Tịnh Độ với những pháp hành căn bản
Những ai đang tu pháp môn Tịnh Độ, mà không nắm vững các quy tắc căn bản của Tịnh Độ, không ý thức việc nghiêm trì sáu căn, ba nghiệp thì dù có đọc tụng thiên kinh vạn quyển cũng chẳng ích lợi bao nhiêu.
> HT.Thích Trí Tịnh và pháp tu Tịnh Độ
Nhiều người cho rằng, tu Tịnh Độ chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn, đó là một thiếu sót. Tịnh Độ bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, thiếu tự lực thì không thể được nhất tâm, không nhất tâm thì làm sao chiêu cảm được với chân tâm của chư Phật.
Còn một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ này nọ đó là tham lam, mà đã tham lam thì làm sao có kết quả được! Người tu Tịnh Độ không cần xin gì khác ngoài việc vãng sanh về cõi Tây Phương. Mọi người phải nhớ rõ điều này. Và hôm nay, tôi trình bày chi tiết một phương pháp thực tập căn bản của Tịnh Độ về việc nghiêm trì sáu căn, ba nghiệp cho thanh tịnh, để được nhất tâm trong lúc niệm Phật.
- Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi hành lễ, phải biết giữ sao cho mắt đừng nhìn ngang nhìn dọc, vì ngoại cảnh lọt vào mắt dễ làm cho tâm sinh loạn tưởng. Phải làm chủ con mắt, chỉ chăm chú nhìn lên tượng Phật hoặc giữ gìn hình ảnh của đức Phật trong tâm mà thôi. Nhiều người tuy miệng niệm Phật mà mắt vẫn nhìn quanh, rồi sinh tâm vọng động, nghĩ ngợi, lo lắng đủ thứ thì làm sao có thể nhất tâm cho được!
Thay vì để cho tâm điên đảo, vọng tưởng, nghĩ ngợi lung tung, người hành lễ phải chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A-di-đà.
Tây phương Tịnh độ và Phật A Di Đà có thật hay không?
Khi hành lễ, phải biết chú tâm vào những câu kinh, tai phải nghe thật rõ từng câu, từng chữ, từng danh hiệu Phật. Niệm đến đâu phải biết đến đó. Niệm một câu biết một câu, niệm mười câu biết mười câu, chứ không lẫn lộn hoặc lầm lạc. Phải biết chuyên chú niệm Phật, đừng để cho tai nghe những tiếng động khác chung quanh mà làm cho tâm ý vọng động.
Cũng tương tự như thế, phải hoàn toàn làm chủ các căn khác như mũi, lưỡi, thân, ý không cho chúng lọt ra ngoài sự kiểm soát của tâm. Không còn loạn tưởng, không còn vọng động thì đó chính là chánh niệm rồi. Chánh niệm khi tu Tịnh Độ có khác gì an tâm lúc tu Thiền đâu.
- Ba nghiệp là thân, khẩu và ý. Phải biết khắc phục thân nghiệp. Khi hành lễ, phải giữ thân thể ngay ngắn, ngồi thẳng lưng. Đứng lên ngồi xuống phải vững chắc, đừng xiêu vẹo. Khi lạy xuống, phải giữ cho đầu, hai tay, hai chân sát xuống đất (ngũ thể đầu địa) thật cung kính. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi công phu thực tập chuyên cần, không khác công phu thiền tọa của Thiền tông bao nhiêu.
Phải biết khắc phục ý nghiệp. Phải tập trung tư tưởng, chí tâm chí thành, không vọng tưởng hay xin xỏ điều gì, mà chỉ thiết tha mong vãng sinh về Cực Lạc.
Nhị thừa, căn thiếu và nữ căn có cầu sanh Tịnh Độ được không?
Phải biết khắc phục khẩu nghiệp bằng cách sử dụng miệng lưỡi để tán thán công đức Tam Bảo, đọc tụng kinh chú một cách thành kính, nghiêm trang, không ngừng nghỉ. Phải tập thói quen chỉ dùng miệng lưỡi để nói những điều lành, lợi ích cho muôn loài chúng sanh mà thôi. Trong lúc hành lễ, không được nói chuyện gì khác mà chỉ chuyên tâm niệm Phật.
Phải biết khắc phục ý nghiệp. Phải tập trung tư tưởng, chí tâm chí thành, không vọng tưởng hay xin xỏ điều gì, mà chỉ thiết tha mong vãng sinh về Cực Lạc. Các bạn nên nhớ, các nghiệp chướng vẫn tích tụ trong tâm. Khi lễ Phật, tâm yên tĩnh nó sẽ phát động, nảy sinh biết bao ý tưởng triền miên, hết điều này đến điều khác, ngăn trở công phu luyện tập. Trong ba nghiệp thì ý nghiệp nặng nhất, ít ai có thể kiểm soát được, nên người hành lễ phải trông nhờ vào tha lực của chư Phật hộ trì cho.
Ngoài ra, không phải chỉ khi hành lễ ta mới giữ cho sáu căn, ba nghiệp được thanh tịnh, mà lúc nào ta cũng có thể ý thức và làm chủ được nó trong mọi hoàn cảnh. Phải làm sao để cử chỉ, lời nói đều trang nghiêm, thanh tịnh, giữ tâm sáng suốt để quán tưởng về cõi Tây Phương. Được thế thì có khác gì trạng thái ung dung tự tại của người tu Thiền đâu?
Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư nghì, nếu người tu nhất tâm trì tụng có thể khắc phục được ý nghiệp.
Ý nghĩa Vãng sinh Tịnh độ thần chú
Nói một cách khác, trong Tịnh bao gồm cả Thiền lẫn Mật, bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, vừa ý thức hành vi cử chỉ của mình, vừa tha thiết niệm hồng danh Phật để cầu vãng sanh. Thay vì để cho tâm điên đảo, vọng tưởng, nghĩ ngợi lung tung, người hành lễ phải chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A-di-đà.
Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư nghì, nếu người tu nhất tâm trì tụng có thể khắc phục được ý nghiệp. Khi ba nghiệp thanh tịnh, sáu căn thâu nhiếp được nhất tâm thì trí tuệ sẽ sáng suốt và chắc chắn được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Đó chính là điểm then chốt mà mọi người cần phải để ý cho kỹ.
Nam mô A-di-đà Phật.
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Những công năng khi trì niệm Chú Dược Sư
Kiến thứcBổn nguyện của Dược Sư Như Lai là trị tất cả trọng bệnh phiền não vềthân và tâm của chúng sinh, cứu độ chúng sinh ra khỏi sinh tử khổ đau.
Bài sám tụng ngày lễ Phật Đản
Kiến thứcMỗi khi quỳ trước Phật đài tụng bài sám Phật Đản, chúng ta thấy rõ lòng mình hơn, nhìn sâu cuộc đời mình hơn và quán chiếu về thân phận của mình nhiều hơn. Điều này có nghĩa, mỗi lần tụng sám Phật Đản là mỗi lần chúng ta nhìn lại quảng đường tu tập của mình.
Truyện cổ Phật giáo: Em bé cúng hoa
Kiến thứcLúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Khi ấy Phật cùng với chư tỳ-kheo đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ hóa trai. Đến ngõ hẻm kia gặp một người phụ nữ ẵm đứa con nhỏ.
Tắm Phật có công đức như thế nào?
Kiến thứcLễ Mộc Dục (Tắm Phật) là một nghi lễ quan trọng không thể thiếu trong các chương trình chào đón Đại Lễ Phật đản hằng năm. Theo kinh quá khứ hiện tại nhân quả, nguồn gốc của lễ tắm Phật xuất phát từ sự kiện Đản sanh của Thái tử Tất-đạt-đa tại vườn Lâm-tỳ-ni.
Xem thêm














