Phật Giáo

Rồng thời Lý và biểu tượng Phật giáo

Thứ năm, 31/08/2014 | 15:29

Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam rồng (con rồng) là hình tượng nghệ thuật rất phổ biến, hình tượng con vật này luôn gắn bó với ý thức và lý tưởng của thời đại đã sinh ra nó. Thời lý Phật giáo Việt Nam phát triển đến đỉnh cao , vì vậy hình tượng con rồng cũng mang những biểu hiện của mỹ thuật Phật giáo, điều này đã được chứng minh qua những di vật khảo cổ và lịch sử đã được phát hiện.

1. Nguồn gốc con rồng

Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc con rồng, cụ thể: Theo ông Văn Tân thì nguồn gốc của rồng Việt có thể được sinh ra từ cá sấu cụ thể trong tạp chí Nguyên cứu Lịch sử có viết “Đầu tiên Tô-tem của người Việt có thể là một giống rắn nào đó – một giống bò sát nào đó. Giống rắn này có thể lớn và có mào, lại có thể có cả chân, ít nhiều điểm giống con rồng. Người Việt Nam xưa vẫn cho là một giống rắn thần thân dài, mào đỏ chót. Nhiều làng ở Việt Nam xưa đã thờ giống rắn thần đó (Kim Hoàng, Hậu Ái...)”, ông Văn Tân lại tiếp tục chứng minh nguồn gốc con rồng từ cá sấu “Ngờ rằng con Giao Long mà người Việt xưa xăm vào mình có lẽ là con cá sấu”. Cùng quan điểm với ông Văn Tân thì có Gs.Phạm Huy Thông, Gs.Hà Văn Tấn “Như vậy theo chúng tôi, hình hai con cá sấu được cách điệu hài hào giao nhau trên búa đồng Đông Sơn là hình của con Giao Long. Phải chăng đây là hình tượng con rồng đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam”.

Tuy nhiên các quan điểm thể hiện ở những mức độ khác nhau Gs.Phạm Huy Thông viết “Chúng ta chưa khẳng định mười mươi rằng con rồng có tiền thân từ con cá sấu Đông Nam Á. Nhất là động vật học chưa xác định sự tồn tại của cá sấu ở vùng biển Bắc bộ”.

Chu Quang Trứ dựa vào hình thuyền trên trống và thạp đồng (nhất là thạp Đào Thịnh) có dáng dấp hình con rắn và con cá sấu để giải thích về nguồn gốc con rồng: “Phải chăng những loại trùng và hình thuyền trên (trên trống và thạp - LVT) đã gợi lên bóng dáng đầu tiên của con rồng Việt Nam, mà thiên thần thoại Lạc Long Quân nhắc đến dưới cái tên Giao Long"
 
 
Nhà sử học Ngô Sĩ Liên có quan điểm cho rằng con rồng có truyền thống lâu đời cụ thể truyền thuyết con rồng cháu tiên quan niệm rằng Lạc Long Quân là dòng dõi nhà rồng “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó” vì vậy họ đã chia nhau 50 con theo cha về Nam Hải, 50 con về với mẹ. Còn tác giả Hoàng Lương lại ý kiến cho rằng con Giao Long không phải xuất phát từ loài cá sấu “Cho nên chúng tôi ngờ rằng con Giao Long của người Việt xưa kia thờ không phải là con cá sấu mà là một loài chăn nước cổ đại (python) có rất nhiều ở các sông ngòi Việt Nam xưa kia”. Tác giả Lê Thanh Tịnh lại cho rằng con rồng thực chất là một loài rắn mà thôi “Theo chúng tôi, có thể rồng cũng chỉ là rắn được cách điệu và thần thánh hóa mà thôi. Gần đây, theo ý kiến của một số con nhà khoa học trên thế giới thì rồng chỉ là một thứ rắn biển đã dần dần bị tiêu diệt và quá xa lạ đối với chúng ta ngày nay”. Còn tác giả Phạm Huỳnh Hương Trang thì khẳng định cá sấu là Lạc Long Quân và rồng thành các loại sau:

1. Rồng cá sấu
2. Rồng sấu rắn
3. Rồng rắn với đầu cá sấu
4. Rồng mèo, dựa trên một mảnh sành ở Bắc Ninh hình dáng rồng Đại Việt
5. Rồng thời ngô, dựa vào hình trên một viên gạch phát hiện ở Cổ Loa
6. Rồng đầu sư tử, dựa vào đồng tiền Cảnh Thịnh
7. Rồng thời Nguyễn

Tuy nhiên theo PGs.Hoàng Văn Khoán thì ở trên tác giả Hương Trang đã không thống nhất về cách phân loại, một số thì theo hình dáng, một số lại theo triều đại. Tư liệu đưa ra không căn cứ như: Miếng sành có con rồng mèo lấy ở di chỉ nào, niên đại ra sao? Rồng Ngô trên viên gạch Cổ Loa nhưng địa bàn Cổ Loa rất rộng, có nhiều địa điểm với niên địa khác nhau, vậy viên gạch đó thuộc thời kỳ nào... Tác giả đã bỏ sót nhiều tư liệu cơ bản. Vì vậy độ tin cậy thấp.

Theo Nguyễn Văn Hiệu thì rồng là vật tổ của dân tộc: “Vật tổ của dân tộc ta là con cá sấu. Lạc Long Quân là cha rồng của dân tộc ta”. Tuy nhiên quan điểm trên này khó có thể trả lời được cây hỏi: Nếu rồng Việt xuất hiện từ thời Lạc Long Quân vậy tại sao trong suốt thời kỳ Bắc thuộc lại không thấy xuất hiện bóng dáng con rồng?
 
Tôi đồng ý với quan điểm của PGs.Ts Hoàng Văn Khoán rằng con rồng có từ thời Lý và gắn với truyền thuyết về việc nhà vua gặp rồng vàng bay lên trong khi đang dời đô từ Hoa Lư ra Đại La: “Con rồng xuất hiện sớm nhất là con rồng thời Lý. Lý Công Uẩn lên làm vua, thấy Hoa Lư chật hẹp bèn quyết định dời đô về Đại La. Trên đường đi, Lý Thái Tổ thấy một đám mây vàng bay lơ lửng, nhà vua cho là điềm tốt, bèn đặt tên cho thủ đô mới là Thăng Long. Các nhà mỹ thuật đương thời sáng tác một con rồng đang bay theo ý tưởng của vua là Thăng Long – Rồng bay lên”.
 
2. Đặc điểm con rồng thời Lý 

Con rồng thời Lý có những nét đặc trưng riêng có thể phân biệt được với con rồng của các thời khác, cụ thể:

Đầu rồng thời Lý

Mào, mũi và bờm là những bộ phận được cấu tạo rất sinh động bằng những đường nét rất tự nhiên. Mào chùm lấy toàn bộ môi trên và quyện với răng nanh xoán hình đám mây bồng bềnh đang bay. Bờm tỏa ra từ sau gáy hướng về phía sau lưng trong tư thế phấp phới như có gió thổi. Túm râu con rồng mềm mại như làn sóng hướng về phía trước thu nhỏ lại. Mũi rồng là những đường cong xếp chồng nhau tạo ấn tượng về nguồn nước. Miệng thường nhe ra để lộ hai hàm răng đang ngậm hoặc vườn ngọc. Râu và mào rồng hướng về phía trước tạo nên một hình ảnh giống chiếc lá bồ đề.

Thân rồng thời Lý

Thân rồng Lý có nét nổi bật không thời nào có đó là thân rồng hình tròn lẳn, da trơn, to từ cổ nhỏ dần đến đuôi, không có vảy. Thân rồng thường có 11 đến 13 khúc, các khúc có cung độ đều nhau và uốn lượn hình thắt miệng túi đáy tròn, miệng thắt nhỏ hơn.

Thân rồng trong tư thế mềm mại tự nhiên như đang bay, có lẽ do nguồn gốc xuất thân đã quy định đến đặc điểm này của con rồng.

Chân rồng thời Lý

Rồng có 4 chân. Chân rồng thời Lý có loại có 2 loại là loại 3 móng vuốt và loại có 5 móng vuốt. Dù loại có 3 móng vuốt hay 5 móng vuốt cũng đều nhỏ nhắn, có 3 đốt và có móng vuốt sắc như móng chim. Ở khuỷu chân có một cụm lông hình chỏm mây bay về phía sau mềm mại.

3. Yếu tố Phật giáo trong con rồng thời Lý

Rồng gắn với đạo Phật

Thích Ca Mâu Ni sinh vào khoảng 565 - 485 TCN, theo Phật giáo Nam truyền thì Ngài sinh khoảng 624 - 544 TCN hoặc khoảng 623 - 543 TCN. Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra Phật giáo. Vốn tên gọi là Tất Đạt Đa, họ Kiều Đạt Ma, thuộc dòng họ Sát Đế Lợi. Đức Phật có mối quan hệ gần gũi với con rồng, truyền thuyết kể lại: Khi ngài sinh ra, có 9 con rồng phun nước cho Ngài tắm, rồi ngày bước lên 7 đóa sen, một loài hoa của Phật.
 
Rồng gắn với hoa sen (hay còn gọi là liên hoa)

Hoa sen sở dĩ được coi là loài hoa của Phật vì nó có những đặc tính cơ bản sau đây:

1. Tính không nhiễm: Loài sen thường mọc ở những nơi ẩm ướt và có nước như sông, ao, hồ, vũng nước… nhưng thân hoa không hề bị vướng bẩn bởi những thứ dơ bẩn của môi trường xung quanh.

2. Tính tinh khiết: Hoa sen có những đặc điểm rất đặc biệt, hoa của nó rất đẹp, thơm và quyến rũ nhưng không hề có một loài động vật có thể lại gần nó, dấy bẩn lên thân thể của nó, bởi lẽ trong nhị hoa sen có chất thanh trùng nên những loài động vật rất kỵ khi đến gần.

3. Tính thanh trừng: Hoa sen có đặc điểm rất hay đó chính là tính khử, nơi nào có sen thì nước ở đó sẽ rất trong bởi lẽ hoa sen có tính khử và lọc nước. Vì vậy người ta thường nuôi sen ở trong ao, hồ… có lẽ là vì đặc tính này.

4. Tính tái sinh: Hoa sen cũng như một vài loài hoa khác thường sẽ tàn và lụi đi vào mùa đông, nhưng mùa xuân lại vươn lên mạnh mẽ. Nhiều hạt sen, củ sen có thể bị trôn vùi dưới đất trong môi trường thích hợp như yếm khí…nó có thể tồn tại được hàng trăm thậm chí cả ngàn năm, đến khi khơi ra sen vẫn vươn lên mạnh mẽ, điều này thể hiện sức sống dẻo dai trường tồn của sen.
 
5. Tính thanh tao về hương vị: Hoa sen vừa có hương lại vừa có sắc. Hoa sen thường có 2 màu, màu trắng và hồng. Tuy nhiên hương sen thường thoang thoảng, dịu dàng chứ không nồng nặc, tạo cho người ta có cảm giác an lành khi được ngửi và ngắm loài hoa này.

6. Tính hành trực và ngẩu không: Thân thẳng, từ khi sinh ra thân sen đã mang một dáng hình thẳng. Trong ruột rỗng không, rỗng không mà đứng vững, rỗng không mà vẫn vươn lên kiêu hãnh bất chấp sự đời.

7. Tính bồng thực: Hoa sen khi mới nở đã có gương, cá hạt. Đó là một điều đặc biệt nữa ở hoa sen. nó thể hiện quy luật nhân quả trong phật giáo, gieo nhân nào gặp quả nấy. Có nhân có quả hiện hữu.

8. Tính hy sinh: Người ta thường dùng lá sen để gói cốm, dùng củ, hoa, lá non, thân sen để làm thức ăn, hạt sen ăn rất ngon… những bộ phật trên sen có thể dùng làm thức ăn.

Vì những đặc tính tốt đẹp trên mà loài hoa này được dùng làm biểu tượng của Phật giáo như: Liên hoan ấn, liên hoa bộ tâm quỳ, liên hoa diện kinh, liên hoa đạc, liên đài, liên đăng hội yếu, liên hoa bộ tam muội da ấn, liên hoa hợp chưởng, liên hoa lạc, liên hoa lậu, liên hoa ngôn âm, liên hoa niệm tụng, liên hoa phục, liên hoa quyền, liên hoa thai tạng, liên hoa thắng hội, liên hoa tọa…

Con rồng thường được trang trí cùng hoa sen như rồng dâng sen lên Phật, rồng trên bệ đá hình hoa sen, rồng trong lá sen… vì vậy có thể nói rằng con rồng thời Lý có mối quan hệ với Phật giáo.

Rồng gắn với lá đề

Cây bồ đề dịch âm tiếng Phạn là bodhidruma hoặc bodhivrksa hay còn dịch là giác thụ, đạo thụ. Tương truyền đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến gốc cây tất bát la ngồi kết già phu tọa và xây dựng nên các giáo lý chủ yếu của Phật giáo là Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên… Tín đồ Phật giáo coi cây bồ đề là cây tốt lành.

Trong mỹ thuật thời Lý hình ảnh con rồng gắn với lá đề rất phổ biến, điều này càng chứng minh con rồng thời Lý có quan hệ mật thiết với Phật giáo.
 
Rồng gắn với chùa chiền

Ở các ngôi chùa hình tượng con rồng xuất hiện ở nhiều nơi như trên nóc, trên kèo cột, trên cầu thang… mỗi thời hình tượng rồng lại có một phong cách khác nhau.

Ngôi chùa điển hình của Việt Nam là chùa Diên Hựu, được xây từ thời vua Lý Thánh Tông gắn với giấc mộng gặp Quan Âm ngồi trên tòa sen đến dẫn vua lên đài. Ngôi chùa được xây theo hình một bông sen nở nghìn cách làm tòa sen của Quan Âm.

Trên nóc ngôi chùa thường bao giờ con rồng cũng mang đặc điểm của triều đại nó được xây, và chùa một cọt cũng vậy. nhưng sau nhiều lần tu sửa hiện nay ta thấy trên nóc ngôi chua là con rồng thời Nguyễn với kiểu song long triều nguyệt.

4. Kết luận

Như vậy chúng tôi có thể khẳng định rằng con rồng xuất hiện từ thời Lý với truyền thuyết dời đô của Lý Công Uẩn. Con rồng thời Lý có những nét khác biệt với con rồng của các thời sau, điều này được phản ánh qua các bộ phận trên cơ thể của nó như đầu, thân, chân.

Con rồng thời Lý có mối quan hệ chặt chẽ với Phật giáo, nó đi liền với các hình tượng của Phật giáo như đức Phật, hoa sen, lá đề, chùa chiền… điều đó cũng phần nào thể hiện hệ tư tưởng của thời Lý, một thời đại coi Phật giáo là quốc đạo.

Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra ở đây là: con rồng có phải ở thời kỳ nào cũng đều gắn liền với Phật giáo hay không? Nếu có thì ở triều đại nào? Nếu không thì từ triều đại nào con rồng bắt đầu thoát khỏi ảnh hưởng của Phật giáo?

Lý Viết Trương
Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 4 năm 2014
-
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Hiệu, Từ hình tượng thực của con rồng Việt Nam đến tên Lạc Long Quân trong tiếng Việt, Tạp chí Khảo cổ học, Số 2, 1983.
2. Hoàng Văn Khoán, Nguồn gốc con rồng, Thông báo Khoa học, Số 2, 2013.
3. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Tập I, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội, H.2011.
4. Hoàng Lương, Bàn góp thêm vấn đề Tô – Tem của người Việt nguyên thủy, KCH, Số 5, Tháng 7 năm 1959.
5. Phạm Huy Thông, Về gốc tích con rồng, Tạp chí Khảo cổ học, Số 1 – 2, 1988.
6. Phạm Huỳnh Hương Trang, Rồng và tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam, Tuổi trẻ Chủ nhật, Số 12, 2001.
7. Trang http://www.hoangthanhthanglong.vn/gach-ngoi-thoi-ly/1348, cập nhật ngày 20/06/2014.
8. Lê Thanh Tịnh, Một hướng tìm hiểu nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố “lạc”, Tạp chí khảo cổ học, số 19, năm 1976.
9. Chu Quang Trứ, Sáng giá Chùa xưa – Mỹ thuật Phật giáo, Nxb Mỹ thuật, 2012.
10. Chu Quang Trứ, Mỹ thuật Lý - Trần, Mỹ thuật Phật giáo, Nxb Mỹ Thuật, 2012.
11. Chu Quang Trứ, Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, 2 tập, 2002.
12. Lý Viết Trường, Ý nghĩa hoa Sen trong đạo Phật, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Số 2, 2014.
13. Lao Tử - Tịnh Lê, Từ điển Nho – Phật – Đạo, Nxb Văn học, 2001.
NCPH
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z