Thời gian tu tập hành trì (Phần 2)

Người không tu hành ai cũng có cuộc sống tại thế, cả thân và tâm. Người tu hành có thân tại thế nhưng tâm tập sống xuất thế khi theo tịnh hạnh. Người tu hành có thân tại thế nhưng tâm tập sống nhập thế khi theo Bồ-tát hạnh.

Dẫn chứng một trường hợp cụ thể: Một người phát tâm quyết dậy sớm khi nhận thấy dậy trễ là một thói quen xấu bất lợi cho sức khỏe thể xác cũng như sự minh mẫn tinh thần. Bốn chặng đường chuyển hóa như sau:

TU là sửa lại thói quen dậy trễ thành thói quen dậy sớm, có nhận thức sự sửa lại là điều nên làm và quyết tâm làm. Đây là trường hợp Tu chính.

TẬP là cố gắng thực hiện việc sửa lại, bỏ thói quen cũ thay thế bằng thói quen mới, thời gian đầu cần vận dụng nhiều ý chí và nghị lực để tránh sự nửa chừng bỏ dở.

HÀNH là thực hiện việc dậy sớm, tạo thành nếp sống mới trong sinh hoạt hàng ngày.

TRÌ là thực hiện liên tục đều đặn hàng ngày để thói quen mới trở nên tự nhiên dễ dàng, không cần cố gắng nhiều như ở chặng đường Tập luyện.

Trong giáo lý đạo Phật, pháp môn nào cũng tu tập và hành trì theo phương thức như trường hợp tập dậy sớm vừa kể. Chỉ người nào có thực hiện mới nhận thức được diệu ứng đem lại kết quả như ý, lý giải tinh vi tỷ mỷ đến đâu mà không thực hiện vẫn không bằng. Người chưa thực chứng chớ coi thường việc sửa chữa điều nhỏ, không quan tâm đến việc quyết tâm tập luyện. Lý do: Không sửa chữa được điều nhỏ thì không sao sửa chữa được điều lớn. Đây là hiệu năng của Tinh tấn lực và Định lực.

Thời gian tu tập hành trì (Phần 1)

Thời gian tu tập hành trì (Phần 2) 1

Ảnh minh họa.

Trên đường Tu tập-Hành trì đạo pháp người con Phật nhất là trường hợp tu tại gia cần giải đáp rõ ràng một đề tài thực tế, đó là thời gian dành cho công việc tu hành. Trong sinh hoạt thường xuyên hàng ngày người tu tại gia có rất nhiều công việc phải làm như sinh kế, thu xếp việc gia đình. Giao dịch ngoài xã hội, thù tạc với mọi người, thể dục thể thao, nghệ thuật giải trí nghỉ ngơi …. trong môi trường cuộc sống cộng đồng xã hội phức tạp đa đoan như vậy, việc hoạch định thời gian dành riêng cho việc tu hành sao cho thích nghi khế hợp hài hòa với hoàn cảnh cá biệt của riêng mình quả thật là một đề tài nan giải, tuy khó nhưng không phải là bất khả thi, không thể đạt được. Nói nôm na: Cần dành cho việc tu hành một thời gian bao lâu ? Mỗi năm, mỗi tháng hay mỗi ngày lúc nào là thời gian niệm Phật, tụng kinh, đi chùa, nghe thuyết pháp, tham khảo về giáo lý Phật học, pháp đàm với các đạo hữu đồng tu, thỉnh vấn bậc thiện trí thức về giáo lý vi diệu vô biên, tham thiền nhập định... Trong Phật học, sự diễn ý trên như sau: Cần dành thời gian trong cuộc sống tại thế để tập sống xuất thế (hay gọi là sống xuất tục) hoặc tập sống nhập thế. Làm người sống ở thế gian ai cũng có Thân và Tâm. Người không tu hành ai cũng có cuộc sống tại thế, cả Thân và Tâm. Người tu hành có Thân tại thế nhưng Tâm tập sống xuất thế khi theo Tịnh hạnh. Người tu hành có Thân tại thế nhưng Tâm tập sống nhập thế khi theo Bồ-tát hạnh.

Nói cách khác, về mặt Thân, làm người ác cũng sống tại thế, dù tại gia hay xuất gia, có ý thức hay mê mờ không biết đến những mối tương quan, liên hệ đa phương chằng chịt giữa cá nhân này với cá nhân khác về đủ mọi mặt kinh tế, văn hóa và xã hội trong cuộc sống cộng đồng nhân sinh. Nói nôm na, sống tại thế là sống ở đời, làm người không có ai sống ngoài đời tức sống cách biệt với thế gian, không có mối liên hệ gì với người khác. Từ khi đầu thai trong bụng mẹ đến khi tử vong, tất cả mọi người đều sống tại thế cả. Dẫn chứng: Ăn là có liên hệ đến nông dẫn trồng lúa, người buôn bán cung cấp thực phẩm, mặc là có liên hệ đến người dệt may có nhà để ở là có liên hệ với thợ xây cất, bệnh tật thuốc men là có liên hệ với ngành y dược...

Về mặt Tâm, người không tu hành sống tại thế, cuộc sống tâm linh do nghiệp lực dẫn dắt theo lý Nhân Quả Luân Hồi mà phàm nhân dung tục vô minh không nhận thức ra. Chỉ có người tu hành mới biết cách sống xuất thế hay nhập thế, tùy trường hợp tu theo Tịnh hạnh hay theo Bồ tát hạnh. Người con Phật đã phát nguyện quy y cần nhận định tường tận ba lối sống để quyết định chọn xuất thế hay nhập thế.

(còn tiếp). 

gg follow

CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT

Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.

STK: 117 002 777 568

Ngân hàng Công thương Việt Nam

(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)

Những câu chuyện tụng kinh Địa Tạng được cảm ứng

Nghiên cứu 17:07 14/05/2026

Đức Phật nói kinh Địa Tạng là cốt cảnh tỉnh tất cả chúng ta dẹp bỏ tham sân si nơi tự tâm, tu tập ba nghiệp lành nơi tự tâm, rồi dứt nghiệp cũng nơi tự tâm và giải trừ vô minh tăm tối cũng nơi tự tâm.

Thánh tổ Không Lộ và nghề chài lưới

Nghiên cứu 20:54 12/05/2026

Trong kho tàng văn hóa Phật giáo Việt Nam, những sự tích lạ lùng về các thánh tổ Từ Đạo Hạnh (1072-1116), Không Lộ (1016-1094)... đôi khi gây khó hiểu cho người đọc phổ thông bởi vì đó không phải lịch sử mà là thần tích pha lẫn phong cách truyện nhà thiền, nên các chi tiết có thể được cô đọng, hình tượng hóa rất cao chứ không thể hiểu theo nghĩa thông thường, điển hình như việc Đại sư Không Lộ từng làm công việc của ngư phủ.

Giác ngộ như tri thức tự chứng

Nghiên cứu 10:16 12/05/2026

Vấn đề giác ngộ, tuy nằm ở trung tâm sự kiện vĩ đại và kinh nghiệm Phật giáo, nhưng lại ít được đặt thành một câu hỏi nhận thức luận độc lập trong các nghiên cứu hiện nay. Các nguồn kinh điển sớm, đặc biệt là Ariyapariyesana Sutta và Mahāsaccaka Sutta, cung cấp nền tảng quan trọng khi mô tả giác ngộ như một tiến trình đạt đến “lậu tận minh”, với công thức xác chứng quen thuộc: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm”.

Bàn về sự tương hợp giữa đạo Phật và sinh thái học

Nghiên cứu 16:42 11/05/2026

Khủng hoảng sinh thái là một biểu hiện rộng hơn của khái niệm Khổ trong đạo Phật. Phật giáo có thể là một nguồn lực hướng đạo vững vàng và là một nguồn tri thức hữu hiệu đối với các giải pháp về môi trường.

Xem thêm