Phật Giáo

Những lời Phật dạy - Trích lục các bài giảng trong Kinh điển Pāli (P3)

Thứ năm, 01/05/2016 | 08:27

Phàm nhân và thánh đệ tử đều có cảm thọ khổ của thân thể, nhưng có phản ứng khác nhau. Phàm phu phản ứng với thọ khổ với lòng oán ghét và vì thế, bên cạnh các cảm giác đau đớn trên thân thể, họ còn có thêm cảm giác tâm lý đau đớn: sầu khổ, oán trách và lo rầu. Vị thánh đệ tử, khi có đau đớn thể xác, vị ấy kiên nhẫn chịu đựng, không lo âu, oán trách, hay sầu khổ.

Chương I: Kiếp nhân sinh
Dẫn nhập

Như các tôn giáo khác, những lời dạy của đức Phật bắt nguồn từ sự đáp ứng về những nỗi khổ đau căng thẳng trong tâm con người. Sự khác biệt giữa lời dạy của Ngài và các tôn giáo khác là tính cách trực tiếp, thấu suốt và thực tế khi Ngài nhìn các nỗi khổ đau này. Ngài không ban cho chúng ta các loại thuốc giảm đau vốn không điều trị được căn bệnh trầm kha nằm dưới bề mặt. Nhưng Ngài truy nguyên chứng bệnh hiện tại của chúng ta cho đến tận gốc rễ, vốn dai dẳng và tàn phá và chỉ cho chúng ta phương cách để có thể nhổ bỏ trọn gốc rễ. Tuy nhiên, mặc dù Phật pháp tối hậu sẽ đưa đến tuệ giác để xóa bỏ mọi nguồn gốc của khổ đau, giáo pháp không khởi đầu từ đó, mà bắt đầu bằng những quan sát về thực tế khắc nghiệt đang xảy ra mỗi ngày. Ở đây, tính trực tiếp, thấu suốt trọn vẹn và hiện thực khắc nghiệt được chỉ cho thấy rõ ràng. Lời dạy bắt đầu bằng cách khuyên chúng ta phát triển một năng lực gọi là yoniso manasikāra, như lý tác ý hay chú tâm đúng đắn. đức Phật dạy phải ngưng các ý tưởng lang thang trong đời sống và thay vào đó, nên chú tâm cẩn trọng về các sự thật đơn giản có sẵn khắp nơi, kêu gọi ta phải để ý đến chúng. 

Một trong những sự thật hiển nhiên, không trốn tránh được và cũng là một sự thật mà chúng ta khó chấp nhận, là ta sẽ phải già, bệnh, rồi chết. Chúng ta thường hiểu rằng đức Phật chỉ dạy ta phải nhận ra sự thật về tuổi già và chết, để khích lệ chúng ta đi vào đường xuất gia đưa đến Niết-bàn, hoàn toàn giải thoát khỏi vòng sinh tử. Tuy nhiên, mặc dù đó là ý định tối hậu của Ngài, nhưng đó không phải là điều đầu tiên Ngài muốn chúng ta phải thực hiện, khi ta tìm đến Ngài để xin chỉ dạy. Điều đầu tiên Ngài muốn chúng ta chú ý và quan tâm đến là đạo đức. Khi kêu gọi chúng ta chú tâm đến sự trói buộc của tuổi già và sự chết, Ngài muốn chúng ta phát khởi quyết tâm xa lìa các lối sống bất thiện và thay vào đó, hướng đến lối sống thiện lành.

Ở đây, đức Phật dạy chúng ta về đạo đức không phải chỉ vì lòng từ bi đối với các chúng sinh khác, nhưng cũng là do sự quan tâm tự nhiên của chúng ta về hạnh phúc và an sinh lâu dài của bản thân ta. Ngài chỉ cho ta thấy nếu sinh hoạt theo những hướng dẫn đạo đức sẽ giúp chúng ta củng cố phúc lợi cho bản thân ta ngay bây giờ và trong tương lai lâu dài. Lời dạy của Ngài dựa theo một nguyên tắc quan trọng là bất cứ hành động nào cũng dẫn theo hậu quả. Nếu phải thay đổi lối sống quen thuộc, ta phải được thuyết phục về hiệu lực của nguyên tắc này. Đặc biệt là nếu phải thay đổi từ một lối sống vô ích sang một lối sống có ích lợi nội tâm, ta phải hiểu rõ rằng mọi hành động đều tạo hậu quả cho ta, trong đời này và trong đời sau.

Ba bài kinh trong đoạn đầu tiên của chương I chứng minh hùng hồn điều đó, mỗi bài kinh diễn tả một cách khác nhau. Kinh văn I,1(1) đưa ra một định luật phổ quát là tất cả chúng sinh khi sinh ra đều rồi phải già và chết. Khi đọc sơ qua, ta có cảm tưởng rằng đây chỉ là một sự thật hiển nhiên, đưa ra các ví dụ ngay cả thành viên của giai cấp cao (vua quan, đạo sĩ và gia chủ) và các bậc A-la-hán giải thoát cũng chịu quy luật này, nhưng trong đó có tiềm ẩn một thông điệp đạo đức. Kinh văn I,1(2) chỉ rõ thông điệp này hơn, đưa ra một ví dụ về ngọn núi, khi “già và chết” đi đến như một hòn núi lăn tới đè bẹp ta, việc làm chính trong đời sống là sinh sống đúng đắn, làm các việc thiện lành và tạo phước. Bài kinh về các vị “thiên sứ” – Kinh văn I,1(3) – bổ túc thêm: khi ta không nhận thấy các“thiên sứ” này, khi chúng ta không thấy các dấu hiệu tiềm ẩn của già, bệnh, chết, ta trở nên phóng túng, có những hành động hoang đàng, tạo các nghiệp bất thiện, để rồi có khả năng tạo ra các hậu quả khốc liệt.

Nhận thức được rằng chúng ta thế nào rồi cũng già và chết giúp phá tan bùa mê làm ta say đắm vào các dục lạc, tài sản và quyền lực. Nó đánh tan sương mù loạn động và khuyến khích ta xét lại các mục tiêu trong đời sống. Chúng ta có thể chưa sẵn sàng từ bỏ gia đình, để sống đời xuất gia lang thang và độc cư thiền định, nhưng đó không phải là một sự chọn lựa mà thông thường đức Phật mong đợi từ các vị đệ tử cư sĩ tại gia. Như đã trình bày ở trên, bài học đầu tiên từ việc quan sát sự thật về tuổi già và cái chết là bài học đạo đức xen lẫn với cặp đôi nguyên tắc nghiệp quả và tái sinh. Luật nghiệp quả chỉ ra rằng các hành động thiện và bất thiện đều có hậu quả vượt qua đời này: Các hành động bất thiện tạo tái sinh trong cảnh khổ và mang theo khổ đau trong tương lai, các hành động thiện sẽ cho tái sinh vào cõi lành và sự an vui hạnh phúc trong tương lai. Vì ta phải già rồi chết, ta cần phải luôn luôn nhận thức rằng phồn vinh hiện tại mà ta đang vui hưởng chỉ là tạm bợ. Chúng ta vui hưởng khi còn trẻ và khỏe mạnh; và khi ta chết, các nghiệp ta vừa tạo ra sẽ có cơ hội tạo quả. Lúc đó, ta phải nhận lãnh các quả từ các nghiệp hành đời trước. Với sự quan tâm về sự an vui lâu dài của mình, chúng ta phải cực kỳ cẩn thận tránh các hành động bất thiện đưa đến hoạn khổ và nỗ lực thực hiện các hành động thiện để tạo ra an vui trong đời này và đời sau.

Trong đoạn thứ hai, chúng ta khảo sát ba khía cạnh của kiếp nhân sinh, mà tôi đặt chung một tựa đề là “Những khổ não của cuộc sống thiếu suy tư”. Các loại khổ não này khác với loại liên hệ với già và chết. Già và chết gắn liền với sự hiện hữu của thân thể và không thể tránh được, xảy ra cho phàm nhân và bậc A-la-hán giải thoát – đã được đề cập trong đoạn trên. Trái lại, ba kinh văn trong đoạn này là để phân biệt giữa phàm nhân, gọi là “vô văn phàm phu” (assutavā puthujjana) và các vị đệ tử hiền trí của đức Phật, gọi là “đa văn thánh đệ tử” (sutavā ariyasāvaka).

Điểm khác biệt đầu tiên, Kinh văn I,2(1), đề cập chung quanh phản ứng đối với các cảm thọ khổ. Phàm nhân và thánh đệ tử đều có cảm thọ khổ của thân thể, nhưng có phản ứng khác nhau. Phàm phu phản ứng với thọ khổ với lòng oán ghét và vì thế, bên cạnh các cảm giác đau đớn trên thân thể, họ còn có thêm cảm giác tâm lý đau đớn: sầu khổ, oán trách và lo rầu. Vị thánh đệ tử, khi có đau đớn thể xác, vị ấy kiên nhẫn chịu đựng, không lo âu, oán trách, hay sầu khổ. Người ta thường nghĩ rằng đau đớn thể xác và tâm hồn thường kết nối với nhau, nhưng đức Phật phân biệt rạch ròi giữa hai hiện tượng đó. Ngài dạy rằng sự hiện hữu của một thân xác là sẽ đưa đến cảm giác đau đớn về thân không thể tránh được, nhưng sự đau đớn đó không bắt buộc khởi động phản ứng tâm lý sầu khổ, sợ hãi, oán trách và buồn rầu mà ta thường quen phản ứng như thế. Qua tu tập tâm, chúng ta phát triển sự tỉnh thức và hiểu biết rõ ràng cần thiết để chịu đựng cơn đau vật lý một cách can đảm, nhẫn nại và bình thản. Qua minh quán, ta phát triển trí tuệ để vượt qua sự lo sợ các cảm thọ khổ và nhu cầu tìm kiếm khuây khỏa qua các say sưa trong dục lạc.

Một khía cạnh khác của kiếp nhân sinh để thấy rõ sự khác biệt giữa phàm nhân và bậc thánh đệ tử là những thăng trầm thay đổi của thịnh vượng. Kinh điển Phật giáo tóm gọn trong bốn cặp đối lập, được gọi là tám pháp thế gian (atṭṭha loka- dhammā): Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ. Kinh văn I,2(2) cho thấy cách thức mà phàm phu và thánh đệ tử phản ứng khác nhau trước những thay đổi này. Trong khi phàm nhân phấn khởi bởi thành công trong việc đạt được lợi, danh vọng, khen ngợi và niềm vui và họ thất vọng khi đối diện với những điều ngược lại, bậc thánh đệ tử vẫn bình thản. Bằng cách áp dụng sự hiểu biết về tính vô thường cho cả điều kiện thuận lợi và không thuận lợi, các thánh đệ tử cao quý an trú trong xả ly, không dích mắc theo điều kiện thuận lợi, không thối lui bởi các điều kiện bất lợi. Một đệ tử như thế từ bỏ cả thích và không thích, buồn rầu và đau khổ và cuối cùng có được phước lành cao nhất của tất cả: Hoàn toàn tự do khỏi khổ đau.
 
Kinh văn I,2(3) xem xét cảnh ngộ của phàm nhân ở mức độ cơ bản hơn. Bởi vì họ còn ngộ nhận, phàm nhân bị khích động bởi thay đổi, đặc biệt là khi thay đổi có ảnh hưởng đến thân xác và tâm trí của mình. đức Phật phân loại các thành phần của cơ thể và tâm trí vào năm loại, được gọi là “năm nhóm để chấp thủ” (ngũ thủ uẩn, pañc'upādānakkhandhā): sắc, thọ, tưởng, hành và thức (xem chi tiết ở chương IX). Năm uẩn là nền tảng mà chúng ta thường sử dụng để xây dựng nhận thức của chúng ta về nhân thân; đó là những gì chúng ta bám víu vào để cho là “của tôi”, “tôi” và “cái ngã của tôi”. Bất cứ điều gì chúng ta xác định là tôi, là thuộc về tôi, là chứa đựng cái tôi, đều có thể được phân loại trong năm uẩn đó. Vì vậy, năm uẩn là căn cứ địa tối hậu để “nhận dạng” và “chiếm hữu”, hai hoạt động cơ bản để chúng ta thiết lập một ý thức về tự ngã. Bởi vì chúng ta đầu tư quan niệm về bản ngã và bản sắc cá nhân với một mối quan tâm có cảm xúc mãnh liệt, khi các đối tượng mà ta bám chặt – năm uẩn – trải qua sự thay đổi, chúng ta đương nhiên trải qua lo lắng và đau khổ. Trong nhận thức của ta, đó không phải chỉ là hiện tượng khách quan đang thay đổi, nhưng đó là thay đổi bản sắc của ta, thay đổi cái ngã ta đang ấp ủ và đó là những gì chúng ta sợ nhất. Tuy nhiên, như bài kinh này cho thấy, một vị thánh đệ tử đã rõ ràng nhìn thấy với trí tuệ về bản chất hão huyền của tất cả các khái niệm của tự ngã thường tồn và từ đó, không còn đồng hóa với năm uẩn. Do đó, người đệ tử cao quý có thể đối đầu với sự thay đổi của năm uẩn mà không quan tâm lo lắng, xúc động khi đối mặt với sự thay đổi, suy tàn và hủy diệt của năm uẩn.

Khích động và rối loạn gây đau đớn cho cuộc sống con người không chỉ ở cấp độ cá nhân và riêng tư, mà còn trong tương quan xã hội. Từ thời cổ xưa nhất, thế giới chúng ta luôn luôn có các cuộc đối đầu bạo lực và xung đột. Tên tuổi, địa điểm và các công cụ hủy diệt có thể thay đổi, nhưng các lực thúc đẩy đàng sau, những động lực – những biểu hiện của lòng tham và hận thù, cũng vẫn như thế. Các bộ kinh điển đều có ghi những bài kinh cho thấy đức Phật hiểu biết rõ ràng khía cạnh này của con người. Mặc dù lời dạy của Ngài, nhấn mạnh kỷ luật đạo đức tự giác, tự huân tập tâm, cốt yếu nhắm đến giác ngộ và giải thoát cá nhân, đức Phật cũng tìm cách cho mọi người một nơi nương náu, tránh bạo lực và bất công, hành hạ cuộc sống con người một cách tàn nhẫn. Ngài nhấn mạnh vào tâm Từ và tâm Bi vào sự vô hại trong hành động và dịu dàng trong lời nói và vào cách giải quyết hòa bình mọi tranh chấp.

Kinh văn I,3(1) giải thích mâu thuẫn giữa những cư sĩ phát sinh từ các chấp thủ vào thú vui nhục dục, xung đột giữa các nhà tu khổ hạnh phát sinh từ chấp thủ quan kiến. Kinh văn I,3(2), một cuộc đối thoại giữa đức Phật và vua trời Đế-thích, vị cai quản chư thiên của Ấn Độ thời tiền Phật giáo, chỉ ra nguồn gốc sân hận và thù nghịch là từ lòng ganh tị và keo kiệt. Từ đó đức Phật vạch rõ chúng đi từ những vặn vẹo cơ bản có ảnh hưởng đến cách thức tiếp nhận và xử lý thông tin từ các giác quan. Kinh văn I,3(3) cung cấp một phiên bản của chuỗi nổi tiếng về quan hệ nhân duyên, đi từ cảm thọ đến tham ái và từ tham ái thông qua các điều kiện khác đưa đến “sử dụng gậy gộc, vũ khí” và các loại hành vi bạo lực. Kinh văn I,3(4) mô tả như thế nào ba gốc rễ của bất thiện – tham, sân, si – có ảnh hưởng khủng khiếp trên toàn bộ xã hội, tạo ra bạo lực, thèm khát quyền lực và gây ra bất công đau khổ. Tất cả bốn kinh văn này có nghĩa là bất kỳ biến đổi đáng kể và lâu dài của xã hội nào cũng đòi hỏi phải có thay đổi quan trọng trong đạo đức của mỗi cá nhân. Khi nào tham, sân, si vẫn bao trùm như là các yếu tố quyết định trên mọi hành vi, hậu quả tất nhiên luôn luôn nguy hại.

Lời dạy của đức Phật đề cập đến một khía cạnh thứ tư của kiếp nhân sinh, không giống như ba khía cạnh đã thấy ở trên, chúng ta khó cảm nhận ngay được. Đó là sự ràng buộc chúng ta vào vòng luân hồi. Từ các kinh văn trích lục cho phần cuối trong chương này, chúng ta sẽ thấy rằng đức Phật dạy kiếp sống của mỗi cá nhân chỉ là một giai đoạn trong một loạt các sự tái sinh đã được tiến hành, mà không có bắt đầu rõ rệt từ lúc nào. Loạt tái sinh này gọi là saṃsāra (ta-bà), chữ Pāli có ý nghĩa lang thang không định hướng. Cho dù chúng ta cố gắng quay lùi thời gian tìm điểm khởi đầu của vũ trụ, chúng ta không bao giờ tìm thấy thời điểm ban đầu của sự sáng tạo. Cho dù chúng ta cố gắng đi ngược trình tự tái sinh của mỗi cá nhân, chúng ta không bao giờ có thể đi đến điểm đầu tiên. Theo Kinh văn I,4(1) và I,4(2), ngay cả khi chúng ta có thể theo dõi các trình tự của cha mẹ ta trên toàn hệ thống thế giới, chúng ta cũng sẽ thấy vẫn còn nhiều bà mẹ và ông bố nối dài tận chân trời xa thẳm.

Hơn nữa, quá trình này không chỉ vô thủy mà còn là vô chung. Khi vô minh và tham ái vẫn còn nguyên vẹn, quá trình này sẽ tiếp tục vô hạn định trong tương lai, không có kết thúc. Đối với đức Phật và Phật giáo Sơ kỳ, đây là ở trên tất cả mọi khủng hoảng ngay trung tâm của kiếp nhân sinh: Chúng ta bị trói buộc vào một chuỗi các tái sinh và nguyên nhân của ràng buộc đó không có gì khác hơn là do vô minh và tham ái. Lang thang vô định hướng trong cõi ta-bà xảy ra trong bối cảnh vũ trụ có kích thước rộng lớn không thể tưởng tượng được. Khoảng thời gian phải mất cho một hệ thống thế giới tiến hóa, đạt đến điểm bành trướng tối đa, co rút lại, rồi tan rã, gọi là một kappa (Skt: kalpa, kiếp). Kinh văn I,4(3) cung cấp một ví dụ sinh động về thời gian của một kiếp; Kinh văn I,4(4) cho một ví dụ sinh động khác để minh họa cho con số thời gian không thể suy lường, mà qua đó chúng ta đã đi lang thang trong luân hồi.

Khi chúng sinh lang thang từ đời này sang đời khác, bao phủ trong bóng tối, họ càng lúc càng rơi vào vực thẳm của sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng vì bị thúc đẩy lao vào cuộc tìm kiếm không ngừng để thỏa lòng, họ ít khi dừng lại đủ lâu để suy tư cẩn thận về sự hiện hữu của chính mình. Như Kinh văn I,4(5) chỉ rõ, họ chỉ loanh quanh “năm uẩn” như con chó bị cột vào trụ bằng một sợi dây và chỉ chạy loanh quanh cột trụ đó. Do vô minh bao phủ, họ không nhận ra được bản chất xấu xa của tình trạng này và do đó, họ không thể nhìn thấy các dấu vết của con đường đưa đến giải thoát. Đa số chúng sinh sống đắm mình trong việc thụ hưởng các dục lạc. Những người khác, do nhu cầu quyền lực, địa vị và tự kiêu, đang sống với nỗ lực vô ích để thỏa mãn các khát khao không bao giờ dập tắt. Nhiều người khác, sợ hãi về sự hủy diệt sau khi chết, xây dựng những hệ thống niềm tin gán sự sống vĩnh cửu cho bản ngã, linh hồn của họ. Một số người khác ước muốn tìm một con đường giải thoát, nhưng không biết tìm thấy ở đâu. Để chỉ ra một con đường như thế, đức Phật đã xuất hiện giữa chúng ta.

Tỳ-khưu Bodhi biên soạn và giới thiệu
Bình Anson dịch
Trích trong Những lời Phật dạy - Trích lục các bài giảng trong Kinh điển Pāli 
Còn nữa…

Bình Anson
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z