Phật Giáo

Thiền sư Pháp Thuận với bài thơ Quốc Tộ

Thứ năm, 03/01/2019 | 15:19

Tuy có nhiều kiến giải khác nhau nhưng xem ra cho đến nay Quốc tộ của Thiền sư Pháp Thuận là bài thơ nhận được sự đồng thuận cao trong giới nghiên cứu xem là tác phẩm tiên phong cho nền văn học viết thời trung đại ở Việt Nam.

>NHỮNG NHÂN VẬT PHẬT GIÁO NỔI BẬT

Theo sách Thiền Uyển Tập Anh, Thiền sư Pháp Thuận ở chùa Cổ Sơn, quận Ải, không rõ quê. Sư họ Đỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, rõ việc đương thời. Từ nhỏ đã xuất gia thờ sư Phù Trì chùa Long Thọ. Khi đã đắc pháp, nói ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ. Thời bấy giờ nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, sư tham gia đắc lực việc trù định kế sách. Khi thiên hạ thái bình sư không nhận phong thưởng. Hoàng đế Lê Đại Hành kính trọng sư, thường đem việc văn thư giao phó.

Chỉ với mấy câu kệ thơ, Thiền sư Pháp Thuận đã để lại cho nền văn học nước nhà một tác phẩm mang nhiều giá trị tư tưởng học thuật, tư tưởng chính trị, cùng thái độ hành xử của tu sỹ; vừa không đánh mất phẩm cách của sa môn, vừa giúp được vua, giúp được nước. Ảnh minh họa

Chỉ với mấy câu kệ thơ, Thiền sư Pháp Thuận đã để lại cho nền văn học nước nhà một tác phẩm mang nhiều giá trị tư tưởng học thuật, tư tưởng chính trị, cùng thái độ hành xử của tu sỹ; vừa không đánh mất phẩm cách của sa môn, vừa giúp được vua, giúp được nước. Ảnh minh họa

Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), người Tống là Lý Giác sang sứ, vua sai sư cải trang làm quan coi bến để theo dõi hành động của y. Gặp lúc có hai con ngỗng bơi trên sông, Giác ngâm rằng:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện huống thiên nha.

(Nga nga một cắp nga

Ngước mắt ngó chân trời).

Sư đang cầm chèo ngâm theo cho đủ bài thơ tứ tuyệt:

Bạch mao phô lục thuỷ

Hồng trạo bãi Thanh Ba.

(Lông trắng phơi nước biếc

Sóng xanh chân hồng bơi).

Giác vô cùng thán phục, về sứ quán làm thơ gửi tặng sư. Thuở đó vua thường đem vận nước ngắn dài hỏi sư. Sư đáp bằng bài thơ "Quốc Tộ" (Vận nước).

Phiên âm:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lí thái bình

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh

Dịch nghĩa:

Vận nước như dây mây leo quấn quýt

Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình

Vô vi ở nơi cung điện,

[Thì ] khắp mọi nơi đều tắt hết binh đao.

Dịch thơ:

Vận nước như mây quấn,

Trời Nam mở thái bình.

Vô vi cư điện các,

Chốn chốn dứt đao binh.

Theo bản dịch của Đoàn Thăng (Thơ văn Lí - Trần, tập I, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1977)

Theo Thiên Uyển Tập Anh, Pháp Thuận là một nhà bác học, giỏi về nghệ thuật, thi ca, có tài năng phụ tá nhà vua trong việc chính trị, thông hiểu về tình hình thực tại của đất nước. Pháp Thuận là người vừa thảo văn thư ngoại giao, vừa trù định chính sách cho nước. Do vậy, ta biết lý do tại sao vua lại hỏi Pháp Thuận về "Vận nước" và sư đã trả lời bằng thơ kệ.

Bài liên quan

Theo các sử gia thì bài kệ thơ này được làm sau biến cố Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết vào năm 979, tiếp đến là biến cố nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo mang quân tiến vào nước ta năm 981. Rõ ràng vận nước lúc bấy giờ rất rối ren. Nhưng với cái nhìn sắc sảo về nhân quả của một vị Thiền sư lỗi lạc, Pháp Thuận đã gợi ý cho nhà vua một phương sách ổn định nhân tâm và quốc độ.

Ta có thể đi sâu để hiểu nghĩa, những từ khó trong bài kệ thơ. "Dây quấn"  (đằng lạc) vừa nói về tình hình rối ren như dây leo quấn chằng chịt không tìm ra đầu mối của nhân quả tương quan, vừa gợi ý sự đoàn kết của toàn dân, vua quan từ hình ảnh một bó cây bền chắc trước hiểm hoạ ngoại xâm.

"Vô vi cư điện các", chữ vô vi này rõ ràng không còn mang ngữ nghĩa vô vi của Lão Tử mà cũng không là hoàn toàn thuật ngữ Phật học với ý nghĩa rỗng rang, giải thoát. Vô vi ở đây đã trở thành một khái niệm tổng hợp cả ba nền tư tưởng Nho - Phật - Lão. Nhà sư khuyên vua và Triều đình phải sống đời trung chính, đạo đức hiền thiện, thuận theo lẽ tự nhiên, đừng nhũng nhiễu, hao phí tài lực của lê dân... để noi gương cho bá tính. Khi triều đình sống được như vậy và nhân dân một lòng đoàn kết thì xứ xứ sẽ không còn đao binh và trời Nam sẽ thái bình thịnh trị.

Bài thơ thể hiện cái nhìn đầy lạc quan về vận nước, một tiên đoán về tương lai của đất nước. Ảnh minh họa

Bài thơ thể hiện cái nhìn đầy lạc quan về vận nước, một tiên đoán về tương lai của đất nước. Ảnh minh họa

Bài liên quan

Chỉ với mấy câu kệ thơ, Pháp Thuận đã để lại cho nền văn học nước nhà một tác phẩm mang nhiều giá trị tư tưởng học thuật, tư tưởng chính trị, cùng thái độ hành xử của tu sĩ; vừa không đánh mất phẩm cách của sa môn, vừa giúp được vua, giúp được nước. Là một người đã cống hiến nhiều cho đất nước, nhưng về già, nhà sư đã từ chối lộc hàm, tìm chỗ sơn thuỷ để tĩnh cư.

Từ những bài thơ còn lại ít ỏi của một thời, ta cũng có thể hình dung được diện mạo văn học thời Đinh - Lê, tuy mới lập quốc, nhưng đâu phải vì vậy mà văn hoá, văn phong, tư tưởng không nội hàm một sinh lực với giá trị tâm linh lâu đời. Và nếu, giả sử không có Phật giáo, không có các nhà sư trí thức với tâm hồn lớn rộng, với cái trí thấy xa ngàn dặm, với cái biết ưu thời mẫn thế như Khuông Việt, như Pháp Thuận thì các triều đại này biết nương tựa vào ai?

Thanh Tâm (Tổng hợp)
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z