Thứ tư, 31/03/2021, 09:59 AM

Phật tử nên gọi là Quán Âm Bồ tát hay Quan Âm Bồ tát?

Mặc dù hiện nay xưng tán danh hiệu Quan Âm hay Quán Âm đều được, tùy thói quen của mỗi người. Nhưng xét theo ngữ nghĩa thì Quán Âm (Quán Thế Âm) hợp với hạnh nguyện của Ngài hơn.

Quán Âm hay Quan Âm là cách gọi khác nhau của 觀音 (lược xưng của 觀世音, Phạn ngữ: Avalokitesvara). Chữ 觀 (Guan) có hai âm Quan và Quán. Quan có một số nghĩa là xem, nhìn, quan sát. Quán có nghĩa là xem xét kỹ lưỡng, quán chiếu thâm sâu, quan sát tường tận. Quan là nghe, nhìn thông thường của giác quan; nhận biết về một cái gì đó. Quán thiên về tuệ giác, thấy rõ như thật bản chất của các pháp như nó đang là; thấy nghe với tuệ giác vô thường, vô ngã. Quán Thế Âm là lắng nghe, quán xét sâu sắc âm thanh khổ đau cầu cứu của thế gian để cứu độ. Quán Tự Tại là quán chiếu sâu sắc thân năm uẩn không có tự tính nên được tự tại, vượt thoát khổ ách.

Như vậy, mặc dù hiện nay xưng tán danh hiệu Quan Âm hay Quán Âm đều được, tùy thói quen của mỗi người. Nhưng xét theo ngữ nghĩa thì Quán Âm (Quán Thế Âm) hợp với hạnh nguyện của Ngài hơn.

Chân dung các vị Bồ tát

Phật tử nên gọi là Quán Âm Bồ tát hay Quan Âm Bồ tát? 1

Bồ tát Quán Thế Âm là hình tượng nổi bật nhất của Đại Từ bi.

Quán Thế Âm Bồ tát là ai?

Bồ tát Quán Thế Âm, còn được gọi là Bồ tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara Bodhisattva) chỉ xuất hiện và xuất hiện khá nhiều trong các kinh điển Đại thừa như Hoa nghiêm, Lăng nghiêm, Pháp hoa, Bát nhã Tâm kinh, Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, Đại Từ Đà la ni, Chuẩn đề Đà la ni… và rất nhiều các ký, sớ, giải, luận về Bồ tát. Ngài được xem là vị Đại bi (trong kinh Pháp hoa) nguyện cứu độ tất cả chúng sinh và Đại trí (trong Bát-nhã Tâm kinh) liễu ngộ năm uẩn đều là không.

Các kinh điển trên đều nói đến Bồ tát Quán Thế Âm với hình tướng nam tính, nam giới chứ không phải nữ giới. Bồ tát tượng trưng cho từ bi và trí tuệ. Ngài nghe hết tiếng kêu khổ, tiếng niệm danh hiệu ngài, tiếng cầu xin ngài để được như ý muốn, được cứu độ khỏi khổ đau, tai nạn…

Bồ tát Quán Thế Âm được quan niệm là hình ảnh phụ nữ, là mẹ, là Phật… có lẽ dính dáng đến nguyên lý Mẹ mà rất nhiều văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo… theo đó đều có các thánh nữ. Đặc biệt, trong Phật giáo Mật tông Tây Tạng có thờ thánh mẫu Tara gồm nhiều vị. Truyền thuyết cho rằng vị Tara được sinh ra từ nước mắt của Đức Quán Thế Âm; rằng trong kiếp xa xưa, mẹ Tara đã là một vị công chúa quyết tâm tu, quyết giữ hình hài nữ giới cho đến khi thành Phật. Xin nói thêm, thánh nữ Tara còn được hiểu là hàng chục vị, có thể đến hơn một trăm vị, được phân biệt theo màu sắc của các tranh tượng. Tara màu xanh (Lục độ Tara) là vị tiêu biểu nhất.

Phật tử nên gọi là Quán Âm Bồ tát hay Quan Âm Bồ tát? 2

Quán Thế Âm là lắng nghe, quán xét sâu sắc âm thanh khổ đau cầu cứu của thế gian để cứu độ. Quán Tự Tại là quán chiếu sâu sắc thân năm uẩn không có tự tính nên được tự tại, vượt thoát khổ ách.

Tu tập hạnh lành của Bồ tát

Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, nêu rất rõ và rất ấn tượng về ý nghĩa cứu khổ cứu nạn vẫn được coi là tượng trưng cho hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm.

Kinh cho ta thấy Bồ tát Quán Thế Âm là hình tượng nổi bật nhất của Đại Từ bi; những hóa thân của ngài gồm 33 hay 35 hình tướng để có thể thuận tiện cứu khổ cho chúng sinh. Lòng Đại từ bi ấy có thể xem như lòng mẹ đối với con cái, lại phù hợp với truyền thống của nhiều tôn giáo có một vị nữ được ví như là Mẹ của tất cả: Đức mẹ Kali, Đức mẹ Maria, Đức Mẫu… Do đó, mặc dù Bồ tát Quán Thế Âm có thể hóa thân thành Phật, Bích chi, Thanh văn, Phạm vương, Tự tại thiên, Đại Tự tại thiên, Đại tướng quân, Tỳ sa môn Thiên vương… Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn, nam nữ Tỳ kheo... nét nổi bật nhất của hóa thân ngài vẫn là hình ảnh phụ nữ, hình ảnh mẹ hiền.

Kinh điển Đại thừa, đặc biệt là kinh Pháp hoa, được truyền sang Trung Quốc, các bản dịch chính kinh và phụ kinh của kinh này được phổ biến khá rộng từ năm 255 đến năm 601. Và quan niệm Bồ tát Quán Thế Âm mang hình tướng nữ giới được hình thành dần dần, đến đời Đường (618-907) thì hình tướng này hình như hoàn toàn phổ biến, nhất là trong giới bình dân, tạo thành một tín ngưỡng quan trọng.

Phật tử nên gọi là Quán Âm Bồ tát hay Quan Âm Bồ tát? 3

Mặc dù Bồ tát Quán Thế Âm có thể hóa thân thành Phật, Bích chi, Thanh văn, Phạm vương, Tự tại thiên, Đại Tự tại thiên, Đại tướng quân, Tỳ sa môn Thiên vương… Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn, nam nữ Tỳ kheo... nét nổi bật nhất của hóa thân ngài vẫn là hình ảnh phụ nữ, hình ảnh mẹ hiền.

12 Đại nguyện của Quán Thế Âm Bồ tát 

Nguyện Thứ Nhất:

Khi thành Bồ Tát

Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm

Mười hai lời nguyện cao thâm

“Nghe tiếng cứu khổ” Quán Âm thề nguyền.

Nguyện Thứ Hai:

Không nài gian khổ

Quyết một lòng cứu độ chúng sanh

Luôn luôn thị hiện biển đông

Vớt người chìm đắm, khi dông gió nhiều.

Nguyện Thứ Ba:

Ta Bà ứng hiện

Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau

Oan oan tương báo hại nhau

Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền.

Nguyện Thứ Tư:

Hay trừ yêu quái

Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê

Độ cho chúng hết u mê

Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương.

Nguyện Thứ Năm:

Tay cầm Dương Liễu

Nước cam lồ rưới mát nhân thiên

Chúng sanh điên đảo, đảo điên

An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan.

Nguyện Thứ Sáu:

Thường hành bình đẳng

Lòng từ bi thương xót chúng sanh

Hỷ xả tất cả lỗi lầm

Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài.

Nguyện Thứ Bảy:

Dứt ba đường dữ

Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh

Cọp beo . . ., thú dữ vây quanh

Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn.

 Nguyện Thứ Tám:

Giải thoát còng la

Nếu tội nhân sắp bị khảo tra

Thành tâm lễ bái thiết tha

Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng.

Nguyện Thứ Chín:

Cứu vớt hàm linh

Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh

Bốn bề biển khổ chông chênh

Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn.

Nguyện Thứ Mười:

Tây Phương tiếp dẫn

Tràng hoa thơm, kỹ; nhạc, lộng tàn

Tràng phan, bảo cái trang hoàng

Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây.

Nguyện Thứ Mười Một:

Di Đà thọ ký

Cảnh Tây Phương, tuổi thọ khôn lường

Chúng sanh muốn sống miên trường

Quán Âm nhớ niệm, Tây Phương mau về.

Nguyện Thứ Mười Hai:

Tu hành tin tấn

Dù thân nầy tan nát cũng đành

Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành

Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.

gg follow

CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT

Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.

STK: 117 002 777 568

Ngân hàng Công thương Việt Nam

(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)

Nghi thức trì tụng Diệt Định Nghiệp Đà Ra Ni - Sám hối diệt nghiệp

Kiến thức 18:00 06/05/2026

Nghi thức này gồm hai phần là trì tụng thần chú Diệt Định Nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát và sám hối theo hướng dẫn của Đức Phật trong kinh Kim Quang Minh, kết hợp cả trì chú và sám hối để tạo ra công năng diệt trừ nghiệp chướng cực kì mạnh mẽ.

Chú Đại Bi - Hạnh phúc bình an hiện tại và mai sau

Kiến thức 19:00 30/04/2026

Trì tụng chú Đại Bi không những được tự tại, mà các điều cầu mong còn được thành tựu, có thể tránh được khổ ách tai nạn và được vui sướng an lạc, vượt qua mọi hiểm nghèo, tới chỗ bình an vô sự.

Vì sao Đức Phật không cứu độ hết chúng sinh thoát khỏi khổ đau?

Kiến thức 08:09 22/04/2026

Phật không thể chuyển được nghiệp của chúng sinh, mà chỉ có thể từ bi chỉ dạy chúng sinh tự mình nỗ lực để thay đổi cuộc đời của mình.

Lạy Phật hàm chứa nguyên lý y học thâm sâu

Kiến thức 10:07 19/04/2026

Lạy Phật là môn vận động giúp thân, miệng, ý chúng ta thanh tịnh; có thể giúp tâm chúng ta có thể khế hợp với tâm Phật và đương nhiên cũng có thể trị bệnh.

Xem thêm