Phật Giáo

Hiếu Trung Hầu Nguyễn Đình Diễn - ông Tổ tục hát Quan họ

Thứ năm, 14/02/2013 | 10:45

Hội Lim theo lời các cụ cao niên trong làng thì cách đây 300 năm trước đã bắt đầu diễn ra, ban đầu đó là hình thức kết hợp giữa hội chạ của 6 xã thuộc tổng Nội Duệ và hội chùa Hồng Ân (chùa Lim) vào ngày Rằm tháng Tám.

Cứ 13 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, hội Lim ở Bắc Ninh lại thu hút được rất nhiều người đến để nghe các "liền anh" "liền chị" hát với đủ các làn điệu quan họ khác nhau. Hội mở trên đồi Lim, có chùa Lim nơi thờ ông Hiếu Trung Hầu, người sáng lập tục hát quan họ hay còn được gọi là ông tổ nghề hát quan họ.

Hội Lim theo lời các cụ cao niên trong làng thì cách đây 300 năm trước đã bắt đầu diễn ra, ban đầu đó là hình thức kết hợp giữa hội chạ của 6 xã thuộc tổng Nội Duệ (Nội Duệ, Nội Duệ Khánh, Nội Duệ Nam, Lũng Giang, Xuân Ổ và giáo phường Tiên Du) và hội chùa Hồng Ân (chùa Lim) vào ngày Rằm tháng Tám.

Hơn 40 năm sau, vào cuối thế kỷ VXIII, Nguyễn Đình Diễn người làng Đình Cả (Nội Duệ) làm Trấn thủ Thanh Hoá, tước hiệu Hiếu Trung Hầu có công đối với quê hương như cung cấp ruộng và cung tiến tiền để sửa chữa đình, chùa, mở mang tập tục và chuyển hội đình hàng tổng vào ngày rằm tháng tám sang ngày rằm tháng giêng.

Cũng như các lễ hội khác, Hội Lim gồm hai phần: lễ và hội. Mở đầu là tục rước Chạ vào ngày 13/1 âm lịch, đây là một đám rước quy mô của sáu làng thuộc tổng Nội Duệ hợp lại từ các ngả về đình, chùa trên núi Lim. Đám rước được nghi thức hóa, tạo nên vẻ hùng tráng, rực rỡ muôn màu, đứng xa hàng trăm mét ta đã nghe thấy "trống dong cờ mở" nét mặt rạng rỡ của người người về xem hội. Cả đám rước ánh lên rực rỡ của cờ hoa, của trang phục, các lộng, kiệu sơn son thiếp vàng… tất cả hợp lại tạo một quang cảnh trọn vẹn về con người, thẩm mỹ, đạo đức, thể hiện việc ứng xử chu đáo với những người có công với cộng đồng dân cư.

Đến với hội Lim, náo nức nhất, hẫp dẫn nhất không thể không nhắc tới sinh hoạt quan họ trong ngày hội. Quan họ được xem là dân ca đặc sắc nhất không chỉ riêng vùng quan họ mà phạm vi đã lan tỏa rộng khắp trong và ngoài nước. Quan họ không chỉ nổi tiếng về lời ca trữ tình nồng nàn, tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống của hơn 200 làn điệu khác nhau mà đó còn là cách thể hiện, cách chơi thanh lịch, ấm áp tình người quan họ.

Quan họ chia là quan họ truyền thống và quan họ mới. Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ và thường gọi là "chơi quan họ", không phải là "hát quan họ". Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. "Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người người thưởng thức.

Quan họ mới còn được gọi là "hát quan họ", là hình thức biểu diễn quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng,... Quan họ mới người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên trên thế giới.


Tác giả: Vy Vy
Chú thích: Tư liệu được cung cấp bởi Kỷ lục Việt Nam

BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z