Phật Giáo

Giải mã Hệ thống Pháp nhân duyên Thánh lý Cứu khổ (P.2)

Thứ năm, 18/05/2016 | 13:39

Trong một hồ nước có những bông sen vượt lên khỏi mặt nước, có những bông sen vươn lên nửa chừng, nhưng cũng có những bông sen còn chìm ngập hoàn toàn dưới nước. Mỗi bông sen tùy theo cách thế của mình được hưởng ánh sáng mặt trời khác nhau.

2.1 Nhận thức nơi tu sĩ

Tiến trình của 12 CPND đã cho thấy từng mắt xích dẫn đến kết cuộc của khổ đau. Điều này có thể hình dung cuộc sống sanh y giống như một chuyến du hành trên con tầu định mệnh. Ta như một hành khách bước lên toa tầu, trong đó đã có những hành khách ‘Cha’ và ‘Mẹ’, chạy được một lúc lại có hành khách ‘Vợ’ hoặc ‘Chồng’ bước lên, rồi một lúc nữa lần lượt các hành khách ‘Con trai’, ‘Con gái’ bước lên.

Để rồi mọi việc không như ý chúng ta mong muốn. Vì chắc chắn phải tới lúc bắt buộc từng hành khách phải chia tay nhau bước xuống toa tầu và biến mất vào cõi vô định, để lại biết bao đau buồn cho những người ở lại. Sự việc phải như thế không thể khác được. Tất nhiên, bản thân Ta cũng phải chịu chung một số phận như vậy.

Nhưng, không phải chỉ có bấy nhiêu, đối với vị Tỳ-kheo đệ tử Phật còn phải ý thức rõ thêm: “Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết... các Ông chịu đựng con chết... các Ông chịu đựng con gái chết... các Ông chịu đựng tai họa về bà con... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của... Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.

Vì sao? Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sinh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành” (Trích bài kinh Nước Mắt, Tương Ưng tập 2, bài kinh số 179 = (TƯ2, 179) = [I.12.3])

Vị Tỳ-kheo quán xét kiếp nhân sinh hiện tại, đã thấy như thật muôn vẻ của khổ đau do quy luật vô thường của cuộc sống cũng vừa đủ để nhàm chán, từ bỏ, giải thoát những buộc ràng trước mắt và lâu dài. Trong thời Phật, có một Yama biến thành một vị Bà-la-môn nói với các Tỳ-kheo trẻ:

“- Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối” (TƯ1,117 = [Sd.16.21]).

Tuy còn trẻ tuổi nhưng các Tỳ-kheo đã ý thức rõ bản chất vô thường của ái dục và hệ lụy của cuộc đời nên đã trả lời: “Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu” (Sđd)

Các Tỳ-kheo về thưa lại với đức Phật và được Ngài dạy thêm:

“Ai thấy rõ khổ đau, 

Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng các dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng” (Sđd).

Một tu sĩ trẻ xuất gia khi chưa lập gia đình hãy quán sát kỹ và nhận thức thấu đáo hệ thống ngoại pháp 12 CPND để truy nguyên nguồn gốc và hệ quả của khổ đau, nhờ vậy sẽ tìm được câu trả lời dứt khoát cho lý tưởng ra đi tầm cầu giải thoát: trở về hoàn tục để rồi lại thực hiện chuyến du hành vui ít hệ lụy nhiều, hay quyết tâm tu hành để thoát khỏi vòng vây của khổ não?

Và một khi đã từ bỏ sanh y ra đi vì lý tưởng giải thoát khổ đau, trước sau vị Tỳ-kheo phải cố gắng thực hành trọn vẹn lý tưởng ấy, phải làm viên mãn mục đích chân chính của người xuất gia, ngay cho dù có phải chấp nhận khất thực để nuôi thân.

Vị Tỳ-kheo phải kiên cường chiến đấu chống lại tham - sân - si nhằm đạt tới giải thoát cuối cùng, bởi nếu không, người tu sĩ sẽ phải sống cuộc đời không ra đời, đạo không ra đạo, lúc ấy họ chẳng khác nào khúc cây cháy hai đầu ở giữa lại dính phân như lời dạy sau đây của đức Thế Tôn:

“- Này các Tỳ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỳ-kheo, khi nói: "Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống".

Này các Tỳ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ:

"Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra". Và như vậy, này các Tỳ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia.

Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỳ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng.

Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh” (TƯ3, 91= [Ve.7.80.18]).

Tiến trình của 12 CPND trên ngoại pháp cũng ví như Ta và những người thân yêu lênh đênh trên cùng một con thuyền giữa biển khơi. Chắc chắn sẽ có lúc chúng ta phải đối diện với biết bao đau thương khi một vị đồng hành ‘Cha’ hoặc ‘Mẹ’ hoặc cả hai bắt buộc bị rớt xuống biển mất hút. Rồi lại tới lượt các đồng hành ‘Vợ’ hoặc ‘Chồng’ hoặc ‘Con’ hoặc chính Ta cũng phải nhận lấy quy luật nghiệt ngã ấy. Một người có trí tuệ, có trách nhiệm với bản thân mình và những người thân sẽ phải tự hỏi: ‘Chẳng lẽ Ta và những người thân yêu phải bó tay chấp nhận kết cuộc đau thương như vậy sao?’

Đã có một người không cam nhận tấn bi kịch xảy đến cho mình, cho gia đình mình và cho mọi người nên đã lao mình xuống ‘biển khơi’ với tất cả sự cố gắng, nỗ lực và trí tuệ để tự mình tìm cho bằng được bến bờ giải thoát.

“Này các Tỳ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu.

Chư Tỳ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.

...Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn; tự mình bị bệnh... tìm cầu cái không bệnh...; tự mình bị chết... tìm cầu cái bất tử...; tự mình bị sầu... tìm cầu cái không sầu...; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn. Này các Tỳ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.

Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm.
 
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn; tự mình bị già... tìm cầu cái không già...; tự mình bị bệnh... tìm cầu cái không bệnh...; tự mình bị chết... tìm cầu cái bất tử...; tự mình bị sầu... tìm cầu cái không sầu...; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn.

Rồi này các Tỳ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà- sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ” (Kinh Thánh Cầu, TB1, 26 = [Sb.6])

- “Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ðời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Đại kinh Saccaka, TB1, 36 = [So.7.9])

Vị có chí hướng cao cả ấy cũng vốn là một thái tử nhưng đã dám từ chối cả ngôi vua, dám từ bỏ cả cung vàng điện ngọc, quyết tâm ra đi tìm chân lý tối thắng an tịnh đạo lộ. Sau sáu năm trời khổ hạnh, vượt qua biết bao những khó khăn trở ngại có lúc đến phải dở sống dở chết, cuối cùng vị ấy đã tìm ra mảnh đất an toàn vĩnh cửu để cứu mình, và hơn thế nữa, đã quay lại để cứu cho những người thân yêu và nhiều người khác nữa.

Vị ân nhân vô thượng ấy không ai khác hơn chính là đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Rõ ràng sự ra đi của đức Phật đã vĩ đại nhưng sự trở về của Ngài để cứu độ cho gia đình, cho hoàng tộc, cho mọi người còn vĩ đại hơn gấp nhiều lần.

- Đức Phật đã thực hiện trọn vẹn nhất trách nhiệm đối với bản thân khi đã tự cứu mình ra khỏi khổ đau ngay trong hiện tại và chấm dứt vĩnh viễn sanh tử luân hồi.

- Đức Phật đã là người con chí hiếu nhất khi đã giúp vua cha Tịnh Phạn, chứng Thánh quả Bất Lai, được hóa sanh tại đấy nhập Niết Bàn không còn khổ đau trong sanh tử.

- Đức Phật đã là người cha thâm ân nhất khi đã cứu con mình là La Hầu La, chứng Thánh quả A-la-hán, được an lạc ngay trong hiện tại và giải thoát vĩnh hằng.

- Đức Phật đã là người chồng ân nghĩa nhất khi đã cứu vợ mình là Da Du Đà La, trở thành Thánh ni A-la-hán, nhập Niết Bàn, vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau muôn kiếp.

- Đức Phật là vị ân sư vĩ đại nhất khi đã chỉ dạy con đường hạnh phúc, an lạc, giải thoát khổ đau cho tất cả chúng sinh.

Và tất nhiên, đức Phật sẽ không thể là đức Phật vô thượng, vô song, nếu Ngài không dũng trí đoạn dứt sợi dây luyến ái vi tế trói chặt Ngài và người thân yêu vào với đau khổ để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng nhất, cao đẹp nhất: cứu mình, cứu người thoát khỏi khổ đau của sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Người tu sĩ đạo Phật phải noi theo gương hạnh của Đấng Từ Phụ, phải thấy rõ ý nghĩa của lý tưởng xuất gia, đó là thực hiện cao quý nhất trách nhiệm đối với bản thân mình; hơn thế nữa, sau khi đã tự cứu lấy mình, vị Tỳ-kheo Thanh Văn còn phải biết vâng lời Phật, nỗ lực cứu giúp cho mọi người, trong đó có những người thân yêu của mình.

- “Này các Tỳ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỳ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới.

Này các Tỳ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sinh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp.

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelā, thị trấn Senā để thuyết pháp….” (TƯ1, 105 = [Sd.16.4])

Vị Tỳ-kheo Thanh Văn đệ tử Phật nhận thức rõ khổ đau như thực để vượt qua và chiến thắng khổ đau: đó không phải là bi quan, yếm thế; ngược lại đó là hành động khách quan cải thế tích cực.

Vị Tỳ-kheo Thanh Văn đệ tử Phật không chấp nhận bị lũ Ma quân tham - sân - si trói cột vào khổ đau của sanh-già-bệnh-chết, quyết tâm ra đi tầm cầu giải thoát cho mình, cho dù phải gìn giữ giới hạnh thanh tịnh, có lúc phải độc trú biệt cư cô độc, đối diện với chính mình để chiến thắng chính mình: đó không phải là sự ích kỷ cá nhân, trái lại là tinh thần từ bi trí dũng vẹn toàn.

Vị Tỳ-kheo Thanh Văn đệ tử Phật khi đã tự cứu được mình còn phải tiếp tục nỗ lực cứu giúp cho những người khác được giải thoát, đó không phải là sự hèn nhát trốn tránh cuộc đời; trái lại đó là tinh thần tự độ, độ tha cao cả.

Để giải thoát khỏi khổ đau trong sanh tử luân hồi, để chiến thắng chính mình, đánh bại ba lũ giặc Ma quân tham - sân - si trong nội tâm, đạt an lạc ngay trong hiện tại; người đệ tử Phật phải có quyết tâm dũng mãnh như Tỳ-kheo Abhibhu:

"Hãy đứng dậy, lên đường, Hãy dấn thân Phật giáo, Hãy đánh bại Ma quân, Như voi phá chòi lá. Ai trong pháp luật này, An trú không phóng dật, Ðoạn tận vòng sống chết, Sẽ chấm dứt khổ đau” (TƯ1, 155 = [Sd.9.14])

Chỉ với những lời trên cũng cho thấy vị Tỳ- kheo Thanh Văn không phải là những người yếm thế tiêu cực, trốn tránh cuộc đời để đi tìm sự an nhàn ích kỷ như đã từng bị ngộ nhận. Trái lại, vị Tỳ-kheo Thanh Văn đệ tử Phật khi quán xét Thánh lý Nhân Duyên phải luôn ghi nhớ một nguyên tắc quan trọng nhất, tích cực nhất, cao đẹp nhất theo tinh thần kinh điển nguyên thủy Nikāya, đó là: nhận thức khổ, nguyên nhân của khổ để diệt khổ cho mình và cả cho người.

Tuy nhiên, một tu sĩ sẽ khó tu tập giải thoát khi không thể an trú tâm mình, nếu chỉ ‘ly gia’ về mặt hình tướng nhưng chưa ‘cắt ái’ từ trong nội tâm, vì đúng như đức Phật đã dạy:

"Sắt, cây, gai trói buộc Người trí xem chưa bền. Tham châu báu, trang sức Tham vọng vợ và con.
Người có trí nói rằng: "Trói buộc này thật bền. Rì kéo xuống, lún xuống, Nhưng thật sự khó thoát. Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc, không màng” (PC 345 - 346)

Tình cảm yêu thương trong gia đình là một vấn đề thiêng liêng, rất tế nhị và nhạy cảm; giải quyết sợi dây ái luyến phức tạp này để tĩnh tâm trong tu tập không phải là việc đơn giản. Không có một hệ thống lý luận trí tuệ sắc bén thì không thể chặt đứt được sự ràng buộc vi tế này.

Quán sát sâu sắc hệ thống Thánh lý 12 CPND sẽ giúp người tu sĩ khi bị những sợi dây vô hình níu kéo sẽ có thêm sức mạnh của trí tuệ để an trú tâm hơn, tiến tu hơn, nhằm thực hiện trọn vẹn lý tưởng cứu mình, cứu người.

Trong ý nghĩa trên, một Tỳ-kheo không những phải quán sát sâu sắc Thánh lý Nhân Duyên mà còn phải thiện xảo về giáo pháp này, vì đây là một trong những phẩm chất của một người đệ tử Phật có trí tuệ và biết suy tư tìm hiểu. Chính đức Thế Tôn đã dạy cho ngài Ānanda:

“- Cho đến khi, này Ānanda, Tỳ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: ‘Tỳ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu’” (Kinh Đa Giới, số 115, TB3 = [U.34.4]).

Tư duy kỹ lưỡng các cách quán 12 CPND khác sẽ giúp vị Tỳ-kheo hoàn thiện hơn khả năng thiện xảo về Duyên khởi.

2.2 Nhận thức nơi cư sĩ

Đối với người cư sĩ, do hoàn cảnh riêng của mình, chưa thể cắt ái ly gia để thực hiện lý tưởng như của người tu sĩ, nhưng để cứu mình và gia đình tránh khỏi thực tại khổ đau, cũng cần phải quán sát 12 CPND với một nhận thức thích hợp.

Rõ ràng người cư sĩ khi còn sống trong gia đình không thể nói: ‘Vì ái là nguyên nhân gây ra đau khổ nên tôi không còn muốn ái cha, ái mẹ, ái vợ (chồng), ái con cái nữa’. Hoặc cũng không thể nói: ‘Vì sanh y là nguyên nhân gây đau khổ nên tôi không cần gia đình chi cả’…

Vì sao người cư sĩ không thể nói như vậy? Vì một kẻ vô tâm tuy sống giữa gia đình cũng có thể nói như thế.

Vậy người cư sĩ phải nghĩ, nói và hành động như thế nào?

Người cư sĩ còn trong gia đình phải dùng một ‘ái’ khác thay thế cho ái kiết sử. Ái kiết sử là sợi dây buộc ràng dẫn tới đau khổ vì nó bắt nguồn từ vô minh. Còn lòng ‘từ ái’ đem lại hạnh phúc an vui cho mình và gia đình phải là tình cảm yêu thương phát xuất từ trí tuệ.

Tâm ‘từ ái’ bắt nguồn từ trí tuệ có thể giúp người cư sĩ và gia đình mình tránh khỏi thực tại khổ đau của sầu, bi, khổ, ưu, não là gì? Đó chính là lòng Từ Bi biến mãn của người phật tử.

* Từ Bi biến mãn nơi người cư sĩ

Muốn hiểu rõ lòng Từ Bi giúp diệt trừ khổ đau như thế nào phải hiểu đúng hai chữ Từ Bi.

Từ là lòng thương, tình thương. Trong kinh Nikāya, đức Phật dạy người phật tử phải tu tập Từ tâm biến mãn. Biến mãn là không còn ranh giới giữa ta và người. Điều này có nghĩa thương bản thân mình như thế nào thì phải thương cha, thương mẹ, thương vợ (chồng), con cái và các chúng sinh khác như vậy. Ngược lại thương những người thân yêu và các chúng sinh như thế nào thì cũng phải biết thương yêu chính mình. Vì biết thương mình nên mới nỗ lực hướng đến làm lợi ích cho mình; đồng thời vì biết thương người khác nên nỗ lực hướng đến làm lợi ích cho người, cho cả hai phía.

Bi là thấu rõ, thấu cảm sự đau khổ. đức Phật dạy chúng ta phải biết tu tập Bi tâm biến mãn. Điều này có nghĩa ta phải thấu rõ nỗi đau khổ của bản thân mình và đồng thời phải thấu cảm với nỗi đau khổ của người khác, của cha mẹ, của anh em, của mọi người. Vì có thấu rõ nỗi khổ của mình nên không làm hại mình, không gây khổ đau cho mình; vì có thấu cảm với nỗi khổ đau của người nên không thể gây hại, gây đau khổ cho họ.

Như vậy muốn thực hiện Từ Bi biến mãn phải có trí tuệ mới làm được, không có trí tuệ không thể thực hiện được Từ Bi biến mãn. Do đó Từ Bi là trí tuệ, trí tuệ là Từ Bi. Trí tuệ nằm sẵn trong Từ Bi, ngược lại vô minh nằm sẵn trong ái kiết sử. “Ở đây, này Tỳ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỳ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ” (TC IV:186, tr.159 = [I.4.186]).

Theo trên, nếu có ai đó nói rằng Từ Bi phải có trí tuệ đi kèm mới đầy đủ, những người này đã không hiểu đúng hai chữ Từ Bi của đức Phật. Sự gán ghép này chẳng khác nào như những người mù bẩm sinh cứ đòi vẽ mai trên lưng con rùa, đòi gắn thêm bờm cho sư tử chúa.

Những người này chỉ hiểu ‘Từ Bi’ theo nghĩa tình cảm yêu thương luyến ái vô trí của hàng phàm phu nên mới tách biệt Từ Bi với trí tuệ, trí tuệ với Từ Bi. Từ đây mới phát sinh những hý luận dung tục theo kiểu Từ Bi phải có trí tuệ đi kèm, trí tuệ phải có Từ Bi cho đủ cặp, giống như âm phải có dương, dương phải có âm; đực phải có cái, cái phải có đực (?)

Rõ ràng đây không phải là Từ Bi của đức Phật, của bậc Thánh A La Hán, Minh Hạnh Túc. Xin nhắc lại Từ Bi là trí tuệ, trí tuệ là Từ Bi, trí tuệ nằm sẵn trong Từ Bi, nói đến Từ Bi là đã bao hàm sẵn trí tuệ trong đó rồi.

Tu tập Từ Bi biến mãn cũng có nghĩa là thân không làm ác, miệng không nói ác và ý nghĩ không nghĩ ác; hơn thế nữa thân phải biết làm thiện, miệng phải biết nói thiện và ý nghĩ phải biết nghĩ thiện.

Thật dễ hiểu khi một người cư sĩ có lòng từ bi với mình và từ bi với người thân của mình cũng là người biết giữ nghiêm năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không dùng rượu và các chất gây nghiện.

Thực vậy, một người biết từ bi với mình không thể làm hại mình, không tự giết mình; người biết từ bi với cha mẹ, vợ con sẽ không thể sát sanh hại mạng người thân.

Người biết Từ Bi biến mãn không thể trộm cắp tài sản của gia đình mình cũng như của xã hội.

Người biết Từ Bi biến mãn với vợ con mình và gia đình người khác không thể tà hạnh trong các dục để phá hoại hạnh phúc gia đình của mình và của người khác.

Người biết Từ Bi biến mãn không thể nói láo để làm hại mình, hại người.

Người biết Từ Bi biến mãn sẽ không uống rượu hoặc nghiện ngập để làm hại mình và làm khổ những người thân.

Rõ ràng người có lòng từ bi cũng là người biết thực hành giới luật của Phật, người giữ gìn giới luật của Phật chính là người đã từ bi với mình và từ bi với người khác. Có thể khẳng định dứt khoát: Từ Bi là Giới hạnh, Giới hạnh là Từ Bi. Cho nên, trong kinh Tăng Chi tập 4, chương 9, Phẩm Tiếng Rống Sư Tử, có bài kinh tựa đề là ‘Từ Bi’ nhưng nội dung chỉ nói đến tu tập giới luật cùng với tâm từ là vì vậy.

Từ những nhận thức trên giúp đi đến một kết luận quan trọng khác: Phạm hạnh là Trí tuệ, Trí tuệ là Phạm hạnh. Chính đức Thế Tôn đã xác chứng cho Bà-la-môn Sonadanda như sau:

“- Thật như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la- môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Nhưng này Bà-la-môn, thế nào là giới hạnh, thế nào là trí tuệ?...” (Kinh Sonadanda, TrB1, kinh số 4 = [So.42.22])

Những ai muốn biết rõ thế nào là giới hạnh, thế nào là trí tuệ theo quan niệm của đạo Phật, hãy đọc kỹ bài kinh này. Còn ở đây có thể đi đến kết luận quan trọng: Từ Bi, Trí Tuệ và Phạm Hạnh là ba mặt của một khối tam giác đồng nhất của một nền đạo đức nhân bản thực sự.

Người cư sĩ biết thay ái kiết sử của vô minh bằng lòng từ bi của trí tuệ, thực hiện cụ thể qua nếp sống giữ gìn năm giới, sẽ đoạn trừ dần thực tại khổ đau của sầu, bi, khổ, ưu, não; đem lại hạnh phúc cho mình và cho gia đình mình.

Thật vậy, trong một gia đình, nếu người cha biết từ bi với mình, với người thân và ông giữ nghiêm năm giới. Người mẹ cũng biết từ bi với mình, với người thân và bà cũng giữ nghiêm năm giới. Các người con cũng biết từ bi với mình, với người thân và giữ nghiêm năm giới thì đây chính là gia đình của hạnh phúc, an vui, thánh thiện: một gia đình của chư Thiên.

Trong kinh Nikāya, đức Phật luôn nhắc nhở mỗi người cần phải tu tập trải rộng lòng Từ Bi biến mãn đều khắp bốn phương, trên dưới đồng đẳng không biên giới: “biến mãn một phương với tâm câu hữu với Từ… với Bi…, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Từ…với Bi, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.

Điều này có nghĩa mỗi người phật tử cần phát triển tâm từ bi từ trong gia đình đến tất cả các đối tượng khác ngoài gia đình mình. Tu tập Từ Bi biến mãn là tình thương và sự thấu cảm không còn ranh giới, không những giữa ta với gia đình mà còn với họ hàng thân quyến, với hàng xóm láng giềng, với bạn bè đồng nghiệp, với mọi loài chúng sinh.

Trong một thôn làng, nếu mỗi người đều biết từ bi với mình, với mọi người và giữ nghiêm năm giới, hẳn nhiên đó là xóm làng chư Thiên. Cũng vậy, trong một thành phố, một đất nước và cả thế giới này, nếu mọi người dân tại đấy có lòng Từ Bi biến mãn và biết giữ gìn năm giới thì đó là thành phố chư Thiên, đất nước chư Thiên và thế giới chư Thiên.

Lòng Từ Bi biến mãn không những là chìa khoá giúp giải trừ những thực tại khổ đau cho mỗi người, cho mỗi gia đình mà còn cho toàn thế giới.

Ngược lại, một gia đình cho dù giầu có đến đâu chăng nữa, nhưng còn nghèo nàn về đức hạnh từ bi thì sự khổ đau vẫn còn ngự trị. Một thành phố, một đất nước cũng vậy: nền kinh tế và nếp sống đạo đức cần phải được phát triển song hành như hai chân của một cơ thể; nếu không, cuộc sống xã hội sẽ chênh vênh khập khiễng.

Ở đâu những chỉ số phát triển về kinh tế không đi kèm với những chỉ số về đạo đức thể hiện cụ thể qua năm giới, thì ở đó những bi kịch vẫn còn tồn tại và phát triển không ngừng. Những tin tức hàng ngày nhan nhản trên các phương tiện thông tin đã chứng minh cho nhận định nêu trên.

Trong một hồ nước có những bông sen vượt lên khỏi mặt nước, có những bông sen vươn lên nửa chừng, nhưng cũng có những bông sen còn chìm ngập hoàn toàn dưới nước. Mỗi bông sen tùy theo cách thế của mình được hưởng ánh sáng mặt trời khác nhau.
 
Cũng vậy, mỗi người tùy theo hành nghiệp của mình sẽ hưởng quả báo an vui hay đau khổ cho chính mình. Những người trí đã giữ nghiêm Phạm hạnh và nhờ thế biết đem lại an lạc hạnh phúc cho mình và cho gia đình, những người này sẽ không bao giờ thắc mắc tự hỏi vì sao đạo Phật là đạo diệt khổ từ hơn hai ngàn năm trăm năm qua, thế nhưng đến nay thế gian vẫn còn là bể khổ.

Đối với người cư sĩ, khi thấy rõ được tính thiết thực của lòng Từ Bi biến mãn tức giúp mình, giúp người đoạn tận thực tại khổ đau của sầu, bi, khổ, ưu, não; từ đó sẽ tăng trưởng lòng tin nơi lý tưởng Từ Bi tối thượng của vị Tỳ-kheo có thể giúp mình, giúp người đoạn tận những khổ đau thuộc về chân lý thường hằng.

Càng hiểu và thực hành đúng Phật Pháp, càng giúp đoạn trừ dần khổ đau. Càng thực chứng được tánh hiệu quả của một giáo pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện; càng có lòng chánh tín nơi đức Thế Tôn - "Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn" (kinh Nikāya).

Cùng phát triển được lòng tịnh tín nơi Pháp bảo: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Sđd).

Và lòng tịnh tín nơi Tăng bảo: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Sđd).

Lộ trình khởi đi từ lòng chánh tín theo con đường Tám Chánh Đạo nhằm đoạn diệt khổ đau, giải thoát hoàn toàn, cũng là tiến trình tiếp theo của quán 12 CPND theo ngoại pháp đã được đức Phật vạch ra trong bài kinh Duyên:

“Như vậy, này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt” (TƯ2, 29, tr.61-62 = [U.51.23.26])

Tóm lại, quán Pháp 12 CPND trên ngoại pháp sanh y và các pháp người thân là để thấy rõ khổ đau như thật, từ đó giúp người cư sĩ và tu sĩ thực hiện giải thoát khổ đau cho mình và cho người theo giáo pháp đức Thế Tôn đã chỉ dạy.

Giải mã hệ thống thông tin nén 12 CPND với những cách quán sau sẽ giúp người phật tử hiểu rõ hơn Phật Pháp với ý nghĩa trọn vẹn nêu trên.

Tỳ kheo Pani Giới Pháp
Trích trong Giải mã hệ thống Pháp nhân duyên Thánh lý cứu khổ
Còn nữa...

TIN, BÀI LIÊN QUAN:

Pani Giới Pháp
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z