố thí
Đức PhậtGiữa hội chúng, Đức Phật tuyên dương bà Visākhā Migāramātā có biệt hạnh là Đệ nhất bố thí trong hàng cận sự nữ đúng như lời ước nguyện quá khứ.
Sujātā Senānīdhita - Đệ nhất nữ cư sĩ quy y đầu tiên
Đức PhậtKhi Ngài Yasa chán cảnh vô thường của đời sống dục lạc, Ngài bỏ nhà đi lang thang trong đêm và tình cờ gặp Phật, được độ xuất gia chứng quả A-ra-hán. Cha mẹ Yasa đi tìm, nghe Phật thuyết pháp, họ đều chứng quả Nhập lưu và xin quy y Tam bảo. Lúc này Sujātā chính thức là nữ đệ tử quy y Tam bảo đầu tiên như lời phát nguyện quá khứ.
Nakulapitā - Đệ nhất thân thiện với Đức Phật
Đức PhậtÔng Nakulapitā được Đức Phật tuyên dương giữa hội chúng là Đệ nhất trong hàng nam cận sự về sự thân thiện với Đức Phật (nói chuyện một cách thân mật).
Jīvaka Komārabhacca - Đệ nhất hội chúng khả kính
Đức PhậtÔng Jīvaka được Đức Phật đặc biệt tán dương là Đệ nhất trong hàng nam cư sĩ được hội chúng kính mến.
Xem thêm














