Phật Giáo

Về chùa Cổ Pháp dâng cây Sa la

Thứ năm, 29/10/2014 | 11:43

Năm ngoái, trong chuyến đi du lịch đến đền Angkor Wat, dừng chân ở cung điện Campuchia, gia đình nhà văn Hoàng Quốc Hải mua được 2 cây Sa la. 

Sau suốt một năm trời chăm sóc, vun xới, tưới tắm và truyền năng lượng yêu thương, từ một cây bé tí xíu, chỉ cao chừng 1 gang tay, nay đã lớn phổng lên đến 7 - 80cm, lá xanh mướt, tán lá thon dài chừng 20 - 25cm, gần giống cây lộc vừng (họ lộc vừng). Đây là giống cây thân gỗ, cao chừng 30 - 40m, thân cây có thể to chừng 1 đến vài người ôm, hoa nở sắc màu đỏ tươi nhìn rất đẹp, lạ mắt. Trong thâm tâm phát nguyện, sẽ có một ngày cây cao cao lên chút, cứng cáp, nhà văn sẽ dâng lên chùa Cổ Pháp 1 cây.
   
Còn nhớ trong kinh Phật, có hai loại cây được xem là linh thiêng và thường được nhắc đến nhiều là cây Bồ đề và cây Sa la. Dưới gốc cây Bồ đề, thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành Phật sau 49 ngày đêm thiền định. Dưới cây Sa la ở vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), đức Phật đản sinh và Ngài cũng nhập diệt dưới cây Sa la tại Câu Thi La (Kusinara).

Theo tục lệ, khi chuẩn bị đến kỳ “mãn nguyệt khai hoa”, Hoàng hậu Maya cùng với đoàn tùy tùng về nhà cha mẹ đẻ của mình để sinh. Dọc đường, trở dạ, bà dừng chân nghỉ dưới gốc một cây Sa la ở khu rừng Lumbini, ngoại thành Kapilavatthu, thuộc nước Nepal ngày nay. Cơn đau đẻ ập đến, bà tìm nơi bấu víu và cây Sala liền nghiêng cành xuống cho bà vịn. Hoàng hậu vừa vin cây thì cậu bé Siddharta (Tất Đạt Đa) ra đời và sau này đã tu luyện giác ngộ trở thành đức Phật
Cây Sa la
Khi biết mình sắp viên tịch, Phật hành trình đến đền Càpàla, xứ Vesàli làm lễ, rồi di chuyển thêm một lộ trình khá dài đến tiếp Kusinàra. Mặc dù bị bệnh khá nặng nhưng Phật vẫn kiên quyết đi bộ, vượt sông đến rừng Sa la, xứ Kusinàra. Đoạn đường này dù chỉ có chừng 9km nhưng Phật phải đi mất khoảng 3 tuần, dừng nghỉ đến 25 lần vì bệnh và mệt. 

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ I), Phật dạy: “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn, này Ananda, đó là Thánh tích, người thiện tín cần chiêm ngưỡng và tôn kính”. Như vậy, đến Kusinàra để nhập diệt là mục đích của Phật. Ngay cả Tôn giả Ananda cũng ngạc nhiên, thắc mắc về việc này: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé, hoang vu và phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm Bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá Vệ)…, Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy”.
Khu vườn cây Sa la ở Kusinàra nơi đức Phật nhập Niết bàn
Cũng nhờ sự thắc mắc này, Thế Tôn giải thích rằng, sở dĩ chọn Kusinàra để diệt độ vì đây là nơi Ngài đã xả bỏ thân mạng trong quá khứ. “Ta đã từng sáu lần làm Chuyển luân Thánh vương và bỏ xác tại đây, nay Ta thành Vô thượng Chánh giác lại cũng muốn bỏ xác tại đây” (Kinh Du Hành, Trường A Hàm I; Kinh Đại Thiện Kiến Vương, Trung A Hàm II).

Theo ngài Narada, “Đức Phật chọn Kusinàra để nhập diệt vì ba lý do. Lý do đầu tiên là để thuyết bài pháp Mahàsudasana Sutta nhằm khuyến khích đời sống đạo hạnh. Thứ nhì là để dẫn dắt Subhadda, người đệ tử cuối cùng của Ngài, vì ngoài đức Phật ra không ai có thể cảm hóa được vị này. Thứ ba là để cho vị Bà la môn Dona có thể phân chia Xá lợi của Ngài một cách êm thắm giữa những người sùng mộ Ngài” (Đức Phật và Phật pháp, tr.225).

Như vậy, Sa la là cây thiêng (linh thọ) trong Phật giáo, giống như cây Bồ đề. Lúc ngài Huyền Trang (trong phim Tây Du Ký) đến Kusinàra chiêm bái, rừng Sa la chỉ còn bốn cây, hiện nay còn lại hai cây là những chứng tích thiêng liêng. Do đó, trồng cây Sa la để ngưỡng vọng Thế Tôn, hướng về Thánh tích, nhất tâm hướng tới Niết bàn là chuyện người đời sau nên làm.

Trên đây là đôi nét khái quát về ý nghĩa của cây Sa la. Về phần gia đình nhà văn, sau nhiều ngày mong đợi, cuộc hành hương về nguồn đã sẵn sàng. Nhằm ngày mùng một tháng 9 nhuận năm Giáp Ngọ 2014, nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng - vợ nhà văn và tôi, người viết bài tản văn này, đã về chùa Cổ Pháp - Từ Sơn - Bắc Ninh dâng cây. 

Cách đấy mấy hôm, tôi đã gọi điện trước cho Sư cô Đàm Dung, trụ trì chùa Cổ Pháp để hẹn lịch và được biết, chùa đã có một cây Sa la, nhưng phải trồng đi trồng lại tới mấy lần mới sống được. Nay được tin chúng tôi về dâng cây Sa la thì lòng vui mừng khôn xiết. 

Khoảng 10h30, chúng tôi đã có mặt ở sân chùa, Sư cô Đàm Dung ra tận xe đón đoàn. Tôi cùng Sư cô trân trọng bê cây Sa la ra cạnh lư hương trung thiên, đặt ở trước cửa thềm dẫn vào ban Tam bảo, trước sự chứng minh Chư Phật mười phương, các vị thiên thần, thiện thần, nhân thần, các vị tiên liệt của dòng tộc họ Lý. Cả đoàn cung kính chắp tay búp sen niệm Phật, một lòng thành kính hướng tới cõi Phật và tổ tiên, hướng tới vị vua Lý Thái Tổ anh minh, khai sinh ra vương triều Lý rạng rỡ sử sách.

Còn nhớ tháng 11 Âm năm ngoái, chúng tôi đã cùng với nhà văn Hoàng Quốc Hải về nơi đây dâng bộ “Tám triều vua Lý” như để báo đáp công ơn và tri ân công đức vô lượng của tổ tiên dòng họ Lý. Chủ - khách gặp nhau mừng mừng tủi tủi, cái cảm giác ấm áp, thân tình và gần gũi như trở về ngôi nhà của mình năm xưa.

Chính nơi đây, cụ Lý Công Uẩn đã được vị thiền sư Lý Khánh Văn, trụ trì ngôi chùa này nuôi dạy khi mới 3 tuổi. Thấm thoắt mà đã gần ngàn năm.

Sau lễ dâng hương ở ban Tam Bảo, đoàn xuống nhà thờ Mẫu để trình. Điều kì lạ là ở nơi đây có thờ tượng đức Thánh Trần (Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn). Tôi buột miệng hỏi Sư cô: “Các cụ dòng họ Lý cũng cho phép đặt tượng nhà Ngài ở đây ạ”? Sư cô hoan hỉ đáp lễ: - Đồng ý chú Tâm Pháp ạ. Cuối năm ngoái, vào ngày 18-19/10/2013 (Âm lịch), chính tại ngôi chùa Cổ Pháp này đã diễn ra đại Lễ cầu siêu và hóa giải giữa hai dòng họ Lý - Trần. Mọi oan trái, thù hận cần phải được xả bỏ. Hóa giải và yêu thương, cùng chung tay xây đắp đất nước ngày một giàu đẹp là trách nhiệm của mỗi con cháu chúng ta. Ấy cũng là tinh thần đạo pháp và dân tộc. Trước cửa Phật thanh tịnh giờ chỉ còn Từ - Bi - Hỉ - Xả mà thôi. Chúng tôi thành kính chắp tay trước linh ảnh đức Trần triều mà không khỏi bùi ngùi về vụ thảm sát kinh hoàng con cháu tôn thất dòng họ Lý ở Bãi Sập, Hoa Lâm, Đông Anh, Hà Nội, năm 1232.

Xuống nhà thờ Tổ, đoàn tri ân công đức các vị thiền sư đầu triều Lý, các vị tiên liệt, các vị thiền sư khai sáng và gìn giữ chánh pháp ở ngôi chùa này và xin các Ngài chứng minh tấm lòng thành kính của đoàn chúng tôi.

Buổi trưa, đoàn thọ trai với nhà chùa, hai bên vừa dùng cơm vừa nói cười vui vẻ. Tiết trời cuối thu thật dễ chịu. Bầu trời trong xanh, cái gió heo may hiu hiu thổi, thi thoảng cái ngát hương của hoa trong khu vườn chùa lại ập vào khiến tâm trạng chúng tôi thật an lành, thư thái đến khó tả.

Từ nay, chùa có thêm một cây Sa la nữa, được trồng đối xứng với cây Sa la hiện tại, ở sát mép khu vườn nối giữa gian thờ Tam bảo và thiền đường. Mai mốt, cả hai cây sẽ đua nhau mà lớn, mà tỏa bóng mát, mà nở hoa và kết trái để che chở cho những ai muốn tọa thiền dưới gốc cây linh thiêng này, gắn liền với sự đản sinh và nhập diệt của đức Bổn sư Thích ca Mâu ni. Ngồi trong nhà thiền đường, nhâm nhi ly nước hoa hòe, vừa ăn mít nhà chùa vừa phóng tầm mắt ra khu sân vườn trước mặt mà lòng không khỏi dưng dưng xúc động. Nhớ tới cây Sa la nơi đức Phật sinh ra, cũng như là nhớ tới mảnh đất chôn rau cắt rốn. Nhớ để bảo vệ gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc mình. Nhớ tới cây Sa la - nơi Phật nhập diệt, cũng là nhớ tới quy luật sinh tồn muôn thuở của tạo hóa. Giờ đây, cây Sa la đã bắt rễ vào mảnh đất Việt, như thể tiếp nối và dung dưỡng đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang. Nhớ là để “hóa thân vào dáng hình xứ sở, làm nên đất nước muôn đời”.

Tâm Pháp
Chùa Cổ Pháp, ngày 28/10/2014 (05/09/Giáp Ngọ)


 Đôi nét khái quát về chùa Cổ Pháp

Theo sử sách, chùa Cổ Pháp, thôn Đại Đình (thôn Nuốn), xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, được xây dựng từ thế kỷ VIII. Theo phong hóa của thời gian, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Bằng chứng của sự trùng tu đã được khắc trên chuông đồng của chùa như sau: “Chùa Cổ Pháp còn có tên là chùa Tương Giang, từ xưa đã có chuông. Sau sự biến Tây Sơn, chuông bị thất lạc. Mùa xuân năm Nhâm Dần (1842) những người hảo tâm trong làng cùng với khách thập phương góp tiền của đúc chuông cao hai thước năm tấc, rộng một thước bốn tấc, hoàn thành ngày 25 tháng 2...”.

Năm 1952, chiến tranh hủy hoại ngôi chùa và nhiều cây tháp cổ, nhân dân phải chuyển tượng Phật vào giữa làng để thờ cúng.

Mùa xuân năm Mậu Dần (1998) Thượng tọa Thích Thông Giác thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử cùng nhân dân thôn Đại Đình khởi công xây dựng lại chùa. Biết tin này, ngày 15 tháng 6 năm 1998, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Viện trưởng thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt - Phó Chủ tịch Hội đồng chứng minh Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam đã gửi thư động viên các phật tử và nhân dân thôn Đại Đình. Trong thư Hòa thượng còn viết các câu thơ, câu kệ của các vị thiền sư tiền bối đã từng trụ trì và có quan hệ với chùa Cổ Pháp như các vị thiền sư Định Không, La Quý An, Vạn Hạnh, Thưởng Chiếu, vua Lý Nhân Tông để nhân dân khắc lên nóc chùa và câu đầu Tam bảo. Ngày 19 tháng 6 năm đó, Hòa thượng Thích Thanh Tứ - Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự giáo hội Phật giáo Việt Nam đã về Đại Đình cùng nhân dân đặt nóc chùa. Sau đó, ngày 20 tháng 2 năm Kỷ Mão (1999) Hòa thượng Thích Thanh Từ từ Đà Lạt ra thăm chùa. Đến ngày 17 tháng 3 năm 1999, Hòa thượng Thích Thanh Sam, Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Bắc Ninh đã giúp nhân dân Đại Đình làm lễ an vị Phật.

Kể từ khi sư cô Đàm Dung về trụ trì chùa Cổ Pháp (2008), sắc diện ngôi chùa tới giờ đã thay đổi hoàn toàn, khuôn trang đã được định hình rõ ràng, có nhà thờ Tổ, thiền đường, nhà thờ mẫu, khu lăng mộ, khuôn viên cây xanh, đặc biệt là cây mít dai (trên 300 tuổi) đang hồi sinh mạnh mẽ, có quả thơm trái ngọt, múi mít vàng như mỡ gà, cùi dầy, ngọt sắc. Cảnh vật nơi đây đang ngày một tươi mới, uy nghiêm, như thể hồn thiêng sông núi, linh khí của trời đất đã hội tụ về nơi đây. Quả là xứng đáng với câu: “Địa linh dưỡng dục danh nhân kiệt/Thiên định sinh thành nghiệp đế vương” (Nghĩa là: Đất thiêng nuôi dạy người kiệt xuất/Trời định sinh ra bậc đế vương).

Đến trung tâm thị xã Từ Sơn, rẽ tay phải đường Lý Thái Tổ, đi theo hướng Đền Đô (nơi thờ 8 vị vua vương triều Lý), cách chừng 1km, tính từ đường quốc lộ 1A cũ, bên tay trái là ngôi chùa Cổ Pháp cổ kính, linh thiêng.

Tâm Pháp
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z