STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
Thường ngày người con Phật thực hành lễ hồng danh chư Phật, chư đại Bồ-tát, chư Hiền thánh tăng. Để làm gì? Để chúng ta nương theo nguyện lực của chư Phật, nương theo hạnh nguyện của chư Bồ-tát, mà phát nguyện tu tập theo chánh pháp.
Tu tập là để chúng ta thấy được rằng: Mỗi người đều có khả năng thành Phật! Không còn bị mê lầm, không còn bị chướng ngăn. Và thấy biết rằng “ta có khả năng thành Phật” chẳng qua vì chúng ta quên đi cái thể tính siêu việt đó mà thôi. Học Phật để chúng ta tìm lại cái đức tính siêu việt đó, chúng ta khai phóng cái đức tính siêu việt đó, để cái thấy và cái biết của chúng ta cũng đúng như thấy biết của chư Phật.
Từ đó, chúng ta sẽ không bao giờ còn mê lầm vụn dại; không còn nói năng, suy nghĩ và tạo tác mê lầm để chúng ta phải bị đắm đuối trong sông mê, lặn hụp trong bể ái. Chúng ta ý thức được rằng: mỗi lời nói, hành động và suy nghĩ chúng ta luôn luôn an trú trong cái tôn chỉ của kinh Pháp Hoa. Nghĩa là chúng ta luôn luôn ý thức mình là vị Phật ở tương lai. Vì mình có khả năng thành Phật, cho nên mỗi lời nói, hành động và suy nghĩ của chúng ta luôn luôn làm sao chế tác ra sự bình yên cho tự thân và cho mọi người.

Tính Phật ở ta cũng như ở chư Phật, không có khác. Cái khác ở chỗ là nơi chư Phật thì hoàn toàn tỉnh thức, cho nên các ngài được tự tại an vui. Còn chúng ta thì vẫn bị mê lầm, cho nên chúng ta mới chịu lấy cái khổ đau, bất an, lo âu trong cuộc sống.
Dù vậy, chúng ta vẫn thấy mình còn Phàm phu. Nghĩa là còn rất nhiều những hạt giống mê lầm, những hạt giống phiền não, những hạt giống của tham, của sân và của si. Cho nên nhiều khi ta muốn đi lên, mà chính nghiệp chướng nó ngăn cản, nó làm cho chúng ta bị rớt xuống lĩnh vực xấu. Cho nên, chư Phật vì lòng từ lân mẫn, thị hiện vào cõi đời này để dạy cho chúng ta một phương pháp. Nương theo phương pháp đó để chúng ta tu tập, hầu có khả năng chuyển hóa, làm cho cuộc đời của chúng ta không còn những cái lo âu bất hạnh; chuyển hóa những khổ đau để chúng ta an trú trong cái cảnh giới Tịnh Độ an vui.
Vì vậy, Quy y Phật là một nguyện trở về nương tựa với Đức Phật, là bậc giác ngộ tỉnh thức vẹn toàn.
Quy y Pháp là nguyện trở về nương tựa với đường lối, phương pháp mà Đức Phật đã thực chứng và ngài đã chỉ dạy cho chúng ta nương theo đó tu tập để tìm lại cái thể tính thanh tịnh.
Quy y Tăng là trở về nương tựa với đoàn thể tăng già tu học đúng chánh pháp, để chúng ta được chăm sóc, được dắt dìu; và từ đó chúng ta thiết lập được sự hòa hợp giữa thân và tâm, thiết lập sự hài hòa giữa ta và mọi người chung quanh ta.
Thế cho nên, một khi chúng ta biết quay trở về sống với đạo lý tỉnh thức, sống với cái bản thể thanh tịnh, sống với đức tính hòa hợp thì Phật, Pháp và Tăng không còn ở ngoài cuộc đời của ta nữa, mà chúng ta đã có khả năng khai phóng được cái tính Phật ở trong mỗi người chúng ta. Cái tính Phật ở trong mỗi người chúng ta đó, đó là gì? Là Tự tính Tam bảo, và ai ai cũng có, cho nên nó còn gọi là Đồng thể Tam Bảo.
Ngôi Tam bảo trong tự tính: Phật là giác ngộ, là tỉnh thức; Pháp là thanh tịnh; Tăng là hòa hợp.
Vì chưa tìm thấy, chưa khai phóng được cái đức tính giác ngộ, thanh tịnh và hòa hợp đó, cho nên chúng ta mới nương vào ngôi Tam bảo ở thế gian này. Đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; những lời dạy của Đức Phật qua chân lý Tứ đế, Bát chánh đạo; và nương vào đoàn thể tăng già. Những người tu học đầu tiên là chúng ta nhìn qua hình tướng tranh vẽ, qua kinh sách ghi chép và qua những cái sinh hoạt của tăng già mà chúng ta nương theo để học hỏi. Đó là quy y Thế gian trụ trì Tam bảo. Ngôi Tam bảo ở thế gian này làm điểm tựa cho chúng ta nương theo tu học.
Và qua đó, chúng ta biết được có Đức Phật Thích Ca là vị giáo chủ, là con người có mặt trên trái đất này tu tập giác ngộ thành Phật; và có những chân lý Tứ đế, Bát chánh đạo v.v... mà ngài đã thực chứng và chỉ dạy lại cho chúng ta; có những bậc thánh tăng như các vị tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, A Nan v.v... là những vị thánh tăng, là những bậc đại trí hoằng pháp. Chúng ta biết được ngôi Tam bảo thứ hai là Xuất thế gian Tam Bảo.
Và nương theo đó để tu tập, dần dần chúng ta khai phóng được cái tính siêu việt ở trong mỗi người chúng ta. Đó là đức tính giác ngộ giải thoát, đức tính thanh tịnh, đức tính hòa hợp. Giây phút nào mà chúng ta sống với những chân lý đó thì lời nói, hành động và suy nghĩ có tỉnh thức là lúc đó ta đang sống với Đức Phật của chính ta. Giây phút nào lời nói, hành động và suy nghĩ của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, không để lại hậu quả vẩn đục, làm đổ vỡ sự bình yên, an vui, giải thoát, đó là giây phút đó ta đang sống với chân lý cao quý đó.
Phật là thầy chỉ đạo, bậc tỉnh thức vẹn toàn, các tướng tốt đoan trang, trí và bi viên mãn.
Pháp là con đường sáng, dẫn người thoát cõi mê, đưa chúng sanh trở về sống cuộc đời tỉnh thức.
Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, tu tập hạnh giải thoát, làm an lạc cuộc đời.
Đã có ba viên ngọc quý, đã có ngôi Tam bảo ở trong thân và tâm của ta rồi, ta luôn luôn ý thức và trân trọng gìn giữ trong lời nói, hành động và suy nghĩ. Để làm gì? Để có khả năng làm cho ba viên ngọc sáng đó, ba đức tính cao quý đó luôn luôn hiện diện. Và chính cái năng lượng tích cực cái năng lượng bình yên, năng lượng thanh tịnh, năng lượng giải thoát, năng lượng từ bi hỷ xả của Phật, Pháp, Tăng sẽ giúp cho chúng ta đẩy lùi những chướng duyên nghịch cảnh, đẩy lùi những khổ đau bất an. Nhờ đó mà ta luôn luôn thiết lập được cái môi trường tịnh độ bình yên ngay trong đời sống hiện tại.
Dù biết như vậy, nhưng còn phàm phu cho nên chúng ta nhiều khi bị nghiệp chướng nhiều đời nó cản ngăn, bị những cái nghịch cảnh chướng duyên của quá khứ nó chiêu cảm, cho nên ít nhiều gì chúng ta cũng có những giây phút mềm yếu, có những sự thử thách. Cho nên chư Phật vì lòng từ thương xót, lại dạy cho chúng ta thiết lập năm cái phương tiện để phòng hộ, đó là Năm giới.
Năm giới gồm: Một là không sát sanh, hai là không trộm cắp, ba là không tà dâm, bốn là không nói dối, năm là không uống rượu. Chúng ta có thể hiểu rộng ra:
Giới thứ nhất, Không sát sanh: Nghĩa là luôn luôn phải biết tôn trọng và bảo vệ mạng sống của mọi người và mọi loài, như chúng ta luôn luôn bảo vệ mạng sống của tự thân. Giữ giới này để nuôi dưỡng lòng từ bi, để tránh đi cái nghiệp quả xấu thường đau chết yểu vì những cái hành động giết hại gây ra.
Giới thứ hai, Không trộm cắp: Nghĩa là chúng ta biết mở trải cái tâm của mình ra, biết bố thí, biết chia sẻ và hiến tặng. Nhờ vậy mà chúng ta chuyển hóa được cái tâm bỏn xẻn, tham lam, ích kỷ. Nhờ hạnh bố thí, biết chia sẻ và hiến tặng cho nên chúng ta đời đời được cái phúc báo, sanh nơi nào cũng được cuộc sống đầy đủ sung túc.
Giới thứ ba, Không được tà dâm: Nghĩa là chúng ta ở tại gia lập gia đình, trên cái danh nghĩa hôn phối, chúng ta có cái đời sống tôn trọng tình thương đích thực, và chúng ta không làm những việc tà bậy lang chạ. Chúng ta hoàn toàn chịu lấy trách nhiệm những gì thời điểm đó gây ra. Nhờ giữ giới này mà phạm hạnh nết sạch, chúng ta được thân tướng đẹp đẽ trang nghiêm, được cái hạnh phúc bình yên cho gia đình, và để lại gương sáng cho con cháu về sau.
Giới thứ tư, Không được nói dối: Nghĩa là phải tôn trọng sự thật. Vì vậy chúng ta luôn luôn học nói lời có chất liệu ái ngữ và biết lắng nghe. Lời nói mà có chất liệu của tình thương, của hiểu biết thì lời nói đó mới có thể xây dựng, hàn gắn và đem lại lợi ích. Nhờ nói lời chân thật cho nên đời đời kiếp kiếp được tướng lưỡi rộng dài, được hơi miệng thơm sạch như hoa sen mà trong Kinh Pháp Hoa đã diễn tả. Và lời nói của chúng ta có đạo lực, có năng lượng truyền cảm, cho nên có thể cảm hóa và giúp cho mọi người phát tâm cùng tu tập để hướng thiện.
Giới thứ năm, Không uống rượu: Nghĩa là chúng ta ăn uống và tiêu thụ phải có chánh niệm. Vì ý thức được rằng những cái khổ đau do cái việc tiếp xúc những cái chất say sưa nghiện ngập và đưa đến tình trạng mất khả năng tự chủ, rồi tội lỗi cũng từ đó mà phát sinh. Cho nên chúng ta nguyện ăn uống tức là những cái thực phẩm hay thức uống đưa vào từ miệng chúng ta phải có chánh niệm, ý thức được những thực phẩm này, thức ăn này, thức uống này nó có để lại hậu quả làm chúng ta phải bệnh tật khổ đau về những cái hành động tội lỗi hay không. Và có những cái thực phẩm nó đưa vào bằng mắt, bằng tai tức là trong những sách báo, trong phim ảnh hay là những cái câu chuyện nhiều khi để lại độc tố làm cho chúng ta mất tự chủ, đưa đến thèm khát ham muốn và tạo ra những cái việc tội lỗi.
Nhờ khép mình trong năm phạm trù của giới này mà chúng ta tránh xa được những tội lỗi. Nhờ vậy mà chúng ta luôn luôn giữ được cái đức tính giác ngộ tỉnh thức luôn luôn hiện diện; giữ được lời nói, hành động và ý nghĩ trong sạch thanh tịnh; và giữ được cái đức tính hài hòa giữa mình và người, giữa thân và tâm.

Khi quy y Pháp, năm giới cũng là Pháp, nếu chúng ta sống trong cái phạm trù của giới luật, của đạo đức là chúng ta đang thực sự quy y Pháp. Nhờ hành trì Pháp mà chúng ta có tỉnh thức, có sáng suốt và có được sự hòa hợp, hài hòa giữa mình và mọi người. Cho nên khi quy y Phật thì đồng nghĩa là chúng ta đã có quy y Pháp và quy y Tăng. Khi quy y Pháp thì đồng nghĩa là chúng ta hội đủ cả quy y Phật và quy y Tăng. Cho nên tuy nói là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nhưng giây phút nào chúng ta phát nguyện trọn vẹn quy y Phật thì chúng ta đã có đủ Pháp và Tăng. Khi quy y Pháp, thực tập năm giới, là chúng ta cũng có hội tụ đủ quy y Phật và quy y Tăng. Khi quy y Tăng là đã có đủ Phật và Pháp. Cho nên ba trong một!
Dù vậy, cũng không bắt buộc mọi người phải giữ nếu chúng ta chưa có chuẩn bị. Năm giới này chúng ta tự phát nguyện, có thể phát nguyện trước Tam bảo, phát nguyện trước cái vị tăng, vị thầy của chúng ta để mình nguyện trọn đời giữ năm giới này.
Thế cho nên, quy y và thọ giới phải trên cái hiểu biết. Hiểu biết rằng, ý thức rằng những cái khổ đau xảy ra trong đời sống của chúng ta chính là do chúng ta sống không có ý thức, sống không có tình thương, sống không có sự hiểu biết, sống không có trách nhiệm, cho nên chúng ta để quá lại nhiều quá những cái hậu quả khổ đau. Vì vậy mà chúng ta nguyện hết mình trong cái phạm trù của quy y, của giới để dần dần chúng ta duy trì và phát triển những cái năng lượng bình yên trong ta.
Một khi có năng lượng bình yên tức là năng lượng tích cực ở trong ta mà mạnh mẽ rồi thì cái năng lượng đó nó sẽ phát ra một cái từ trường. Cái từ trường đó nó có năng lực, đẩy lùi tất cả những chướng duyên nghịch cảnh, những tai nạn, những cái bất an ra khỏi đời sống của chúng ta. Vấn đề ở chỗ là chúng ta luôn luôn phải kích hoạt, phải hoạt động cái năng lượng bình yên, cái năng lượng của giới luật, năng lượng của tỉnh thức, năng lượng của từ bi, năng lượng của thanh tịnh, năng lượng của hòa hợp luôn luôn ở cao độ. Để làm gì? Để cái năng lượng đó nó lan tỏa ra và nó tiếp nhận được cái từ trường của chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng. Các ngài cũng ở cái năng lượng tích cực cao đó, cho nên chúng ta bắt được, hội nhập được cái năng lượng của chư Phật, Thánh chúng. Và trong giây phút mầu nhiệm đó, chúng ta được chư Phật hộ niệm, đem cái tâm thương tưởng mà chăm sóc giữ gìn cho ta, và nhờ vậy mà chúng ta đẩy lùi được chướng duyên nghịch cảnh.
Vì vậy, tu tập không phải dừng lại ở vấn đề cầu xin, lễ bái, cúng kiến. Nhưng qua những hình thức tụng niệm lễ bái đó, đó là một phương tiện để chúng ta quán niệm và thấy được con người thật của mình. Khi chúng ta thấy được con người thật của mình rồi, thấy được mình là ai, mình đang làm gì, thì tự khắc mình phải biết dừng lại những cái lối sống nào để lại hậu quả khổ đau cho mình, và phát huy những lối sống nào đưa đến bình yên hạnh phúc.
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
Mỗi năm khi mùa Phật đản về, người con Phật khắp nơi lại thành kính hướng tâm mừng ngày đản sinh của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Ni sư Pema Chödrön chia sẻ ba cách giúp chúng ta biến những khó khăn trong cuộc sống thành con đường dẫn đến sự tỉnh thức và niềm an vui.
Lối sống ít sở hữu (chủ nghĩa tối giản - minimalism) được nhắc đến như một triết lý sống tập trung loại bỏ đồ đạc và những yếu tố dư thừa để nhường chỗ cho các giá trị thật sự quan trọng.
Kiến thức là kho tàng quý báu của nhân loại. Việc trau dồi tri thức là điều không thể thiếu đối với những ai muốn tiếp cận nền văn minh của con người.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với sự phát triển mạnh mẽ, đan xen giữa cơ hội và thách thức. Trong bối cảnh đó, vai trò của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng cũng khẳng định tinh thần nhập thế, hòa mình và dấn thân, phụng sự, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bạn tôi làm ở Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, công việc của cô ấy là nghe điện thoại và liên lạc xé lòng nhất chính là nghe tiếng trẻ con khóc.
Xin lỗi con, vì đăng ảnh trẻ em mà không xin phép, cũng không làm nhòe hay che mắt.
Phật tử là danh xưng dành cho những người con Phật, gồm hai đối tượng: người xuất gia là chư Tăng Ni và người tại gia là các cư sĩ nam, nữ đã phát nguyện thụ trì Tam quy, gìn giữ Ngũ giới.