Thiền sư Pháp Hiền kế thừa thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi
Thiền sư Pháp Hiền được xem là thế hệ thứ nhất thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi. Ngài là người có công lớn trong bước đầu tạo dựng thiền phái này.
Theo tài liệu ghi chép, thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi tại Việt Nam do thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi sáng lập tại Việt Nam. Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi là người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ), thuộc dòng dõi Bà-la-môn.
Thiền sư sang Việt Nam khoảng cuối thế kỉ thứ 6 (khoảng năm 580), cư trú tại chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu, Bắc Ninh ngày nay). Nơi đây Sư dịch bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì sau khi đã dịch xong bộ kinh Tượng đầu tinh xá tại Trung Quốc.
Trước khi tịch, Sư gọi đệ tử là Pháp Hiền đến và phó chúc: "Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn như thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi... Tổ Tăng Xán khi Ấn khả chứng minh tâm này cho ta bảo ta mau về phương Nam giáo hóa. Đã trải qua nhiều nơi nay đến đây gặp ngươi quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến."
Thiền sư Pháp Hiền là người kế thừa thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi từ thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi. Theo Thiền Trúc Lâm, Thiền sư Pháp Hiền (? - 626) (Đời thứ 1, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi).
Đại sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Ni sư Diệu Nhân
Thiền sư Pháp Hiền được xem là thế hệ thứ nhất thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi, là người có công lớn trong bước đầu tạo dựng thiền phái này.
Sư họ Đỗ quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình to lớn cao đến bảy thước ba tấc (2m30). Khi mới xuất gia, Sư theo Đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân thọ giới. Đến lúc Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam vào chùa Pháp Vân gặp Sư, Tổ nhìn kỹ vào mặt hỏi:
- Ngươi họ gì?
Sư đáp:
- Hòa thượng họ gì?
- Ngươi không có họ sao?
- Họ thì chẳng không, Hòa thượng làm sao biết được?
- Biết để làm gì?
Sư bỗng nhiên tự tỉnh, liền sụp xuống lạy. Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi ấn chứng, từ đây về sau Sư luôn luôn theo hầu Tổ.
Sau khi Tổ tịch, Sư vào núi Từ Sơn tu thiền định, thân như cây gỗ, vật ngã đều quên. Các loài cầm thú thường quấn quít chung quanh Sư. Người đời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến học đạo càng ngày càng đông. Nhân đó, Sư mới lập chùa nhận đồ đệ ở tu, số học chúng hằng ngày trên ba trăm vị. Thiền tông phương Nam từ đây được thạnh hành.
Thích sử Lưu Phương nghe danh của Sư, bèn dâng sớ về Trung Quốc tâu lên vua nhà Tùy:
“... Cõi này người khâm sùng Phật giáo, lại có những vị cao đức danh tăng...”
Vua Tùy sai sứ mang năm hòm xá-lợi Phật và tờ điệp, bảo Sư xây tháp cúng dường. Sư bèn xây tháp ở chùa Pháp Vân và các chùa danh tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái... cũng đều dựng tháp cúng dường.
Về sau, Sư trụ trì tại chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phước huyện Tiên Du.
Niên hiệu Võ Đức năm thứ chín đời Đường (626), Sư an tường thị tịch. Thiền sư Thanh Biện là người kế thừa dòng thiền của Sư.
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường (1930-2026)
Tăng sĩCuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường là bài pháp vô ngôn về hạnh xả ly và thoát tục.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục
Tăng sĩDù ở bất kỳ vị trí, nhiệm vụ nào, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Dục cũng đều tận tâm, tận lực, hành Bồ-tát đạo, nêu cao tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật “Phật pháp bất ly thế gian giác”, là tấm gương sáng cho hàng hậu học noi theo.
Đức Đại lão HT.Thích Tịnh Khiết - danh Tăng lỗi lạc
Tăng sĩĐại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), nguyên Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Đệ nhất Tăng thống GHPGVN Thống nhất, bậc danh Tăng kiệt xuất đã lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đi qua khúc quanh bi tráng nhất của một thời đại.
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Như Tín (1939-2026)
Tăng sĩHòa thượng thế danh Huỳnh Thứu, sinh năm Kỷ Mẹo (1939) tại thôn Phúc Khương, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Vu Gia, TP.Đà Nẵng). Thân phụ là cụ ông Huỳnh Thanh Dật, pháp danh Chơn Nhân, sau xuất gia với Tổ Hoằng Cam tại tổ đình Cổ Lâm - huyện Đại Lộc (cũ) được ban pháp tự Đạo Nghĩa, hiệu Minh Châu. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Kiến, pháp danh Chơn Tánh.
Xem thêm














