Tổ sư Minh Đăng Quang: Chiếc bóng bên trời trăng khuyết
Tổ sư Minh Đăng Quang sinh ra (năm Quý Hợi 1923) và lớn lên trong giai đoạn đất nước nói chung và Nam kỳ Lục tỉnh nói riêng, công cuộc chiếm cứ, thực hiện kế sách bảo hộ lâu dài của thực dân Pháp đã đi vào thế ổn định, và đang tự tin cho bước phát triển tiếp theo tưởng chừng mạnh mẽ ấy.
Thật ra, trên bình diện chung, thời điểm này được xem là giai đoạn chuẩn bị tuột dốc, để không lâu sau đó, cao trào tự chủ, độc lập dân tộc khắp nơi trên thế giới đã thổi làn gió tích cực đến nhiều giới sĩ phu, nông dân yêu nước Việt Nam mạnh mẽ và rất quyết liệt, làm lung lay chế độ thực dân mà Pháp đã dày công củng cố nhiều mặt và nuôi giấc mộng chiếm ngự lâu dài.
Điều rất dễ nhận ra lý do tại sao là: khi đất nước nguy vong, đạo pháp cũng không an ổn, có những tăng ni phật tử, phải “cởi áo cà sa khoác chiến bào” lên đường cùng đoàn quân chống ngoại xâm; Và tất nhiên chúng ta không thể quên còn có lý do to lớn nhất: thực dân Pháp đã thành công trong việc đẩy lùi Phật giáo vào chôn thâm sâu cô tịch, biến giới tăng sĩ thành những ông thầy chùa làng ít học và phật tử có chăng chỉ là thành phần có việc ma chay phải tống táng, mới đến chùa cúng bái.
![]() |
| NNC Dương Kinh Thành tại Hội thảo |
Tình trạng khồn đốn của Phật giáo buổi này chẳng khác nào đóng cửa để chờ chết vì chẳng còn hệ thống (đoàn thể) tổ chức như trước kia, nguyên do thực dân Pháp cố tình cắt đứt sự tổ hợp của Phật giáo buổi này, chúng sợ dân ta trá hình là Phật giáo để rồi chống đối chúng, nên mọi hình thức của Phật giáo bị làm tê liệt cả.
Trong tăng giới thời này chẳng biết làm gì hơn trước sự dòm ngó theo dõi của thực dân, nên sự sống hết sức rời rạc vô tổ chức”(trích trang 189-190, LKPGS, giấy phép số 929/72/PTUVK SALP/TP 27.6.1974 ). Đó cũng được coi là hình ảnh tiêu biều nhất thời mất nước của Phật giáo trong mọi thời kỳ.
Có thể nói, ở Lục tỉnh Nam kỳ thời bấy giờ, ngoại trừ các tín ngưỡng mang tính chất thuần túy tôn giào, còn lại không ít các tổ chức chính trị của nhiều xu hướng, thành phần khác nhau, đua nhau ra đời nhưng trước tiên đều trang bị vỏ bọc hình thái một tín ngưỡng; đặc biệt càng huyền bí càng dễ thu phục quần chúng, vì rất phù hợp với đa số người bình dân và bộ phận sống trong sự u uất, bế tắt trước nạn đao binh do thực dân Pháp gây ra; từ đó, dần dà biến thành lực lượng hậu thuẫn cho quan điểm đấu tranh của mình.
Với Phật giáo, tinh thần nhập thế rầt rỏ ràng, nếu không thể chuyên tâm tu hạnh thì dũng cảm lên đường gia nhập hàng ngũ chống giặc, không hề phạm phải một giới luật chi. Vì thế trong chiều dài lịch sử hòa mình cùng dân tộc, Phật giáo vẫn đứng trụ vững ở một nơi cao nhất trong lòng dân tộc, chưa hề có một tỷ vết hoen ố trong tinh thần chống ngoại xâm.
Còn có Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo chính đáng dựa vào nền tảng Phật đà nhưng có một lối tư duy độc lập, rẻ hướng song hành cùng các tông phái, tồ chức Phật giáo thời bấy giờ trên con đường phát triển và hóa đạo. Và Phật giáo Hòa Hảo từ nền tảng khế lý, khế cơ của mỉnh đã tỏ ra rất phù hợp với đa số cư dân Nam kỳ Lục tỉnh, gặt hái được những thành tựu đáng kể.
Vì vậy, trong bộ Chơn Lý, phần gần cuối chúng ta sẽ bắt gặp hệ tư tưởng Hòa Bình bằng sáu phần khúc giải rất thâm sâu. Như đọạn đầu trích dẩn bài kinh Nguyện Hòa Bình VII trên.
Ở đó nói lên khái niệm Hòa Bình trong phạm trù nghịch chiến tranh, tác nhân của phần lớn khổ đau mang tính chất cộng nghiệp của một dân tộc, một địa phương hay một nhóm xã hội. Những phần kế tiềp là Hòa Bình trong từng công hạnh tu tập mỗi thành tố Khất Sỉ, trong giao tiếp với tha nhân. Trong đó đặc biệt còn nêu cao vai trò gắn kết giữa gia đình và xã hội chung quanh.
Giữa cõi đời chết khổ, Khất Sĩ là chật nhựa sống, gần liền các khối chia rẻ riêng tư. Khất sĩ là con đàng chơn lý võ trụ, đúng theo trung đạo ánh sáng, không thiên về một bên lề mé, Khất sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng.
Để vầng trăng thanh được tròn vạnh giữa đêm Rằm dân tộc, ấm cúng bao mối đạo tình mà ngày xưa lao nhọc xả thân tìm cầu mới có được; và cũng để những dòng sử liệu sau cùng về tiểu sử đời Ngài lẫn đạo Phật Khất sĩ không còn phải dùng đến cụm từ : NGÀY ĐỨC TÔN SƯ VẮNG BÓNG. Ngày đó, cùng với cụm từ này, tuy được cho là “Kỷ niệm” nhưng thật sự đó chính là ngày giỗ kỵ tạm ước mà chúng đệ tử phải đành lòng ngậm ngùi tưởng nhớ.
Dương Kinh Thành - Trung Tâm NCPGVN - Viện NCPHVN
THAM LUẬN CÙNG ĐỀ TÀI:
-
Hệ phái Khất sĩ và những đóng góp vào sự nghiệp xây dựng GHPGVN
-
Tp.HCM: Hội thảo về Hệ phái Khất sĩ và Tổ sư Minh Đăng Quang (P.2)
-
Tp.HCM: Hội thảo “Hệ phái Khất sĩ - Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập”
-
Tư tưởng Phật học của Tổ sư Minh Đăng Quang trong Bộ "Chơn Lý"
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Thái Hà Books ra mắt bản kinh Dược Sư được hiệu đính công phu từ các bản kinh Phạn, Hán, Tạng
Sách Phật giáoNgày 31/5, lễ ra mắt tác phẩm "Kinh Thất Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Bổn Nguyện Công Đức" đã được tổ chức tại Hà Nội, Ninh Bình và TP.HCM.
"Không khóc giữa nhân gian": Đi qua nỗi buồn bằng sự thấu hiểu
Sách Phật giáoAi cũng từng có những ngày chông chênh. Có người mất đi người thân yêu, có người thất vọng vì một mối quan hệ, một công việc hay một giấc mơ dang dở. Khổ đau dường như là điều không ai tránh khỏi trên hành trình làm người. Nhưng liệu có thể sống cùng nỗi buồn mà không bị nỗi buồn nhấn chìm?
Làm gì để thế giới chấm dứt xung đột, bạo lực?
Sách Phật giáoCon người đã đặt chân lên mặt trăng, sáng tạo ra rất nhiều thứ, có những tiến bộ vượt trội trong y khoa, kinh tế, kỹ thuật… nhưng tại sao ta lại không thể tạo ra một thế giới mà tất cả có thể sống chan hòa?
You Are the World - cuộc truy vấn về tâm thức và tự do nội tâm
Sách Phật giáoJ. Krishnamurti là một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống tinh thần thế kỷ XX. Trong suốt hơn sáu mươi năm diễn thuyết và đối thoại, ông gần như chỉ theo đuổi một vấn đề duy nhất: tâm thức con người.
Xem thêm





















