Quả báo hiện tiền
Đức Phật dạy chúng ta cần chính mạng, nghĩa là nuôi mạng chân chính. Làm con người, ai cũng phải làm việc để có tiền trang trải cuộc sống, để đời sống được ấm no, hạnh phúc. Thế nhưng chúng ta phải sáng suốt trong công việc, nghề nghiệp phải chân chính, không nên vì đồng tiền mà làm những nghề tà mạng.
Trong Tích truyện Pháp Cú [1] có kể một câu chuyện được tóm tắt như sau:
“Thời đức Phật còn tại thế, có một người đồ tể tên là Cunda, trong suốt năm mươi lăm năm ông chuyên làm nghề giết heo. Cách giết heo của ông ta rất dã man.
Trước khi giết, ông bắt trói con heo lại, sau đó lấy cây đập cho con heo sưng tấy lên rồi dùng cái nêm mở miệng nó ra. Ông nấu một nồi nước sôi, để cho hơi nguội một chút rồi đổ vào miệng heo, nước nóng sẽ chảy vào bao tử, đi qua ruột non đến ruột già rồi ra ngoài. Việc làm này nhằm súc ruột heo, lúc đầu ra phân dơ rồi dần dần ra nước đục, đến khi nước trong là được.
Tiếp theo, ông dùng nước nóng đổ lên mình con heo, lấy lửa đốt cho đến khi tất cả lông cháy rụi, rồi dùng dao chặt đầu. Khi máu phun ra, ông ta hứng lấy máu bôi lên mình con heo để nướng. Sau khi thành phẩm ông lấy một phần thịt để ăn, số còn lại đem đi bán.
Nhà Cunda cách tinh xá Trúc Lâm không xa. Thế nhưng suốt năm mươi lăm năm, chưa bao giờ ông đặt chân tới tinh xá, cũng không bao giờ biết cúng dường đức Phật và chư Tăng.
Một hôm, Cunda phát bệnh nặng. Ông không còn đi bằng hai chân mà vừa bò, vừa la giống như heo bị thọc huyết. Ông la đến nỗi hàng xóm không ai chịu nổi, không ai ngủ được. Gia đình thấy vậy, sợ quá nên nhốt ông trong nhà và canh giữ. Ông vừa bò vừa la một cách khổ sở như thế trong bảy ngày rồi chết.
Đức Phật biết được chuyện này, nói cho chư Tăng biết là do nghiệp ác và sau khi từ giã cõi đời, ông ta bị đọa vào địa ngục. Hiện đời Cunda đã sống trong địa ngục, sau khi chết cũng bị đọa vào địa ngục.”
Đức Phật nói kệ:
“Nay sầu, đời sau sầu
Kẻ ác, hai đời sầu
Nó sầu, nó ưu não
Thấy nghiệp uế mình làm”.
Một điều rất lạ là đức Phật đức độ và danh tiếng như vậy, nhưng mà ông Cunda không biết gì về Phật pháp, dù ở rất gần Ngài. Người này rất thiếu căn lành.
Thứ nữa, quả báo của Cunda hiện ra ngay trong đời này, không phải đợi đến kiếp sau. Kiếp này, ông ta đã có những hành động giống như heo. Đức Phật dạy đây là quả báo trong hiện đời, còn gọi là hiện báo.
Có những người làm ác bị quả báo hiện đời, có những người làm ác đời sau hoặc vài đời sau nữa mới nhận lãnh. Đã gieo nhân thì sớm hay muộn cũng sẽ gặt quả. Trong đạo Phật có nói đến ba loại quả báo: hiện báo, sinh báo và hậu báo.
Hiện báo là quả báo ngay trong hiện đời. Sinh báo là quả báo ở kiếp sau. Hậu báo là cho quả báo vài kiếp sau.

Nói về nguyên nhân đưa tới nghiệp, đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi Bộ [2]:
“Có ba nguyên nhân này, này các tỳ kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.
Thí dụ, này các tỳ kheo, các hạt giống không bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn tươi tốt được khéo gieo vào một đồng ruộng tốt, được trồng vào đất khéo sửa soạn, và được trời mưa xuống đều đặn, các hạt giống ấy, này các tỳ kheo, được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh.
Cũng vậy, này các tỳ kheo, phàm nghiệp nào được làm vì tham, vì sân, vì si; sinh ra từ tham, từ sân, từ si; duyên khởi từ tham, từ sân, từ si; tập khởi từ tham, từ sân, từ si; tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục.
Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa”.
Trong Quy sơn cảnh sách [3] có câu:
“Giả sử bách thiên kiếp
Sở tác nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ”.
“Giả sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong” nghĩa là khi mình đã gieo nhân thì dù trải qua trăm nghìn kiếp, nghiệp nhân đó cũng không bao giờ mất.
“Nhân duyên hội ngộ thời” là khi nhân duyên đầy đủ, “quả báo hoàn tự thọ” là quả báo đến với mình.
Đức Phật dạy chúng ta cần chính mạng, nghĩa là nuôi mạng chân chính. Làm con người, ai cũng phải làm việc để có tiền trang trải cuộc sống, để đời sống được ấm no, hạnh phúc. Thế nhưng chúng ta phải sáng suốt trong công việc, nghề nghiệp phải chân chính, không nên vì đồng tiền mà làm những nghề tà mạng.
Có thể mình sẽ sung sướng, giàu có trong hiện đời, nhưng đời sau sẽ khổ, nhất là những nghề liên quan đến sát sinh.
Đời này, chúng ta hưởng lợi, có nhiều tiền bạc, vật chất sung túc, nhưng đời sau bị đọa xuống địa ngục, hết cảnh địa ngục rồi đầu thai làm ngạ quỷ, hết ngạ quỷ đến súc sinh. Trải qua bao nhiêu kiếp khổ đau đổi lại sự sung sướng cho một đời. Đem ra so sánh thì thấy cái lợi trước mắt ít mà cái họa về sau lại nhiều, không đáng để chúng ta đánh đổi.
Những nghề nghiệp mang tính chất hại người, hại vật thì chúng ta không làm, dù nghề đó có được trả lương hậu hĩnh. Thân người giả tạm, mình sống trên đời không được bao nhiêu năm, biết đủ thì sẽ đủ, không biết đủ thì ngồi trên đống vàng vẫn cảm thấy thiếu.
Trong câu chuyện về người đồ tể Cunda, chúng ta thấy thiện duyên và căn lành của ông ta không có, cho nên gần tinh xá mà không học được Phật pháp, không biết nhân quả và tội phước.
Những người tu tập trong chùa là những người có nhiều phước đức, nhân duyên, điều này không phải dễ có. Mặc dù chúng ta sống cách xa thời đức Phật, nhưng lại có hiểu biết Phật pháp, biết nhân quả tội phước, biết ghê sợ tội lỗi, biết làm lành lánh dữ.
Còn ông Cunda sống ngay thời đức Phật, lại ở gần tinh xá mà không thấm nhuần được chút giáo lý vì thế nên làm nhiều điều ác.
Người xưa có câu:
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng”.
Có duyên thì xa nghìn dặm cũng gặp được, còn không có duyên thì ngay trước mặt cũng không biết, không hay.
Chú thích:
[1] Tích truyện Pháp Cú tập I, phẩm Song Yếu, câu chuyện Cunda – Đồ Tể Mổ Heo, Viên Chiếu, Nxb Tôn giáo (2012), trang 156.
[2] ĐTKVN, kinh Tăng Chi Bộ I, chương Ba Pháp, phẩm Sứ Giả Của Trời, phần Các Nguyên Nhân, VNCPHVN ấn hành (2005), trang 241.
[3] Thiền Môn Trường Hàng Luật, Tỳ Ni – sa di, Oai Nghi – Cảnh Sách, HT Thích Đạt Dương, Nxb Tôn giáo (2010), trang 130.
Trích từ tác phẩm "Nghìn xưa vọng lại"
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Khi ngồi thiền, để tay như thế nào cho đúng?
Phật giáo thường thứcKhi bắt đầu tập ngồi thiền, nhiều người thường quan tâm đến cách thở, cách ngồi hay việc giữ lưng cho thẳng.
Hiểu được người là khôn ngoan, hiểu được mình là giác ngộ
Phật giáo thường thứcMột người chinh phục được cả ngàn địch thủ nơi chiến trường, không bằng người tự chinh phục được chính mình, bởi đó mới là chiến công vĩ đại nhất...
Vì sao việc hộ niệm lúc lâm chung là cần thiết?
Phật giáo thường thứcHỏi: Bạch Thầy, nhờ Thầy chỉ dạy cho con, khi chết thần thức rời khỏi thân xác này vô cùng đau đớn, lúc đó nếu không làm chủ được, đi không đúng đường mà hằng ngày đã chọn, đến lúc thức tỉnh quay về có được không thưa Thầy?
Tam đức lục vị là gì?
Phật giáo thường thứcTam đức có ba nghĩa: mềm mại, tinh khiết, và đúng pháp. Còn lục vị là: đắng, chua, ngọt, cay, mặn và lạt.
Xem thêm














