Phật Giáo

Cuối đời, ngừng sống và trợ tử qua góc nhìn Phật pháp (Phần 2)

Thứ hai, 21/01/2019 | 19:00

Nếu muốn tìm câu trả lời trong kinh điển, thì chúng ta sẽ thất vọng, bởi vì ngược lại với hộ tử (accompagnement) là một trong những lãnh vực được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt qua những lời dậy của cuốn Bardo Thưdrol (Tử Thư Tây Tạng), thì trợ tử lại rất ít được đề cập trong đạo Phật.

Luật pháp về trợ tử hiện nay trên thế giới

Hiện nay, chỉ có 3 nước tại Tây phương có đạo luật không phạt tội (dépénalisation) trợ tử và trợ giúp tự tử bằng y khoa: nước Hòa Lan, ban năm 2001, mở rộng và bổ túc đạo luật 1993 và 1994, không phạt tội trợ tử và trợ giúp tự tử bằng y khoa; nước Bỉ, ban năm 2002, không phạt tội trợ tử; và tiểu bang Oregon (Hoa Kỳ), ban năm 1994, và được tiếp tục bởi trưng cầu dân ý năm 1997, không phạt tội trợ giúp tự tử bằng y khoa trong giai đoạn cuối đời (c).

Bài liên quan

Tại Pháp, năm 2000, Ủy Ban Tư vấn Quốc gia Đạo đức về Sinh học và Y học (Comité Consultatif National de Ethique sur les Sciences de la Vie et la Santé) đưa ra một báo cáo tên là "Cuối đời, ngừng sống và trợ tử", yêu cầu sự khoan hồng pháp luật cho những người phạm tội trợ tử, một loại "trợ tử ngoại lệ" (euthanasie d'exception), trong những tình huống đặc biệt đau đớn của bệnh nhân không thể chữa chạy được, với sự thỏa thuận của gia đình và sự quyết định tập thể của ê kíp y khoa.

Vào tháng 11/04, trước sự sôi động dư luận sau vụ án chung quanh cái chết của Vincent Humbert tháng 9/03, một dự án đạo luật về cuối đời đã được thảo luận và thông qua tại Quốc Hội Pháp, và được phê chuẩn bởi Thượng Nghị viện ngày 13/04/05 vừa qua. Đạo luật này cho phép bệnh nhân, bị bệnh nặng không chữa khỏi được, có quyền từ chối điều trị; cho phép người thầy thuốc ngừng áp dụng những phương pháp điều trị vô ích và quá đáng, và làm giảm sự đau đớn của bệnh nhân vào giai đoạn cuối, bằng cách dùng thuốc giảm đau có thể thu ngắn lại cuộc đời, với điều kiện thông tin cho bệnh nhân biết rõ; nhìn nhận giá trị của sự quyết định trước của một bệnh nhân khi người đó từ chối điều trị vào giai đoạn cuối cùng. Thật ra, đạo luật này mới thiết lập một quyền "để chết " (laisser mourir) người bệnh nặng vào lúc cuối đời, nhưng vẫn chưa cho phép "gây chết " (faire mourir).

Theo tin từ trang web Généthique Bà mẹ của Vincent, bà Marie Humbert, đã tiêm cho anh một liều thuốc barbituriques, làm cho anh rơi vào trạng thái hôn mê. Và bác sĩ Frédéric Chaussoy đã quyết định rút ống hô hấp nhân tạo, rồi cho nạn nhân một thứ thuốc gây ra sự ngừng đập tim, đưa đến cái chết của nạn nhân.

Theo tin từ trang web Généthique Bà mẹ của Vincent, bà Marie Humbert, đã tiêm cho anh một liều thuốc barbituriques, làm cho anh rơi vào trạng thái hôn mê. Và bác sĩ Frédéric Chaussoy đã quyết định rút ống hô hấp nhân tạo, rồi cho nạn nhân một thứ thuốc gây ra sự ngừng đập tim, đưa đến cái chết của nạn nhân.

Nói chung, trên thế giới hiện nay có một sự tiến hóa rõ rệt về chiều hướng từ chối và ngừng điều trị đến cùng (trợ tử thụ động), cho phép giảm đau cuối đời (trợ tử gián tiếp), và trợ giúp tự tử bằng y khoa. Nhưng đa số các nước vẫn chưa cho phép trợ tử tích cực, chưa hợp pháp hóa trợ tử.

Trong tương lai, vấn đề chỉ có thể giải quyết được khi hành động trợ tử được chính thức quy định theo luật pháp cũng như đã làm cho việc phá thai, nghĩa là được chấp thuận trong một số trường hợp đặc biệt, với sự yêu cầu của bệnh nhân và gia đình, với sự hội chẩn của một Uỷ ban Đạo đức (Comité déthique) có mặt trong mỗi cơ quan, bệnh viện, để quyết định trợ tử không trở thành một gánh nặnglương tâm nằm trên vai của một cá nhân.  

Thái độ của các tôn giáo về trợ tử

Thái độ của các tôn giáo về vấn đề trợ tử dĩ nhiên có một ảnh hưởng quan trọng trên thái độ chung của xã hội trên vấn đề này.

Phải nhấn mạnh rằng vấn đề trợ tử chưa hề đặt ra vào lúc các tôn giáo lớn trên thế giới ra đời, cho nên thái độ chính thức của các tôn giáo về vấn đề này chỉ là những suy diễn, những phỏng đoán của các giáo hội ngày hôm nay, dựa lên những Kinh điển hay Thánh kinh ngày xưa. Không ai có thể khẳng định rằng đức Phật Thích Ca, đức Jésus hay đức Muhamad sẽ có thái độ như thế nào trước những vấn đề hiện sinh đạo đức hiện đại mà họ không bao giờ tưởng tượng nổi, do những bước tiến khổng lồ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong ngành sinh học.

Đối với các tôn giáo thần khải, sự sống có tính chất thiêng liêng và phải được tôn trọng một cách tuyệt đối, bởi vì sự sống là do Thượng Đế ban cho con người, và chỉ có Thượng Đế mới có quyền lấy lại được. "Ngươi không bao giờ được giết hại" là một trong 10 điều của Bảng Luật do Thượng Đế trao cho Moise trên núi Sinai, làm nền tảng cho giáo lý của ba tôn giáo gốc Abraham. Hơn nữa, vì tội lỗi nguyên thủy, con người phải chịu đựng sự đau đớn khổ đau, trong khi chờ đợi sự cứu rỗi bởi Thượng Đế, cũng như đức Jésus đã hy sinh hứng chịu cực hình trên thập tự để cứu vớt nhân loại.

Do đó, cả ba tôn giáo thần khải lớn, Do Thái giáo, Công giáo và Hồi giáo, đều chống đối và kết án trợ tử, và xem trợ tử, tích cực hay thụ động, đều là một sự giết người. Ngay cả sự tự tử cũng không được cho phép. Chỉ có đạo Tin Lành có một thái độ dè dặt hơn, vì đặt phẩm giá của con người lên trên hết, nên không coi trợ tử là một sự giết người, cũng không chủ trương hợp pháp hóa trợ tử.

Trong trường hợp của Terri Schiavo, phát ngôn viên của Hội nghị giám mục Công giáo Hoa Kỳ cho rằng trường hợp này không liên quan tới điều trị đến cùng mà tới quyền cơ bản được dinh dưỡng.

050331_schiavo_hmed_8a_large

Đức Giáo hoàng Jean-Paul II, trong một bài diễn văn về tình trạng thực vật mạn tính, đã nhắc lại: "Các người anh em chúng ta đang ở trong tình trạng thực vật cũng giữ trọn vẹn nhân phẩm của họ [...] Như vậy, họ có quyền được trợ giúp về y tế căn bản cũng như được phòng ngừa những biến chứng do liệt giường [...]

Cái chết vì đói hay khát là kết quả duy nhất có thể xẩy ra sau khi ngừng dinh dưỡng [...] Trong chiều hướng đó, nếu được gây nên một cách ý thức và suy tính, nó sẽ mang hình thức một sự trợ tử thực sự vì bỏ sót ".  

Thái độ của đạo Phật trước vấn đề trợ tử ra sao?

Nếu muốn tìm câu trả lời trong kinh điển, thì chúng ta sẽ thất vọng, bởi vì ngược lại với hộ tử (accompagnement) là một trong những lãnh vực được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt qua những lời dậy của cuốn Bardo Thưdrol (Tử Thư Tây Tạng), thì trợ tử lại rất ít được đề cập trong đạo Phật.

1509010576798_2883658

Trong một bài viết về "Quan niệm về trợ tử của đạo Phật", đạo hữu Nguyễn Phúc Bửu Tập cho biết học giả Nanayakkara có dẫn trong kinh Vinaya Pitaka (Luật Tạng) ba trường hợp trợ tử, đều bị đức Phật Thích Ca khiển trách, và trong hai trường hợp các vị tỳ kheo phạm tội bị loại ra khỏi tăng đoàn.

tải xuống (2)

Xét kỹ ra thì trường hợp thứ nhất (5 người tỳ kheo hiểu sai kinh điển tìm cách tự vẫn) không phải là trợ tử, mà là một vụ mưu toan tự tử tập thể. Điều đó không khác gì những vụ tự tử tập thể của các giáo phái như "Đền Mặt Trời" mới gần đây, và dĩ nhiên đạo Phật không thể nào chấp nhận được. 

Trường hợp thứ hai, 6 người tỳ kheo xúi dục một người đàn bà kết liễu đời sống của chồng mình bị bệnh nặng gần chết, thiết tưởng cũng nên xét lại. Vì sao cả 6 người tu hành, lấy từ bi, cứu khổ làm gốc đều xúi dục điều đó? Có phải chăng vì tình trạng khổ đau đã tới cùng cực, cho nên họ đành phải tìm cách làm chấm dứt mạng sống đi liền với khổ đau? 

Trường hợp thứ ba lại càng bất nhẫn hơn nữa: một vị tỳ kheo quá già yếu, mắc bệnh nan y, đau khổ triền miên, yêu cầu một người bạn giúp đỡ cho ông sớm chết. Chúng ta có thể tự hỏi điều gì quan trọng, sự sống như là một giá trị, hay cái khổ của con người, là cái hiện thực nhất, là cái căn bản gốc rễ của đạo Phật?

Tôi không tin rằng đức Phật có thể lên án một kẻ khổ đau cùng cực, và một người vì lòng nhân ái đi cứu trợ kẻ khổ đau.

Nếu lấy kinh điển ra để dẫn chứng, thì tôi nghĩ rằng một số kinh điển Phật giáo, ngay cả thuộc vào Tam Tạng kinh điển, là kinh điển gần nhất với những lời dậy của đức Phật, cũng có thể đáng ngờ vực là bị thêm bớt ít nhiều sau đó. Bởi vì những lời dậy được truyền khẩu đó phải đợi tới Hội Nghị Kết Tập lần thứ ba, hai trăm năm sau khi đức Phật viên tịch, mới được đúc kết lại thành kinh Tạng, và sau đó còn sao đi chép lại nhiều lần, thì làm sao tránh khỏi sai lạc ít nhiều.

Hơn nữa, bối cảnh xã hội đã đổi thay rất nhiều so với 2500 năm trước, với những bước tiến của khoa học, y học... cùng với những biến chuyển về giá trị xã hội và tâm tính con người. Chúng ta chỉ có thể dựa lên trên giáo lý căn bản của đạo Phật mà rút ra những kết luận về thái độ của đạo Phật trước vấn đề thời đại phức tạp này:

1) Ai cũng biết rằng đạo Phật chủ trương tôn trọng sự sống, và giới luật đầu tiên của người Phật tử là không được giết hại (avihimsa). Nhưng đạo Phật không coi sự sống là một điều thiêng liêng bất khả xâm phạm như các tôn giáo thần khải. Đối với đạo Phật, sự sống cũng như sự chết nằm trong một vòng sinh tử rộng lớn, cũng như lão - tử chỉ là một chiếc vòng trong dây chuyền 12 nhân duyên. Chết chỉ là một giai đoạn, sinh ra cũng chỉ là một giai đoạn.

 2) Nghiệp (kamma) trong đạo Phật là hành động có ý thức, chứ không phải là bất cứ hành động nào, vô tình hay cố ý, như trong Ấn Độ giáo và đạo Jain. Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya), đức Phật dạy: "Này các tỳ kheo, chính ý muốn(cetana) ta gọi là nghiệp; sau khi muốn, người ta hành động bằng thân, khẩu, ý".

 Trong Kinh này, ngài cũng nói "Sát sinh do duyên sát sinh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu". Nếu sát sinh không phải là do tâm sát sinh gây nên, thì kết quả không phải là sợ hãi hận thù, khiến cho tâm phải khổ đau.

 3) Đạo Phật trước hết là đạo diệt khổ. Khổ đau (dukkha) là đối tượng chính của đạo Phật, cũng như đức Phật đã nói cùng với các đệ tử: "Này các tỳ kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ" (Trung Bộ Kinh, Majjhima Nikaya).

 4) Đạo Phật là một con đường khế cơ, khế lý, tùy duyên mà hành động. Trong Jataka, những câu chuyện tiền thân của đức Phật, có kể lại trong một kiếp trước ngài đã phải bắt buộc giết một tướng cướp để cứu sống hàng chục người vô tội. Trong trường hợp đặc biệt, giết người để cứu người vì lòng nhân đạo, chính là tinh thần "tùy duyên nhưng bất biến" của đạo Phật.

Như vậy, theo tôi chỉ cần dựa vào những điểm chính đó, mà chúng ta có thể nghĩ rằng hành động trợ tử, gây nên cái chết một cách nhẹ nhàng, nhằm mục đích làm thuyên giảm những khổ đau của người bệnh trong giai đoạn cuối của cuộc đời, vì lòng từ bi cứu khổ, không đi ngược lại với tinh thần của đạo Phật.

Bài liên quan

Đối với bản thân tôi, hành nghề thuốc từ hơn ba chục năm nay đồng thời là một cư sĩ Phật tử, tôi không thấy có gì mâu thuẫn giữa hành động trợ tử của người thầy thuốc và con đường diệt khổ của đức Phật. Cũng như nhiều đồng nghiệp và y tá chăm sóc những bệnh nhân tới giai đoạn cuối đời, chúng tôi đã hơn một lần quyết định, với sự thoả thuận và nhiều khi do sự yêu cầu của gia đình, dùng những loại thuốc "cocktail lytique", những liều thuốc opiacés gây hôn mê dần rồi tắt thở, đã viết trong hồ sơ mật hiệu DNR (do not ressuscitate), để từ chối điều trị đến cùng...

Mỗi trường hợp là một trường hợp đặc biệt và không khỏi gây xúc động, nhưng chúng tôi đều có cảm tưởng đã hành động theo đúng y đức, đã làm giảm bớt và ngắn đi nỗi khổ đau của người bệnh và của gia đình, thay vì một cái chết kéo dài lê thê, hạ thấp phẩm giá con người, một cách vô ích.

Có người cho rằng đạo Phật có thể chủ trương để cho cái chết tới một cách tự nhiên, nhưng không chủ trương gây nên cái chết, và như vậy cho phép trợ tử thụ động, tức là ngưng điều trị, tắt máy thở, bỏ ống dẫn dạ dầy, nhưng không cho tiêm thuốc ngưng tim đập hay ngưng thở. Nhưng theo tôi, sự phân chia này có phần giả tạo và thiếu thực tế, và điều quan trọng vẫn là cái "tâm ý" của người bệnh và của gia đình: Khi sự khổ đau trở nên cùng cực, cuộc sống nặng nề vô nghĩa, thì tại sao không cho phép người bệnh được giúp đỡ ra đi một cách tốt đẹp, nhanh chóng và an lành? Đó chính là ý nghĩa cao đẹp của sự trợ tử, phù hợp với tinh thần từ bi và trí tuệ, không chấp trước của đạo Phật.

Chúng ta có điều may mắn là đạo Phật đặt con người, hay đúng hơn cái tâm con người vào trung tâm điểm của cuộc sống. "Tâm dẫn đầu các pháp" là câu đầu của Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Đạo Phật ra đời cũng vì cái khổ của con người, cho nên người Phật tử luôn luôn lấy diệt khổ  làm kim chỉ nam.

Khác với các tôn giáo thần khải, lấy Thượng Đế làm trung tâm điểm, lấy con người làm hình ảnh của Thượng Đế, với những giá trị tuyệt đối, những giáo điều cứng nhắc, cho nên khó lòng đổi thay, thích hợp với thời đại. Sau các cuộc cách mạng văn hóa mang lại bởi Copernic, Darwin, Freud, Einstei... ngày hôm nay, cuộc cách mạng sinh học cũng đang làm lay chuyển tháp ngà của các tôn giáo thần khải.

Đạo Phật chỉ cần dựa lên giáo lý căn bản của mình mà hiện đại hóa, mà thích hợp với thời đại. Nếu không thì cũng sẽ, như các tôn giáo thần khải, càng ngày càng tách xa khoa học, xa xã hội, xa bước tiến của nhân loại...

Cuối cùng, tôi xin đọc một câu của Tuệ Trung Thượng Sĩ, vị thầy của Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, trong bài "Sinh tử nhàn nhi dĩ" (Sống chết nhàn thôi vậy) để chúng ta cùng nhau suy ngẫm :

"Tâm chi sinh hề, sinh tử sinh. Tâm chi diệt hề, sinh tử diệt ".

Khi tâm sinh, thì sinh tử cũng sinh. Khi tâm diệt, thì sinh tử cũng diệt. Sinh tử không ở ngoài cái tâm. Vậy thì còn sợ gì sinh tử ?

Olivet, ngày 8 tháng 5 năm 2005 (nhân ngày kỷ niệm 5 năm Người Cư Sĩ)

 --------------------------

Chú thích:

(a) Sau một tai nạn xe cộ ngày 24/9/00 và 9 tháng coma, Vincent Humbert, 21 tuổi, bị liệt tứ chi, mù và câm, chỉ có thể cử động ngón tay cái để truyền thông. Tháng 12/02, anh viết một lá thư cho Tổng thống Chirac, xin ông cho phép được quyền chết. Điều này bị từ chối.

Ngày 24/9/03, đúng ba năm sau tai nạn, nghe lời cầu xin của anh, mẹ anh bơm vào ống dẫn dinh dưỡng dạ dầy một liều thuốc pentobarbital, nhưng anh không chết mà rơi vào tình trạng coma sâu. Hôm sau, cuốn sách anh viết được ra mắt với tựa đề " Tôi xin ông được quyền chết ", trong đó anh viết : "Chắc chắn sẽ có những người rất buồn khi được biết tôi không còn nữa. Nhưng họ lầm, tôi rất là sung sướng khi ra đi. Cái chết thật là đẹp khi được mong ước và cuối cùng tới sau bao nhiêu tháng đợi chờ ".

Ngày 27/9/03, anh qua đời sau khi bác sĩ Chaussoy, cùng ê kíp điều dưỡng phòng hồi sức tại Trung tâm Nắng biển Berck, quyết định ngừng máy hô hấp và tiêm cho anh một liều chlorure de potassium. Mẹ anh và bác sĩ Chaussoy bị pháp luật truy tố về tội "dùng thuốc độc với mưu tính" và có thể bị xử án tới 5 năm tù và tù chung thân.

b) Terri (Theresa Marie) Schiavo, một thiếu phụ 38 tuổi, ở trong trạng thái thực vật kéo dài (PVS, persistent vegetative state) sau khi não bị thiếu oxy do tim ngừng đập năm 1990 (vì giảm potassium trong máu sau chế độ ăn uống giầu chất đạm để xuống cân). Tình trạng lâm sàng này được miêu tả lần đầu tiên năm 1972 bởi hai nhà thần kinh học Bryan Jennett và Fred Plums, xuất hiện sau khi vỏ não bị phá hủy bởi chấn thương hoặc thiếu oxy nặng, làm mất những chức năng hiểu biết, cảm nhận, nói năng, và cử động một cách ý thức. Người bệnh có thể mở mắt, có những cử động tự động, kêu rên hay giật mình khi bị kích thích, nhưng đó chỉ là những phản xạ tự nhiên. Điện não đồ (EEG) không bằng phẳng, nhưng có những làn sóng chậm và không bình thường. Trên CT-Scan, vỏ não bị teo mỏng và thay thế bằng dịch não.

images (2)

Sau một thời gian cùng lắm là một năm, người ta có thể khẳng định rằng tình trạng thực vật kéo dài này và sẽ không thể đảo ngược lại, và người bệnh hoàn toàn phụ thuộc vào sự dinh dưỡng bằng ống dẫn dạ dầy và các phương pháp điều dưỡng khác. Phí tổn của sự điều dưỡng này ước lượng khoảng 100000 Mỹ kim mỗi năm. Terri Schiavo đã được khám xét bởi 18 nhà thần kinhhọc, và tất cả đều đi tới kết luận đó.

Michael, chồng và giám hộ hợp pháp của bà, yêu cầu ngừng dinh dưỡng bà bằng ống dẫn dạ dầy, bởi vì theo ông " bà đã tỏ ý khi còn sống không bao giờ chấp thuận sống trong tình trạng thực vật đó ", trong khi Bob và Mary Schindler, bố mẹ bà, lại cho rằng "ngừng dinh dưỡng có nghĩa là giết bà ". 

Trường hợp của bà trở nên trung tâm điểm của một cuộc chiến tranh cho " quyền được chết " tại Hoa Kỳ. Ngày 15/10/03, Tòa án Florida cho phép ngừng dinh dưỡng bằng ống dẫn dạ dầy, nhưng sáu ngày sau, ống dẫn lại được để lại, do " đạo luật Terri " được bầu bởi các dân biểu Florida.

hqdefault

Tháng 10/04, Toà án Tối cao Florida xét xử " đạo luật Terri " không hợp với hiến pháp, nên Tổng đốc Jeb Bush kêu gọi tới Toà án Tối cao liên bang, nhưng lời kêu gọi này bị bác bỏ. Ngày 18/3/05 Tòa án Florida quyết định cho rút ống dẫn dạ dầy trở lại (lần thứ ba, từ năm 2001).

Bố mẹ bà chống đối lại điều đó và kêu gọi tới sự can thiệp của luật pháp liên bang. Muốn như vậy, phải có một đạo luật liên bang đặc biệt, khẩn cấp bầu bởi Nghị viện, và ký bởi tổng thống G.W. Bush ngày 24/3/05, sau khi ông lên tiếng kêu gọi "mọi người nên tôn trọng sự sống". 

Cuối cùng, Toà án Tối cao Mỹ vẫn quyết định không can thiệp vào luật pháp tiểu bang Florida, và Terri Schiavo đã từ trần ngày 31/3/05, gần hai tuần sau khi ngừng dinh dưỡng.

c) Tại cả ba nơi, điều kiện rất nghiêm ngặt. Trong mọi trường hợp, người thầy thuốc phải hỏi ý kiến và được sự chấp thuận của một đồng nghiệp, và bệnh nhân phải " ở tuổi thành niên, có khả năng và ý thức, ở trong một tình trạng y tế không lối thoát, đau đớn về thể xác và tinh thần một cách liên tục và không chịu đựng nổi, và yêu cầu cái chết một cách tự nguyện, suy tính và không bị áp lực bên ngoài ".

Tại Hòa Lan và Bỉ, người thầy thuốc phải làm một bản báo cáo cho một Ủy ban thích hợp gồm bác sĩ, luật sư và chuyên viên về sinh đạo đức. Tại Oregon, hi vọng sống sót không được quá 6 tháng, phải có sự yêu cầu 3 lần của bệnh nhân, sự đau đớn phải được theo dõi, và bệnh nhân phải tự mình uống liều thuốc do người thầy thuốc kê toa.

Tại Thụy Sĩ, Bộ luật hình năm 1907 cho phép một người (không bắt buộc phải là thầy thuốc) giúp người khác tự tử một cách không vụ lợi, không ích kỷ, mà không bị truy tố trước pháp luật.

Tại Đan Mạch, luật pháp cho phép người bị bệnh không chữa khỏi được tự mình quyết định ngừng điều trị, và từ 1992, mỗi người có thể để lại một " di chúc y khoa " mà các thầy thuốc phải tôn trọng.

Tại Thụy Điển, trợ giúp tự tử là một tội không bị phạt. Một người thầy thuốc có thể, trong trường hợpcùng cực, tắt máy hô hấp.

Tại Tây Ban Nha, từ 1995, trợ tử và trợ giúp tự tử không còn bị xem là giết người.

Tại Úc, một đạo luật hợp pháp hóa trợ tử được bầu năm 1996 bởi Nghị viện miền Bắc, nhưng bị hủy bỏ vài tháng sau ở mức độ liên bang.

Tại châu Mỹ La tinh, năm 1997 Toà án Hiến pháp Colombie đã chấp nhận trợ tử cho những bệnh nhân tới giai đoạn cuối đời, đòi hỏi cái chết một cách dứt khoát.

Tại Trung quốc, từ 1998, chính phủ cho phép các bệnh viện trợ tử cho các người bị bệnh không chữa khỏi được khi tới giai đoạn cuối đời.  

Tài liệu tham khảo1. AMBROSELLI C., L'éthique médicale, PUF, coll "Que sais-je?", 2è édit 1994

2. BERNARD J., La bioéthique, Flammarion, coll "Dominos", 1994

3. CLERET DE LANDGAVANT G., Bioéthique - Méthode et complexité, Presses de lUniversité du Québec, 2001

4. COMITE CONSULTATIF NATIONAL D'ETHIQUE POUR LES SCIENCES DE LA VIE ET DE LA SANTE, Recherche biomédicale et respect de la personne humaine, La Documentation Française, 1988

5. FAGOT-LARGEAULT A., La réflexion philosophique en bioéthique, p 11-26, in "PARIZEAU M.H., Les fondements de la bioéthique, De Boeck-Université, 1992"

6. FOLSCHEID D., FEUILLET-LE MINTIER B., MATTEI J.F., Philosophie, éthique et droit de la médecine, PUF 1997

7. GOLD F., CHOUTET P., BURFIN E., Repères et situations éthiques en médecine, Ellipses, 1996

8. NGUYỄN PHÚC BỬU TẬP, Quan niệm về trợ tử (euthanasia) của đạo Phật, Hương Sen, số 65, 1997 ; hoặc http://www.cusi.free.fr

9. RAMEIX S., Fin de vie - Il n'y a pas de " vide législatif " sur l'euthanasie et la fin de la vie en France, Responsabilité, N° 15, Septembre 2004

10. TAGUIEFF P.A., Retour à l'eugénisme. Questions de définition, Esprit, no 200, 198-214, 3/1994

11. THÍCH THIỆN CHÂU, Sự sống và sự chết trong Phật giáo, Hương Sen, số 64, 65 và 66, 1997

12. Các bài báo trong LE FIGARO về Euthanasie, Fin de vie, Soins palliatifs, Ethique : 27/2/2000 ; 4-5/3/2000 ; 7/6/2002 ; 11/10/2002 ; 1/8/2003 : 17/10/2003 ; 27-28/11/2004 ; 25/3/2005 ; 16-17/4/2005 ; Và một số tài liệu khác trên Internet.

Phần 1: Đạo Phật với vấn đề trợ tử hay Quyền được Chết êm ái!

Cư sỹ Trịnh Nguyên Phước
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z