Thế nào là chánh niệm?
Ngày nay, thuật ngữ Chánh niệm được nhắc đến rất nhiều trong đời sống, giáo dục, tâm lý học và cả trong thực hành Phật giáo. Tuy nhiên, càng được sử dụng rộng rãi bao nhiêu thì chúng ta càng cần tìm hiểu kỹ, sâu về Chánh niệm.
Quả thật Chánh niệm càng ngày xuất hiện càng nhiều và có thể chúng ta nghĩ Đạo Phật nguyên thuỷ, gốc đang được sống lại trong thế giới ngày nay khi mà Đạo Phật tôn giáo tín ngưỡng đang quá phát triển, lấn án Đạo Phật lịch sử.
Trong giới nghiên cứu Phật học hiện nay, đa số học giả và truyền thống Theravāda giải thích sati không chỉ là “trí nhớ” mà là “khả năng nhớ và giữ đối tượng trong tâm để quan sát đúng như thật”. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần hiểu Niệm có gốc nghĩa là nhớ (không quên), từ đó phát triển thành năng lực ghi nhớ Chánh pháp và duy trì sự tỉnh giác đối với thân, thọ, tâm, pháp. Chúng ta cần bám sát ngữ nguyên và nên cùng tránh tranh luận học thuật không cần thiết.
Chánh niệm được hiểu với nghĩa quan trọng là chú tâm? chú ý, sự tập trung, sự nhận biết hiện tại hay trạng thái thư giãn của tâm. Những yếu tố ấy có liên hệ với Chánh niệm và cần thực hành hành ngày, thậm chí trong từng công việc, mỗi phút giây.
Khi học và tu tập, chúng ta cũng cần đối chiếu với kinh điển Nikāya để hiểu đầy đủ ý nghĩa nguyên thủy của thuật ngữ này. Điều này vô cùng quan trọng. Ngay cả lúc này chúng ta cũng cần chú tâm đọc những dòng này!
Niệm là gì?
Trong kinh điển Nikāya, từ Pāli là sati, thường được dịch là Niệm.
Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta, Trường Bộ Kinh), Đức Phật mô tả người có niệm là người: “Có niệm, có tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu ở đời.”
Các bản chú giải cổ giải thích rằng sati có đặc tính là không quên, là khả năng ghi nhớ và duy trì điều đã được học, đã được nhận thức đúng đắn.
Tương tự, trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật định nghĩa: “Vị Thánh đệ tử là người có niệm, thành tựu tối thắng về niệm và tuệ, nhớ được và tùy niệm được việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu.”
Như vậy, xét theo nghĩa gốc, Niệm có liên hệ mật thiết với khả năng ghi nhớ, không quên, duy trì trong tâm những điều đã được học và đã được nhận thức đúng đắn.
Nếu dùng ngôn ngữ thuần Việt, có thể nói: Niệm là chú tâm và ghi nhớ để nhớ được những gì đã thấy, nghe, cảm nhận.
Tuy nhiên, đây không phải là trí nhớ đơn thuần theo nghĩa thông thường, mà là năng lực nhớ và duy trì đúng đối tượng cần được ghi nhớ trên con đường tu học.
Chánh niệm là mạch sống của người tu?

Chánh niệm và Tà niệm
Vì Niệm là nhớ, nên không phải mọi sự nhớ đều là Chánh niệm.
Trong Bát Chánh Đạo, Đức Phật dạy về Chánh niệm (Sammā-sati) như một chi phần đưa đến giác ngộ giải thoát. Ngược lại, những loại ghi nhớ khiến tham, sân, si tăng trưởng thì không thuộc Chánh đạo.
Do đó có thể phân biệt: Chánh niệm là chú tâm ghi nhớ, duy trì và thường xuyên làm sống lại những điều chân chánh, đưa đến ly tham, ly sân, ly si.
Còn tà niệm là ghi nhớ và nuôi dưỡng những điều làm tăng trưởng tham ái, sân hận, si mê và khổ đau.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật dạy rằng những pháp thiện cần được ghi nhớ, tu tập và làm cho sung mãn; những pháp bất thiện cần được từ bỏ.
Điều làm cho một niệm trở thành Chánh hay Tà không phải chỉ là hành vi nhớ, mà chính là nội dung được nhớ đến.
Chánh niệm là nhớ điều gì?
Theo kinh Nikāya, Chánh niệm là nhớ và duy trì trong tâm những sự thật mà Đức Phật đã khám phá và chỉ dạy.
Đó là nhớ kỹ và nhớ rằng tham ái đưa đến khổ đau. Sân hận thiêu đốt chính mình. Các pháp là vô thường. Chấp thủ là nguyên nhân của khổ. Buông bỏ đưa đến an lạc. Con đường Bát Thánh Đạo đưa đến giác ngộ giải thoát.
Trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật thường dạy các Tỳ-kheo sống với sự quán sát thân, thọ, tâm, pháp để không quên sự thật về các hiện tượng đang sinh khởi và hoại diệt.
Khi một người nhớ rằng sân hận chỉ làm tâm bất an; Tham ái dẫn đến khổ đau; Mọi hiện tượng đều vô thường, thì chính sự ghi nhớ ấy giúp họ không bị cuốn theo các phản ứng bất thiện. Đó là tác dụng thực tiễn của Chánh niệm.
Tà niệm là gì?
Tà niệm cũng là một hình thức ghi nhớ. Nhưng đó là sự ghi nhớ những điều khiến phiền não tăng trưởng.
Ví dụ, nhớ mãi những lời xúc phạm để nuôi dưỡng hận thù. Nhớ các khoái lạc đã qua để tiếp tục tìm cầu dục lạc. Nhớ các kế hoạch tranh hơn thua thiệt. Nhớ những lời tán dương để nuôi lớn ngã mạn.
Những ký ức ấy có thể rất rõ ràng. Người ấy có thể rất tập trung. Có thể rất tỉnh táo. Nhưng nếu nội dung được duy trì trong tâm làm tăng trưởng tham, sân, si thì đó không phải Chánh niệm theo ý nghĩa Đức Phật giảng dạy.
Hiểu đúng về Chánh niệm
Ngày nay, nhiều người định nghĩa Chánh niệm là sống trong hiện tại. Biết rõ điều đang xảy ra. Chú tâm không phán xét. Nhận biết từng khoảnh khắc.
Những mô tả này phản ánh một phần kinh nghiệm thực hành, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì vẫn chưa đầy đủ.
Bởi vì biết hiện tại chưa chắc là biết đúng. Chú tâm chưa chắc đưa đến đoạn tận phiền não. Tập trung cao độ chưa chắc là Chánh niệm.
Một người đánh bạc, một tay thiện xạ hay một kẻ trộm, một kẻ câu cá bắn chim cũng có thể rất tập trung. Nhưng sự tập trung ấy không phải Chánh niệm.
Theo tinh thần Nikāya, Chánh niệm luôn gắn liền với Chánh kiến và Chánh tư duy trong Bát Thánh Đạo. Nó không phải là một kỹ thuật trung tính, mà là một năng lực tâm hướng đến giác ngộ giải thoát.
Tứ Niệm Xứ – Con đường độc nhất
Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Trường Bộ Kinh 22) và Kinh Niệm Xứ (Trung Bộ Kinh 10), Đức Phật tuyên bố: “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ.”
Bốn niệm xứ gồm:
1. Quán thân trên thân.
2. Quán thọ trên các cảm thọ.
3. Quán tâm trên tâm.
4. Quán pháp trên các pháp.
Có thể hiểu rằng người tu học cần thường xuyên chú tâm, ghi nhớ, quan sát và duy trì chánh tri kiến đối với thân, thọ, tâm và pháp. Nhờ vậy, tâm không bị cuốn trôi bởi vô minh mà dần dần phát sinh trí tuệ giải thoát.
Kết luận cho hôm nay:
Chánh niệm không chỉ là sự chú tâm. Chánh niệm không chỉ là sống trong hiện tại. Chánh niệm cũng không đơn thuần là một phương pháp thư giãn hay giảm căng thẳng. Theo tinh thần kinh điển Nikāya, Chánh niệm là năng lực chú tâm và không quên Chánh pháp, là sự ghi nhớ và duy trì những điều chân thật mà Đức Phật đã dạy để đoạn trừ tham, sân, si và chấm dứt khổ đau.
Khi Chánh niệm được nuôi dưỡng thì tham giảm dần; Sân lắng xuống; Si mê được soi sáng bởi trí tuệ. Và chính trên nền tảng ấy, con đường giác ngộ giải thoát mà Đức Phật chỉ dạy mới thực sự được mở ra trong đời sống của mỗi người. Thật sự là vậy!
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Thế nào là chánh niệm?
Phật giáo thường thứcNgày nay, thuật ngữ Chánh niệm được nhắc đến rất nhiều trong đời sống, giáo dục, tâm lý học và cả trong thực hành Phật giáo. Tuy nhiên, càng được sử dụng rộng rãi bao nhiêu thì chúng ta càng cần tìm hiểu kỹ, sâu về Chánh niệm.
Hai anh em Bồ Tát và câu chuyện chữa lành nơi chùa Việt
Phật giáo thường thứcVì sao nhiều ngôi chùa Việt vừa là nơi lễ Phật, vừa là nơi bốc thuốc cứu người? Đằng sau đó là bóng dáng Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát - biểu tượng của tình anh em bước ra từ hạnh nguyện chữa lành thân và tâm.
Giữ vững tâm nguyện
Phật giáo thường thứcTheo tinh thần Kinh Đại Bảo Tích, người bước đi trên con đường Bồ-tát không chỉ tu tập để chuyển hóa chính mình mà còn phát tâm giúp người vơi bớt khổ đau.
Cử bát cúng dường trong thời quá đường mang ý nghĩa gì?
Phật giáo thường thứcTrong các khóa lễ trai tăng, lễ an cư kiết hạ hay những dịp cúng dường chư Tăng, Phật tử thường thấy nghi thức cử bát cúng dường được thực hiện một cách trang nghiêm trước giờ thọ trai.














