Phật Giáo

Rạo rực niềm xuân

Thứ năm, 13/02/2014 | 14:48

Phải chăng đó cũng chính là một biểu hiện của tinh thần tùy duyên, tùy tục, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo mang tính nhập thế của Phật giáo Đại Việt nói chung, của thiền phái Trúc Lâm nói riêng?

Đông tàn xuân tới là một quy luật tuần hoàn của thiên nhiên, của đất trời. Xuân về với trăm hoa khoe sắc tỏa hương, cây cối đâm chồi nẩy lộc, biểu tượng cho sức sống dồi dào, viên mãn. Vì thế, người đời thường ví mùa xuân với sức trẻ: “Một năm khởi đầu mùa xuân. Cuộc đời bắt đầu bằng tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của nhân loại”.

Chính biểu tượng này mà mùa xuân không bao giờ già, chẳng tàn phai, dù ba tháng đầu năm đã qua đi. Mùa xuân thường gắn với tình yêu. Mà tình yêu thì muôn đời bất diệt, muôn thuở vẫn vậy. Tình yêu không có tuổi. Có ai tính được tuổi của tình yêu chưa? Thơ tình yêu cũng vậy - nhất là những bài tuyệt tác - càng không tính được tuổi bao giờ. Thơ tình mùa xuân càng hơn thế, luôn luôn và mãi mãi là sức trẻ.

Bước vào xuân, thiên nhiên lại khoác lên mình một chiếc áo mới đầy nhựa sống, toàn màu non tơ mơn mởn. Thơ tình mùa xuân vì thế mang trong bản thân nó cái rạo rực thiết tha đến bồi hồi, nồng cháy, đằm thắm mặn mà đến mê say, không bờ bến. cái không bờ bến đó chỉ cảm nhận, không thể diễn tả, không thể luận bàn được.

Vẻ đẹp tình xuân cũng vậy. Hãy để hồn mình giao hòa, rung động với đối tượng, mới có thể nhận ra hết mọi điều tuyệt diệu. Đến phút giây bừng vỡ, ta sẽ mỉm cười một mình. Tình yêu cũng thế, chỉ có cảm chứ không cắt nghĩa. Nhà thơ tình số một Xuân Diệu đã hơn một lần tuyên bố: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”.
 
Đề cập đến thơ tình nói chung, thơ tình mùa xuân nói riêng, trong chúng ta ai cũng nghĩ tới dòng thơ lãng mạn 1932 - 1945 ở Việt Nam.

Bởi lẽ, không nhà thơ nào của thế hệ này mà không có thơ tình yêu, thơ tình mùa xuân. Từ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận đến Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương đều có thơ tình và thơ tình mùa xuân. Có khi đó là cảm giác xôn xao rung rinh, nơi đó bóng giai nhân thoáng hiện say mê khúc nhạc xuân tình và nàng xuân như ngưng đọng lại trên đôi má ửng hồng làm cho thi nhân ngỡ ngàng thốt lên: “Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao, Cây vàng rung nắng, lá xôn xao; Gió thơm phơ phất bay vô ý, Đem đụng nhành mai sát nhánh đào.” Và “Mùa xuân chín ửng trên đôi má, Xui khiến lòng ai thấy nặng nề.” (Nụ cười xuân - Xuân Diệu). Thi nhân cảm thấy bóng giai nhân đang xâm chiếm cõi lòng mình chăng?

Có khi đó là một tình yêu mơ màng, một chúng thoáng qua nhưng ngấm sâu như mưa xuân. Hay là một mùa xuân ngập tràn sắc xanh: xanh non tơ của đất trời, xanh ở ruộng lúa, lũy tre, xanh trong lòng người hy vọng khi tình yêu vừa chớm nở từ cái thắt lưng xanh của cô thôn nữ dịu dàng đi trẩy hội trong thơ Nguyễn Bính; có khi đó là nỗi say mê rạo rực đến trào dâng mà thi nhân như muốn vồ vập, cắn xé, ngấu nghiến trước vẻ đẹp xuân tình của Xuân Diệu (Vội vàng).

Mùa xuân cũng là mùa hạnh phúc lứa đôi. mùa xuân - mùa cưới thường sóng đôi nhau để đi vào cõi vĩnh hằng của thời gian. ngày xưa vẫn thế, ngày nay cũng vậy. mảng đề tài này, văn chương lãng mạn nhiều vô kể.

Trong thơ, thi nhân thường quan niệm rằng mùa xuân không chỉ dừng lại ở quãng thời gian ba tháng mà là một cõi xuân bất tận của lòng người đang yêu. Chỉ cần vài giọt nắng lung linh, dăm ba sợi sương mỏng mảnh, mấy cành xanh lộc non tơ, dăm bảy sắc màu yêu dấu cũng làm nên một tình xuân! Một chút rung động ngỡ ngàng thoáng qua và tình yêu vừa hé nụ đủ làm cho trái tim thi nhân xao xuyến cõi xuân lòng. Ở đó, nói theo ngôn ngữ của Xuân Diệu, là đầy hoa xuân của một xuân không mùa: “Xuân của đất trời nay mới đến, Trong tôi xuân đến đã lâu rồi, Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi, Trong vườn thơm ngát của hồn tôi” (Nguyên Đán - Xuân Diệu).

Thơ ca lãng mạn viết về tình xuân bâng khuâng rạo rực cũng là lẽ đương nhiên. các cụ ngày xưa - rất xưa cũng rạo rực không kém.

Thế mới lạ. Từ đời Lý, đời Trần với những tên tuổi mãn Giác, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh cho đến các đời sau với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu ít nhiều đều có thơ tình mùa xuân. Hóa ra, tình xuân lại có sức quyến rũ của riêng nó. Thi nhân thường là người đa sầu đa cảm nên có duyên nợ nhiều hơn.

Điều tôi muốn thông báo ở đây là một hiện tượng rất lạ và độc đáo “Vô tiền khoáng hậu” trong văn chương, đó là nỗi lòng rạo rực rất đáng yêu, rất dễ thương trước tình xuân của một con người tưởng chừng như đã thoát khỏi bụi trần: Thiền sư - thi nhân Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254 - 1334), tổ thứ ba thiền phái Trúc Lâm với bài “Xuân nhật tức sự”

Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly. 
Khả liên vô hạn thương xuân ý, 
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Người đẹp 16 xuân xanh đang ngồi thêu gấm chậm rãi. Dưới lùm hoa tử kinh, tiếng chim hoàng oanh hót líu lo. Cô thấy lòng mình thương biết bao cái ý thương xuân vô hạn.

Cùng dồn lại ở giây phút dừng kim và chẳng nói nên lời. Bài thơ là một bức tranh đẹp về mùa xuân với lòng rạo rực của nhà thơ trước bóng giai nhân đang độ xuân thì. Nhà sư mơ mộng quá! Trái tim nhà sư giàu xúc cảm rạo rực quá!

Vì thế mới tái hiện cảnh xuân, tình xuân ngập tràn hơi thở cuộc sống đầy mê say, đến nỗi người đời sau hạ bút viết lời bình “Thi tuy giai, phi tăng gia ngữ dã.” (Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” Thơ tuy hay nhưng không phải khẩu khí của nhà tu hành). Một lần, nhìn hoa mai đang mỉm cười trước gió xuân mơn man, nhà thơ - thiền sư muốn hái hoa về để “mượn màu xuân đỡ bệnh già” (mai hoa).

Đêm khuya nghe tiếng dế eo óc, rầu rĩ, nhà thơ cũng sinh tình. Có lúc nhìn cảnh xuân không có chủ nên tác giả không có cảm hứng làm thơ, do thế, mấy cây hoa buồn bã trước gió xuân (Thứ Bảo Khánh tự bích gian đề). Một nhà sư có lòng rạo rực tràn trề với cuộc sống trần tục như thế, chẳng trách người đời vu cho ông có dan díu với tình! Chuyện có thật hay không, lịch sử đã xác minh. Điều tâm sự này, nhà thơ có ghi lại trong bài “Nhân sự đề Cứu Lan tự”.

Có thể hiểu bài thơ theo nét nghĩa như trên mà nét nghĩa này, xưa nay nhiều người đã hiểu như thế, và tôi cũng đã từng hiểu như thế.

Nhưng gần đây, tôi lại nghĩ cũng có thể hiểu bài thơ này theo một nét nghĩa khác, có phải bài thơ viết về vẻ đẹp đáng yêu của thiều nữ trong buổi xuân thì không?

Hình ảnh giai nhân 16 xuân xanh đang ngồi thêu chậm rãi dưới hoa kia là hình ảnh thực hay chỉ là biểu tượng cho sức xuân đang trỗi dậy, cho tình xuân đang nồng nàn ngập tràn sức sống? Tôi nghĩ có lẽ là thế. Đây chỉ có thể là hình ảnh biểu tượng mà thôi.

Có thể thiền sư Huyền Quang đã dùng hình ảnh này để biểu đạt cái sức sống mùa xuân đang trỗi dậy, cái tình xuân đang nồng nàn quyến rũ.

Và tất cả hiện thực cuộc sống đầy vẻ xuân sắc ấy được cảm nhận bằng cái nhìn Thiền, thể hiện cảm quan Thiền. Nên đứng trước vẻ đẹp đầy sức xuân kia, con người chỉ có thể cảm nhận bằng chiều sâu của trực cảm tâm linh, chứ không thể thốt nên lời, và cũng không có bút mực nào tả lại, ghi lại được. Vì thế mà, kết thúc bài thơ là cái không lời - cái vô ngôn “bất ngữ thì” lúc “đình châm” (dừng kim thêu). Đó cũng chính là trạng thái “vô ngôn đốn ngộ” trong Thiền tông.

Và cho dù, cảm và hiểu bài thơ theo cấp độ nào đi nữa thì cuối cùng vẫn là tấm lòng rạo rực của thiền gia - thi sĩ trước vẻ đẹp đầy tình xuân. Một thiền sư lòng đã trống không, tâm nhập niết bàn, mà trái tim vẫn luôn rạo rực, thao thức hướng về cuộc đời, về con người với những rung động tinh tế trước vẻ đẹp của trần thế là chuyện rất lạ.

Phải chăng đó cũng chính là một biểu hiện của tinh thần tùy duyên, tùy tục, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo mang tính nhập thế của Phật giáo Đại Việt nói chung, của thiền phái Trúc Lâm nói riêng?

Nói như thế để khẳng định rằng, bất kỳ thời đại nào, tình xuân bao giờ cũng có sức mạnh huyền bí và quyến rũ của nó. Đó chính là tố chất, là nguồn cảm hứng để thi nhân (dù là thiền sư) cất bút đề thơ. Cho nên chút tình xuân rạo rực vẫn là đề tài muôn thuở của thi ca.

PGs.Ts.Nguyễn Công Lý/Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1 năm 2014

TIN, BÀI LIÊN QUAN:

NCPH
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z