Phật Giáo

Hình ảnh con người qua bài Phổ Thuyết Sắc Thân của Trần Thái Tông

Thứ năm, 31/01/2013 | 11:41

Hình ảnh con người qua bài Phổ Thuyết Sắc Thân của Trần Thái Tông chính là thân phận và tình yêu thương con người. Sắc thân hay thân phận con người được chuyển hóa thành pháp thân (con người hoàn hảo, con người giác ngộ) ngay tại cuộc sống trần thế này

I. DẪN NHẬP

Đến cuối đời Lý, đất nước Đại Việt thường xuyên rơi vào loạn lạc, giặc giã, trộm cướp khắp nơi. Vua Cao Tông hoang dâm vô độ. Vua Huệ Tông đam mê tửu sắc, lại thêm mắc bệnh không có con trai nối nghiệp, truyền ngôi cho con gái là Chiêu Hoàng. Khi Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh, cơ nghiệp nhà Lý đã về tay nhà Trần.

Khi nhà Lý không còn vai trò chính trị đối với đất nước, thì việc Trần Thái Tông lên ngôi đã đáp ứng nhu cầu cấp bách đối với vận mạng quốc gia dân tộc lúc bấy giờ. Trước hết nhà Trần phải thống nhất giang sơn về một mối, trên dưới đoàn kết một lòng, cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, khi lên ngôi Trần Thái Tông đã chấn chỉnh, thiết lập lại kỷ cương nhà Trần. Điều đó có thể thấy qua hai tác phẩm Quốc Triều Thông Chế  Quốc Triều Thường Lễ của ông.

Trong những năm cầm quyền, dù bận trăm công ngàn việc, nào là việc triều chính, nào là chống giặc Nguyên Mông, nào là mở mang bờ cõi, nhưng vua vẫn dành thì giờ để nghiên cứu kinh Phật. Không những thế, vua còn dành thì giờ để tu tập, thiền định và đã viết nhiều sách khải ngộ Phật pháp. Khóa Hư Lục là một trong những tác phẩm của ông.

Khóa Hư Lục được Trần Thái Tông viết ra vào những thời điểm khác nhau và chứa đựng nhiều nội dung Phật pháp khác nhau.

Dưới đây chúng ta tìm hiểu một phần nội dung của Khóa Hư Lục. Đó là hình ảnh con người Đại Việt qua bài “Phổ Thuyết Sắc Thân.”

II. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI QUA BÀI “PHỔ THUYẾT SẮC THÂN” CỦA TRẦN THÁI TÔNG

1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm

1. 1. Tác giả

Trần Thái Tông tên húy là Cảnh, trước tên húy là Bồ, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218). Trần Cảnh là con thứ của Trần Thừa, mẹ họ Lê.

Tổ tiên họ Trần là người đất Mãn, có người tên Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Đến đời Lý Cao Tông nhờ công đánh dẹp Quách Bốc, dần dần có thế lực trong triều đình, Trần Thị Dung trở thành hoàng hậu của Lý Huệ Tông, Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Khánh Tự được ban tước Minh tự và Trần Cảnh mới tám tuổi được nhận chức Chi hậu chính chi ứng cục, hầu cận Lý Chiêu Hoàng.

Do sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng đã lấy Trần Cảnh làm chồng. Ngày 11 tháng Chạp năm Ất Hợi (1226), Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Thái Tông lên ngôi hoàng đế.Trần Thái Tông ở ngôi 33 năm (1226 – 1258), nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi, băng ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng.[1]

Trần Thái Tông là ông vua có công với nước, đã lập nên kỷ cương nhà Trần. Không những thế, ông còn là thiền gia nổi tiếng đặt nền móng cho sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm và là nhà văn, nhà thơ lớn suy niệm về con người.

1. 2. Tác phẩm

Theo Thánh Đăng Ngữ Lục, tác phẩm của Trần Thái Tông gồm có Văn Tập, một quyển (đã thất lạc hoàn toàn), Chỉ Nam Ca tức Thiền Tông Chỉ Nam Ca, một quyển (hiện chỉ còn bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam Tự chép trong Khóa Hư Lục), Khóa Hư Lục, mười quyển (Trong Khóa Hư Lục, ngoài hai bài tựa trên còn có các bài tựa Kim Cang Tam Muội Kinh Tự, Bình Đẳng Sám Hối Văn Tự, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi Tự).

Ngoài các tác phẩm trên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn ghi tác phẩm của vua Trần Thái Tông gồm: Năm 1251, viết bài minh dạy các hoàng tử về đạo trung, hiếu, hòa, tốn, ôn, lương, cung, kiệm; năm 1264, làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng qúy mến Trần Thủ Độ. Hai tác phẩm này hiện không còn. Thái Tông còn viết QuốcTriều  Thông Chế, 20 quyển, Quốc Triều Thường Lễ, 10 quyển và tập thơ Trần Thái Tông Ngữ Tập.

2. Hình ảnh con người qua bài “Phổ Thuyết Sắc Thân”

2. 1. Quan điểm Phật giáo về sắc thân

Theo triết học Phật giáo, con người được hình thành do sự vận hành của Mười hai Nhân duyên. Mười hai nhân duyên sanh thì con người (Ngũ uẩn tức một tổ hợp gồm năm yếu tố) sanh. Trong năm uẩn thì sắc uẩn được xem là sắc thân vật lý của con người. Các uẩn còn lại (thọ, tưởng, hành, thức tức cảm giác, tri giác, ý chí, tâm thức) thuộc về tâm lý. Một con người hoàn thiện được xây dựng trên hai mặt vật lý và tâm lý. Hay nói cách khác, con người là tập hợp của năm uẩn. Mà năm uẩn do nhân duyên sinh. Đã do nhân duyên sinh thì không thực có. Do đó, con người là một thực thể Vô ngã (không có thực thể tồn tại độc lập, không có linh hồn trường tồn, không có đấng sáng tạo vĩnh cửu). Nhưng thông thường con người có thói quen suy nghĩ sai lạc về thân, cho rằng thân này là ta, là tự ngã của ta. Thực ra, thân người ta có nhưng chỉ là giả có. Vì nó là một tổ hợp được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó phụ thuộc lẫn nhau và mỗi một yếu tố phụ thuộc vào các yếu tố còn lại. Cái gì được hình thành bởi các yếu tố khác nhau và phụ thuộc lẫn nhau thì không phải là chính nó.

 

Như thế, sắc thân năm uẩn của con người cũng chính là thân phận con người trong cõi đời này. Con ngươi ai ai cũng muốn hạnh phúc, sung sướng. Nhưng do nhận thức sai lầm về con người mình nên thường con người không tìm được nguồn an lạc, hạnh phúc. Trái lại, con người thường chuốt lấy quá nhiều khổ đau. Giải phóng con người ra khỏi những bế tắc kia là nhiệm vụ lớn của triết học, văn học, đặc biệt là  triết học, văn học Phật giáo. Và do đó, sắc thân con người trở thành đề tài quan trọng của văn học. Nói cách khác, trong văn học, con người là nhân vật trung tâm.

Đây cũng chính là đề tài lớn của văn học Trung đại Việt Nam, đặc biêt là bộ phận văn học Phật giáo.

Thật thế, từ thời Lý, các thiền sư và Phật tử đã đưa ra quan niệm về sắc thân và tìm cách giải phóng nó ra khỏi những ràng buộc khổ đau. Các Thiền sư như Viên Chiếu, Diệu Nhân, Viên Học, Đạo Huệ . . . đã đưa ra những quan niệm về sắc thân con người để trả lời cho những câu hỏi muôn thuở như: Con người từ đâu đến, đến để làm gì, sau khi chết sẽ đi về đâu . . .

2. 2. Quan điểm sắc thân của các Thiền sư đời Lý

2. 2. 1. Quan điểm sắc thân của Ni sư Diệu Nhân

Sanh, lão, bệnh, tử là một trong những nỗi khổ của con người, nhất là cái khổ sợ chết. Nhưng Ni sư Diệu Nhân nói rằng, đó là việc thường nhiên không có gì phải khổ hết. Bởi nó là quy luật tuần hoàn của con người, của vũ trụ đất trời. Con người cứ an nhiên tự tại mà vui sống, đừng sợ hãi, đừng mong cầu gì cả. Sự an lạc, hạnh phúc và giác ngộ giải thoát là ở ngay cuộc sống hiện thực này – bây giờ và ở đây, đừng tìm cầu đâu xa nữa. Cố công tìm cầu giác ngộ giải thoát, cầu Phật, cầu thiền bên ngoài là việc làm sai lầm, chỉ thêm ràng buộc mà thôi.

“Sanh lão bệnh tử
Tự cổ thường niên
Dục cầu xuất ly
Giải phược thiêm triền.
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu thiền
Thiền, Phật bất cầu
Uổng khẩu vô ngôn.”
(Sanh già bệnh chết
Xưa nay lẽ thường.
Muốn cầu thoát ra
Mở trói thêm ràng.
Mê đó tìm Phật,
Lầm đó cầu thiền.
Phật, thiền chẳng cầu
Uổng miệng không lời)[2]

2. 2. 2. Quan điểm sắc thân của Thiền sư Viên Học

Thiền sư Viên Học cho rằng, sắc thân con người hoạt động được chẳng qua chỉ là sự tiếp xúc giữa sáu giác (sáu căn), sáu đối tượng của giác quan (sáu trần) và sáu thức. Sự tiếp xúc giữa căn trần sẽ sanh ra những lỗi lầm tai hại, lôi kéo con người trôi chảy theo bến vọng bờ mê. Con người cần sống an lạc tỉnh thức, đừng sống say chết mộng nữa.

Lục thức thường hôn chung dạ khổ,
Vô minh bị phú cửa mê dung.
Trú dạ văn chung khai giác ngộ
Lãn thần tịnh sát đắc thần thông.
(Sáu thức tối tăm khổ đêm dài,
Vô minh che đậy mải mê say.
Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác,
Thần lười dứt sạch, được thần thông.)[3]

Nếu ni sư Diệu Nhân khuyên con người hãy sống an nhiên tự tại với ông Phật thường hằng ở lòng mình thì Thiền sư Viên Học kêu gọi con người hãy gióng lên tiếng “chuông lòng tỉnh giác” để vượt thoát những mê đắm ở đời. Rõ ràng là cùng nội dung sống an lạc tỉnh thức giữa cuộc đời bão loạn này, chỉ khác cách nói mà thôi.

2. 2. 3. Quan điểm sắc thân của Thiền sư Đạo Huệ

Trong số các thiền sư đời Lý, Thiền sư Đạo Huệ là người nói rõ nhất về sắc thân.

Sắc thân dữ diệu thể,
Bất hiệp bất  phân ly,
Nhược nhân yếu chân biệt,
Lô trung hoa nhất chi.”
(Sắc thân cùng diệu thể,
Chẳng hợp chẳng chia lìa.
Nếu người cần phân biệt,
Trong lò một cành hoa.)

Theo ông, sắc thân có thể thấy được, sờ mó được. Hình ảnh trong lò một cành hoa là hình ảnh rất sống động, cho thấy sắc thân con người chính là con người đang hiện hữu giữa cuộc đời. Và chết chưa hẳn là hết. Chết và sống chẳng qua là sự tan hợp của các yếu tố ngũ uẩn và tứ đại. Sự tồn tại và tan rã của sắc thân con người là sự tan hợp của năm yếu tố và bốn đại chứ không có gì khác. Khi chúng hợp lại thì con người hiện hữu, sống, hoạt động. Khi chúng tan rã thì tiếp tục đến một đời sống mới. Thế thôi.

Như mây tan rồi tụ
Nhật nguyệt chiếu không cùng.

Sự tuần hoàn của con người cũng như sự tuần hoàn của vũ trụ đất trời, “như mây hợp rồi tan”, như mặt trời luôn chiếu sáng.

Chính vì vậy, diệu thể và sắc thân chỉ là một - một thực thể thống nhất. Bản chất hai mặt của cuộc đời là “trong lò một cành hoa.”

2. 3. Quan điểm sắc thân của Trần Thái Tông

Quan điểm sắc thân của Trần Thái Tông qua bài “Phổ Thuyết Sắc Thân” không còn mang tính ước lệ, trừu tượng như của Đạo Huệ nữa mà được giải quyết một cách dứt điểm, đề cập một cách cụ thể.

Các ngươi hãy xem lại cho kỹ, sắc thân này khi chưa vào bào thai thì do đâu mà có? Ấy là ‘niệm’ dấy, duyên gặp, năm uẩn hợp thành, dáng vóc lầm sinh, hình dung giả lộ.”[4]

So với Quan điểm sắc thân thời Lý, quan điểm sắc thân thời Trần đã có sự chuyển biến rõ rệt. Quan điểm sắc thân thời Trần không còn mang tính trừu tượng nữa mà được trình bày một cách cụ thể như đoạn văn dẫn trên cho thấy.

Sắc thân hữu hạn này ngày đêm tiếp xúc với sáu trần mà trở nên ô nhiễm hay thanh tịnh. Và cứ thế, đời sống con người trải qua bốn chu kỳ sinh, trụ, dị, diệt.

 
2. 3. 1. Sắc thân chính là thân phận và tình yêu con người

Sắc thân con người là hữu hạn vì bị giới hạn bởi hai đầu: Sanh và tử, có và không, đến và đi, một và khác. Con người có vượt qua được những giới hạn của những cặp phạm trù đối đãi kia hay không là ở chỗ con người có chịu thanh lọc tâm thức để thăng hoa đời sống hay không. Nếu con người mải mê chạy theo những dục vọng thấp hèn thì con người sẽ tha hoá và phải bị đọa lạc, phải chuốt lấy những khổ đau và hệ lụy. Điều này được chứng thực qua đoạn văn sau:

Hoặc gái hoặc trai, hoặc xinh hoặc xấu. Hết thảy đều để cho tâm buông đi, không làm sao trở gót quay về. Nẻo đường sinh tử cứ ruổi rong, mặt mũi nguyên xưa mất hết. Do thế chỉ giương mắt, bề ngoài xem xét, nào ai hay ngoái đầu, hướng nội soi mình. Lúc đến, sinh thực hóa sinh, nơi đi, mộng tràn nói mộng. Lăn lăn lộn lộn, vội vội vàng vàng. Lấy ảo làm chân, bỏ không theo sắc.”[5]

Nhưng cũng từ trong đời sống vô thường đầy ô nhiễm này mà chúng ta vượt qua được những cảm xúc nông nỗi, những dục vọng tầm thường để thăng hoa đời sống tâm thức, thì chúng ta sẽ vượt qua giới hạn của các cặp phạm trù đối đãi và đạt đến Pháp thân vô hạn, tình yêu vô lượng, bất sinh bất tử, không đến không đi, không một không khác.

Muốn đạt đến chỗ vô sanh bất diệt trong thế giới sanh diệt này, trước hết, phải siêng năng hành trì, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền nhập định. Khi lĩnh hội được tâm Phật, ý tổ rồi thì không cần phải trì giới, tụng kinh nữa mà ngay nơi đây được giải thoát, an nhiên tự tại: “Như chưa thấu Phật tâm ý tổ, trước hãy nên trì giới tụng kinh. Đến lúc hay Phật là không, tổ là không, thì giới chẳng ần trì, kinh không cần tụng. Ở ảo sắc cũng là chân sắc, nơi phàm thân cũng thực pháp thân. Phá lục tặc làm lục thần thông, đưa bát khổ thành bát tự tại.”[6]

Rõ ràng, giữa thế giới hữu hạn và thế giới vô hạn, giữa sanh diệt và vô sanh bất diệt chỉ cách nhau trong gang tấc. Nếu khéo chuyển hóa những khuyết tật, những bất toàn trong thế giới hữa hạn này thì chúng ta sẽ đạt đến bờ bên kia sanh tử khổ đau một cách dễ dàng. Vấn đề mấu chốt là ở chỗ tri nhận thực tại vô thường, khổ, vô ngã để luôn sống tỉnh thức và chuyển hóa cái hữu hạn thành cái vô hạn, chuyển phàm thân thành pháp thân ngay tại cuộc đời này. Chính Thái Tông là người đã gia tâm tham thiền và tìm ra được con người thực của chính mình. Vua đã tham thoại đầu nổi tiếng của thiền sư Lâm Tế về “con người thực không vị trí” (vô vị chân nhân).

Thiền sư Lâm Tế một hôm khai thị đại chúng: “Này qúy vị, trên khối thịt đỏ au kia, có một con người thực không vị trí, hay ra vào trước mắt qúy vị. Nếu qúy vị không biết [con người thực không vị trí ấy] là ai thì chỉ cần hỏi lão tăng đây.” Có một vị tăng bước tới hỏi: “Xin cho biết con người thực không vị trí ấy là gì?” Thiền sư liền đánh vị tăng ấy, và nói:“Con người thực không vị trí ấy là cái cức khô gì đâu?” (Lâm Tế Lục).[7]

Trần Thái Tông muốn tìm ra cho được con người thực không vị trí mà thiền sư Lâm Tế nêu ra. Con người thực ấy chính là chân tâm, là tính giác ở mỗi con người. Nhưng con người thực không vị trí ấy nằm ở đâu? Thiền sư Lâm Tế cho biết nó ngay trên “khối thịt đỏ au” của mỗi người. Còn Thái Tông Tông thì nói nó nằm ngay trên sắc thân ngũ uẩn, tứ đại này mà ông đã mô tả qua đoạn văn hiện thực sau đây:

Gáo đầu lâu, hoa cài ngọc giắt, túi da thối, xạ ngát hương xông. Cắt lụa là che bọc máu hồng, giồi son phấn át thùng phân thải (…). Những hẹn một đời già với bách tùng, chẳng ngờ tứ chi rệu như mái dột. Hồn phách tuy về với qủy, hình hài còn gửi nhân gian. Tóc lông răng móng chửa tan, nước mắt bọt mốm đã ứa. Rữa nát chảy tràn máu mủ, thối tha nồng nặc đất trời. Xám ngoét chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng khiếp! Bất kể giàu nghèo đều vào cõi chết, hoặc quàn trong nhà thì bọ sinh dòi khoét, hoặc vất ngoài lộ thì quạ rỉa chó tha. Người đều bịt mũi đi qua, con hiếu phải lấy dành đậy điệm. Vun thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách, mặc đám lửa ma trơi giữa nội hoang, nấm mồ phó muôn dặm mịt mù nơi non quạnh. . . .”[8]

Sắc thân ấy không phải là con người chân thật của ta. Vậy thì chúng nằm ở đâu? Thái Tông đã tham thoại đầu này. Ông đã vén được bức màn mây mù dày đặc kia lên và đã nhìn thấy dáng núi hùng vĩ hiện lên nơi chân trời xanh biếc:

“Vô vị chân nhân xích nhục đoàn,
Hồng hồng bạch bạch mạc tương man.
Thùy tri vân quyển, trường không tịnh,
Thúy lộ thiên biên, nhất dạng san.”
(Vô vị chân nhân, thịt đỏ au,
Hồng hồng trắng trắng chớ lừa nhau.
Ai hay mây cuốn trời quang tạnh,
Núi hiện chân trời, biếc một màu.)

2. 3. 2. Thái độ sống của con người đối với tự thân và xã hội

Một khi con người đã liễu ngộ được bản chất thật của đời sống, con người sẽ tự do ra vào giữa thế giới vô thường ảo ảnh này. Với tinh thần tỉnh thức, không chấp trước, không kẹt và hình thức giáo điều, con người bước ra khỏi thế giới tư duy hữu ngã, thế giới phân biệt giữa các cặp phạm trù sanh và tử, đến và đi, có và không, một và khác. Con người sẽ sống an nhiên tự tại, sống vững chãi thảnh thơi như thế núi hùng vĩ nơi chân trời xanh biếc:“Ai hay mây cuốn trời quang tạnh, núi hiện chân trời, biếc một màu.” Lúc bấy giờ, con người ra vào sanh tử cũng như thay quần áo vậy.

“Sanh tợ như sam
Tử tợ như khố.”
(Sống như mặc áo
Chết như cởi quần)
(Trần Nhân Tông)

Rất nghệ sĩ. Rất phiêu bồng. Rất mực chịu chơi mà cũng thật thâm sâu. Phải là con người từng sống, từng trải nghiệm và đạt ngộ với một tâm hồn nghệ sĩ mới viết nên được hai câu thơ hàm súc, sâu lắng và tài tình như thế. Đến thế kỷ XXI này cũng chưa chắc có thi nhân nào viết được hai câu thơ ngắn gọn và thâm thúy như thế. Con người giác ngộ là vậy. Con người tự do là vậy. Con người ấy luôn sống trong trạng thái hồn nhiên, an nhàn “Sanh tử nhàn nhi dĩ” (Tuệ Trung Thượng Sĩ).

Con người sở dĩ sống lo âu, sợ hãi, khi vui khi buồn là vì chưa thấu triệt được lẽ sắc không, chưa nhìn thấy lẽ thật của vấn đề sanh tử. Một khi nhìn thấy được bộ mặt thật của nó rồi thì cứ an nhiên nhìn hoa nở, bướm lượn, oanh ca:

“Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa xuân nay đã thành quen mặt
Nệm cỏ ngồi yên ngó rụng hồng.”
(Trần Nhân Tông)

Hiểu lẽ sắc không, con người sẽ có thái độ sống tích cực, không ngại cái hữu hạn của thế giới này mà luôn tìm cách chuyển hóa cái hữu hạn thành cái vô hạn. Con người luôn sẵn sàng đối diện với cái chết mà không sợ chết, tự hoàn thiện bản thân, tự giác ngộ, sống nhân văn hơn mà phục vụ đạo đời một cách viên mãn, hoàn thành cùng lúc cả ba nhiệm vụ: dựng nước, giữ nước và mở nước.

III. KẾT LUẬN

Qua bài “Phổ Thuyết Sắc Thân”, Trần Thái Tông chỉ cho chúng ta thấy những khuyết tật, bất toàn của thân phận con người trước những sự thật vô thường, khổ, vô ngã của cuộc đời. Nhưng không phải nêu ra những vấn đề đó để rồi bi quan yếm thế, chán nản như nhiều người đã hiểu lầm, mà nêu ra những sự thật cốt yếu là nhắc nhở, cảnh tỉnh con người. Con người cần phải chuyển hoá tất cả những bất toàn, những giới hạn, những nỗi khổ niềm đau trong sắc thân của chính mình thành cái hoàn hảo, cái vô hạn. Từ đó sẽ đi đến thiết lập một đời sống an lạc giải thoát ngay trên sắc thân giả huyễn này. Lúc đó, “Ở ảo sắc cũng là chân sắc, nơi phàm thân cũng thật pháp thân.”

Như vậy, hình ảnh con người qua bài Phổ Thuyết Sắc Thân của Trần Thái Tông chính là thân phận và tình yêu thương con người. Sắc thân hay thân phận con người được chuyển hóa thành pháp thân (con người hoàn hảo, con người giác ngộ) ngay tại cuộc sống trần thế này. Khi đó, không còn có sự phân biệt phàm thân hay sắc thân, Phật hay chúng sanh gì nữa, bởi “chúng sanh dữ Phật đồng” (chúng sanh và Phật không khác ).


Thích Tâm Bình - Kim Liên
Ghi chú: Bài viết đã đăng trên một số trang web, đăng trên phatgiao.org.vn do tác giả trực tiếp gửi đến



Tài liệu tham khảo

Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông, Tp.HCM: NXB Tổng Hợp Tp. HCM, 2004.; Toàn Tập Trần Nhân Tông, Tp. HCM: NXB Tp.HCM, 2000.; Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh, TP.HCM: NXB TP.HCM, 1999.

Thích Thanh Kiểm (dịch), Khóa Hư Lục, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2003.

Hội Nghiên Cứu và Giảng Dạy Văn Học Tp. HCM, Bình Luận Văn Học, Tp.HCM: NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2006.

Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Hà Nội: NXB Văn Học, 2000.

Nguyễn Công Lý, Văn Học Phật Giáo Thời Lý – Trần Diện Mạo và Đặc Điểm, Tp.HCM: NXB Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, 2003.

Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2004.; Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải, Tp.HCM: NXB Tổng Hợp Tp.HCM, 2004.

Thích Phước Đạt, “Đặc Trưng Tinh Thần Thiền Học của Trần Thái Tông,” Tập San Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, (Tp. HCM), số 34 (3 – 2006).

Chú thích

[1] Theo Lê Đức Thọ (dịch), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, II, Hà Nội: BXB Khoa Học Xã Hội, 2004, tr. 7 và Viện Văn Học, Thơ Văn Lý - Trần, Hà Nộ: NXB Khoa Học Xã Hội, 1989, tr,19 – 20.
[2] Dẫn theo Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2004, tr. 175.
[3] Sđd, tr. 176 – 177.
[4] Lê Mạnh Thát (dịch), Toàn Tập Trần Thái Tông, TP. HCM: NXB Tổng Hợp TP. HCM, tr. 345.
[5] Cùng trang sđd.
[6] Sđd, tr. 347.
[7] Dẫn theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Hà Nội: NXB Văn Học, 2000, tr. 244.
[8] Lê Mạnh Thát (dịch),Sđd, tr. 345 – 346.


Thích Tâm Bình - Kim Liên
Ghi chú: Bài viết đã đăng trên một số trang web, đăng trên phatgiao.org.vn do tác giả trực tiếp gửi đến
Thích Tâm Bình
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z