Phật Giáo

Khuyên người học Phật (P.11)

Thứ năm, 21/01/2014 | 11:03

Ngoài ra, một số phương pháp hành trì, phát nguyện, hồi hướng… Quý vị tham khảo một số luận giải, sớ sao của chư Tổ và nghi thức tụng niệm để được rõ hơn.

MỘT SỐ PHÁP MÔN CĂN BẢN
   
Đức Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí tuệ Như Lai nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên không thể chứng đắc”. Vì vậy, Phật dạy vô lượng pháp môn là vì những căn cơ sai biệt của chúng sanh. Pháp môn nào cũng là diệu pháp, là thuốc lành trị bệnh chấp trước, vọng tưởng và nhằm mục đích là để chúng ta có thể khôi phục trở lại chân tâm, tự tánh thì cũng sẽ viên mãn thành Phật như Phật đã thành.

Tuy có rất nhiều pháp môn như: Thiền, Tịnh, Mật v.v… Riêng Thiền cũng có nhiều loại như thiền tứ niệm xứ, thiền chỉ quán, thiền tông… Nhưng lần này, chúng ta chỉ tìm hiểu hai pháp môn. Đó là: Thiền tông và Tịnh Độ tông.

1. Thiền tông: Được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa do Ngài Bồ-Đề Đạt-Ma là Tổ thứ hai mươi tám sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và trở thành Sơ Tổ ở Trung Hoa. Sau đó, tâm ấn và y bát lần lượt được truyền cho các Tổ Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Lục Tổ Huệ Năng. Đây là pháp môn Tối Thượng Thừa (Phật Thừa) nhằm:“Chỉ thẳng chân tâm, thấy tánh thành Phật” dành cho hàng thượng căn, thượng trí. 

Y cứ của thiền tông là Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-la-mật và Ma-ha Bát-Nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh (Bát- Nhã Tâm Kinh)… Thọ trì những bộ Kinh này giúp hành giả khai phát trí tuệ Bát-Nhã trong tự tánh của mình và qua đó phá được bốn tướng: Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu lìa được bốn tướng thì chúng sanh là Phật. 
     
Sau này, Pháp Bảo Đàn Kinh cũng được xem như một bộ Kinh trọng yếu của thiền tông. Trong Kinh này, (HT Thích Thanh Từ dịch), Lục Tổ dạy rất rõ: “Sao gọi là Toạ Thiền? Trong pháp môn này không chướng ngại, ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác, tâm niệm chẳng khởi gọi là toạ, trong thấy tự tánh chẳng động gọi là thiền. Sao gọi là Thiền Định? Ngoài lìa tướng gọi là Thiền, trong chẳng loạn gọi là Định”. 

Lục Tổ còn dạy: “Này thiện tri thức, trí tuệ quán chiếu trong ngoài sáng suốt, biết bản tâm, nếu biết bản tâm tức là gốc của sự giải thoát. Nếu được giải thoát tức là Bát-Nhã Tam muội, tức là vô niệm. Sao gọi là vô niệm? Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước ấy là vô niệm, dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh nơi bản tâm, khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần không nhiễm, không tạp, đi lại tự do, thông dụng không kẹt, tức là Bát-Nhã Tam muội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh.

Nếu trăm việc chẳng nghĩ, chính khi đó khiến cho niệm bặt đi, ấy là pháp phược, ấy gọi là biên kiến. Này thiện tri thức, người ngộ được pháp vô niệm thì muôn pháp đều thông, người ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật. Người ngộ được pháp vô niệm thì đến địa vị Phật…” 

Như vậy, cho thấy cách tu của Lục Tổ rất rõ ràng, không chỉ ngồi mới gọi là thiền mà là trong tất cả mọi oai nghi. Ngài cũng đã dạy: “Phật pháp tại thế gian”.  Khi đối người đối cảnh, sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không sanh tâm, luôn tuỳ duyên tự tại, không dính mắc nơi cảnh (Kể cả cảnh do Ngũ câu ý thức và cảnh của Độc đầu ý thức hay còn gọi là Độc ảnh cảnh. Cả hai cảnh này đều thuộc về pháp trần) thì tham sân si, phiền não, vọng tưởng không có chỗ nào khởi lên vậy!
 
Bên cạnh đó, Lục Tổ cũng đã từ bi nhắc nhở những người chỉ nói Bát-Nhã như một văn tự, ngôn ngữ suông mà không hành Bát-Nhã: “Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành. Lại có người mê để tâm rỗng không ngồi tĩnh toạ, trăm việc không cho nghĩ tự gọi là Đại, một bọn người này không nên cùng họ nói chuyện vì là tà kiến.

Tâm lượng rộng lớn khắp cả pháp giới, dụng tức rõ ràng, phân minh ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do, tâm thể không bị ngăn ngại tức là Bát-Nhã.

Này Thiện tri thức tất cả Bát-Nhã đều từ tự tánh sanh, chẳng từ bên ngoài vào, chớ lầm dụng ý nên gọi là chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người phàm tự xưng là Quốc Vương trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta…”
 ***
Ngài Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) cũng dạy về đạo lý thiền rất thâm sâu: 

“Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.”

“Trong nhà có báu” ở đây là chỉ chân tâm bổn tánh, Phật tánh xưa nay của mỗi chúng ta mà ai ai cũng đã sẵn có với hằng sa diệu dụng và bình đẳng như Phật. 
     
Thế nào là Vô tâm? Gần đây có người cho rằng Bát-Nhã chấp “Không”, cái gì cũng huyễn nên chẳng muốn làm gì cả. Người thế gian lại nói người tu về vô tâm sẽ trở thành gỗ đá sao? Trước hết, Bát-Nhã không chấp có, chẳng chấp không mà chỉ phá chấp trước. “Vô tâm” là đối cảnh mà không sanh tâm chấp trước phải quấy, yêu ghét… Vọng tưởng không còn thì chân tâm sẽ hiện tiền.

Người tu sẽ khôi phục lại tự tánh vốn đầy đủ Tam minh và Lục thông với hằng sa diệu dụng không thể nghĩ bàn thì sao lại gọi là “Không” được? Kinh dạy:“Bất trụ sắc sanh tâm, bất trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” chính là đây vậy! 

Trong các công án của Phật, có một công án chúng ta cần tham cứu để hiểu thêm về lý này. Lúc Phật còn tại thế, có một vị Phạm Thiên đến để cầu Phật chỉ dạy phương pháp giải thoát.

Trên đường đến giảng đường nơi Phật ngự, ông có tìm một số hoa cúng dường. Biết được nhân duyên đã đến, Phật bảo: “Ông buông xuống đi!”. Phạm Thiên liền buông hoa bên tay trái xuống. Phật nói tiếp! “Ta bảo ông buông xuống đi!”. Phạm Thiên liền buông tiếp hoa tay phải.

Phật vẫn nói: “Ta bảo ông buông xuống hết đi!”. Phạm Thiên không hiểu gì cả vì mình đã buông hết hoa rồi tại sao Phật còn bảo buông? Ngay đó, Phật dạy: “Ta chẳng phải bảo ông buông hoa. Ta bảo ông phải buông xả hết. Ngoài là lục trần, trong lục căn, giữa là lục thức nhất thời phải xả hết đến chỗ không còn gì để xả. Ngay đó chính là chỗ giải thoát sinh tử của ông”. Phạm Thiên ngay đó liền đại triệt đại ngộ pháp vô sanh và lễ lạy dưới chân Phật.
     
Như vậy, qua đây cho chúng ta thấy “Buông” chính là buông ở trong tâm niệm. Không phải nói buông lục căn, lục trần là phải huỷ hoại căn, trần hay phải bịt tai bịt mắt... hết lại. Kinh Viên Giác cũng đã dạy: “Sắc tức là Không. Không phải sắc diệt hết mới là không hoặc phải làm cho nó thành không mới là không mà bản tánh của nó vốn không, cũng đồng với huyễn hoá.

Biết pháp huyễn hoá, tức lìa”. Sắc “có” chỉ là trên giả tướng, duyên hợp nhưng không có chủ thể. Nghĩa là phải quán như huyễn thì tâm sẽ không còn dính mắc, không kẹt vào hình tướng của sáu trần. Ngay tướng mà lìa tướng và lìa luôn cả cái “ý niệm lìa”. Ấy gọi là chân lìa, chân buông xả vậy! Cũng gọi là không trụ. Và cũng không lấy chỗ không trụ làm trụ thì mới thật sự viên mãn.

Nếu không trụ vào đâu thì vọng tâm, vọng niệm ắt sẽ không còn. Kinh cũng dạy: “Khi sáu căn thanh tịnh thì sáu trần thanh tịnh, sáu thức thanh tịnh. Tất cả pháp thế gian, xuất thế gian đều thanh tịnh và thập phương quốc độ vô biên khắp hư không đều thanh tịnh”. Đó chính là chân tâm, Phật tánh và pháp thân thanh tịnh giác tri vốn rộng khắp tận hư không pháp giới xưa nay của chúng ta vậy! Người tu thiền đến đây sẽ khôi phục lại bản lai diện mục xưa nay của mình! 

***
Ngoài ra, chúng ta có thể nên tìm hiểu thêm một số công án trong nhà thiền của Chư vị Tổ sư, Cao tăng Đại đức. Tuy nhiên, chỉ nên tham cứu các công án với mục đích ngộ được chân tâm. Đồng thời qua đó cũng để khẳng định thêm một lòng tin vững chắc không còn nghi ngờ gì nữa rằng ngay chính mình là Phật. “Của báu” xưa nay nằm ngay trong mình.

Ngược lại, không nên dùng sự hiểu biết các công án làm chỗ sở đắc và đem ra hý luận thì chẳng những ngã tướng dẹp không xong mà còn tăng thêm phần ngã mạn, tà kiến... lại trở thành nhân duyên chướng Đạo (Sở tri chướng). Phật pháp không có định pháp, tuỳ bệnh cho thuốc, hết bệnh phải bỏ thuốc. Vì vậy, khi thì các Ngài từ chân đế, khi từ tục đế, khi đứng trên thể, khi lại trên dụng…

Đều là phương tiện nói, không có cố định. Cốt chỉ để làm sao cho đệ tử hay người hữu duyên đối diện ngay lời nói hoặc hành động tức thời ấy mà nhận ra chỗ còn bị kẹt, còn chấp và giúp họ nhận được chân tâm tự tánh, pháp thân bất sanh bất diệt.

Như khi nhìn thấy người đi trên đường ngã bên trái, các Ngài liền giúp cho họ về bên phải và ngược lại nếu thấy họ ngã qua phải thì dìu họ sang bên trái để làm sao cho họ có thể tự trở về với sự thăng bằng, bình thường. Tâm bình thường ấy chính là Đạo.

Vì phàm phu thế gian thường có tâm phân biệt chấp trước: Hoặc có, hoặc không, hoặc đúng, hoặc sai. Đây gọi là biên kiến và cũng là nguyên nhân của vọng tưởng, luân hồi.

Vì vậy, Pháp Bảo Đàn Kinh Lục Tổ cũng đã dạy 36 pháp đối để tuỳ thời nói năng, phá chấp và không làm mất bản tông. Tổ dạy rằng, nếu có người hỏi Có dùng Không đáp, hỏi Sáng dùng Tối đáp, hỏi Niết-bàn dùng Sanh tử đáp và hỏi Phàm thì dùng Thánh đáp… (Ví dụ hỏi thế nào là Phật? Chúng ta nên trả lời: Lìa tâm chúng sanh tức Phật). Vì vậy, khi học công án, đừng nên kẹt trên văn tự, ngôn ngữ các Ngài.
     
Vì đó cũng chỉ như là tấm bảng hiệu, là ngón tay chỉ mặt trăng. Chúng ta phải nương theo đây để nhận thấy mặt trăng thật (Phật tánh) của mình. Lại nữa, có khi các Ngài nói: “Đói thì ăn, mệt thì ngủ” đó là dụng công, hay “ Tuỳ thời ăn cơm, mặc áo. Có việc gì phải làm nữa!”…

Thật trông chẳng khác gì người thường. Nhưng nếu chấp chặt vào lời này mà sanh tâm dãi đãi thì thật quá sai lầm. Xét về ngôn ngữ thì đồng, nhưng hạnh các Ngài thì khác xa với phàm phu một trời một vực. Phàm phu thì chưa đói đã lo ăn, khi ăn thì không chịu ăn vì đòi món này món nọ, chấp trước ngon dở… Lúc ngủ thì không chịu ngủ, nghĩ tới nghĩ lui, so đo tính toán đủ điều cho đến khi mê mệt mới chợp mắt?

Vì vậy, đây chỉ mới là giai đoạn đầu tạm gọi là ngộ. Một khi đã ngộ rồi thì chúng ta phải biết buông xuống để thật sự đi vào dụng công phu, không thấy lỗi người thường sửa lỗi mình, phải thiểu dục và tri túc, diệt trừ phiền não, tập khí, hoặc nghiệp thì mới mong có thể khôi phục lại tự tánh và khế nhập với cảnh giới ấy. Ai cũng biết mình có “Của báu” nhưng làm sao thọ dụng được thì mới là điều quan trọng.

Kinh Pháp Hoa cũng đã nói: “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến” là có bốn giai đoạn rất rõ ràng. Phật tri kiến ấy, chính là ngay trong mỗi chúng ta chứ không từ nơi nào khác. “Khai, thị” là chư Phật, chư Tổ đã vì chúng ta mà làm rồi. Nay đã “Ngộ” thì phải tiến đến “Nhập” thì mới viên mãn, “Của báu” ấy mới thọ dụng được. Còn nếu dừng lại ở “ngộ” thì chỉ như “Ăn bánh vẽ” mà Phật đã từng cảnh báo. Trọn không có lợi ích chân thật vậy!

Thiền sư Hoàng Bá (Hy Vận) cũng có một bài kệ để khuyên răng và khích lệ chúng rằng: 

“Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.”

Thiền sư Tuệ Hải (1628-1715) từng được Mã Tổ tán thán là “Đại Châu tròn sáng thấu suốt tự tại không ngại” cũng đã luận trong “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn” của mình:“Nếu người chẳng chịu hàng phục tâm, y cứ văn nghĩa mà cho là chứng ngộ thì không có thể. Người chấp như thế là dối mình, dối người, mình người đều đoạ.

Phải cố gắng! Cố gắng! Xét nét kỹ càng. Chỉ việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm, người được như thế, liền vào Niết-bàn, chứng vô sanh pháp nhẫn, cũng gọi là pháp môn bất nhị, cũng gọi là vô tránh, cũng gọi nhất hạnh tam muội. Vì cớ sao? Vì cứu cánh thanh tịnh, không ngã không nhân, chẳng khởi thương ghét, là hai tánh không, là không có chỗ thấy, tức là hoàn tất cái chân như vô đắc”… 

Quý vị và các bạn quan tâm nên tìm đọc quyển luận này, suy ngẫm và tuỳ duyên tu tập sẽ có lợi ích. Chúng ta có thể tìm đọc luận này trong sách “Thiền Đốn Ngộ” của HT.Thích Thanh Từ, hoặc trong một số sách khác có trích dẫn. Xét về lượng, tuy chưa nhiều, khoảng 45 trang nhưng nội dung quyển luận là rất sâu và tập trung nhiều cốt lõi của thiền tông. Đây quả thật là một trong những pháp bảo quý báu trong thiền tông vậy! 

Bên cạnh đó, như đã nói ở phần Bát-Nhã là khi tu thiền, chúng ta cần phải hết sức chú ý đến ngã tướng ở khía cạnh rất vi tế mà thường thì rất khó nhận ra, đó là pháp chấp. Thông thường, sau khi hiểu rõ ngũ dục, lục trần và các pháp thế gian đều là vô thường, khổ, vô ngã thì người tu có thể xa lìa và tìm đến chỗ yên tĩnh để tịnh tu.

Nhưng sau đó lại khởi tâm thích “cái bỏ” và mến cái chỗ thanh tịnh ấy thì xem như đã trở lại nuôi thêm gốc ái và đều rơi vào cái chỗ vi tế hơn của ngã và ái.

Hơn nữa, việc khởi tâm đắm chấp cái tịnh kia thì lại là trở thành chướng ngại. Vì bản chất của nó là: “Vốn tự thanh tịnh”, nếu chấp tịnh thì lại là trở thành tịnh vọng. Chấp giác cũng lại như thế, thành ra vọng giác. Tất cả đều là chướng ngại nên chưa có thể nhập được với tánh Đại Viên Giác Như Lai. Giác, tịnh là chỉ phương tiện lúc còn tu trong vòng đối đãi với mê, động.

Khi mê đã hết rồi thì cái tịnh và giác ấy không nên thiết lập nữa thì mới thật sự là chân tịnh, chân giác. Ngoài ra, cầu chứng cầu đắc, cầu cảm ứng, thần thông đều là pháp chấp, nên chưa hết năng sở. Chẳng những chưa dứt ngã tướng mà đây còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các ma sự.

Hoặc vi tế hơn nữa, như Kinh Viên Giác dạy, là khi có người đến tán thán pháp tu của mình thì liền sanh tâm vui mừng (tâm tham) và muốn tế độ họ. Ngược lại, nếu chê bai chỗ sở đắc của mình thì liền sanh tâm không thích (tâm sân).

Đây cũng là chỗ mà người tu đã rơi vào pháp chấp và ái pháp vi tế. Như vậy thì tâm ái lại thêm tăng trưởng. Hết ái ngũ dục và lục trần thì bây giờ lại qua ái pháp nên cái gốc của luân hồi vẫn chưa có thể dứt, vì Kinh dạy: “Ái là gốc của luân hồi”.

Tuy nhiên, sợ chúng ta lại bị kẹt, nên Lục Tổ đã từng từ bi nhắc nhở: “Chính pháp phải truyền trao, không được giấu kín” nhưng phải với hàng: “Đồng kiến, đồng hành” thì mới truyền trao hoặc luận bàn. Nếu không thì chỉ “Chắp tay khiến hoan hỷ” để không hại ta, hại người và “Không làm tổn hại tiền nhân kia, cứu kính vô ích”. Đây là điều rất vi tế, chỉ có trí tuệ mới có thể thấy biết rõ.

Được như vậy thì vẫn có thể tuỳ duyên tự lợi, lợi tha truyền pháp độ sinh trên tinh thần vô tướng và không bị rơi vào pháp chấp mà sinh ra hai tánh nghịch yêu, ghét.

Vì vậy, nếu không suy xét kỹ thì mặc dù công phu tuy đã rất cao nhưng vẫn chưa rời được ngưỡng cửa của “Ái” thì vẫn chưa thể hết ngã tướng rốt ráo. Nhẫn cho đến nếu sanh tâm chấp trước hữu vi vô vi, phàm thánh, sanh tử niết- bàn… Thì vẫn còn kẹt hai bên nên chưa thể khế nhập cảnh giới Đại Viên Giác Như Lai.

Trong Kinh Viên Giác (HT.Thích Thanh Từ dịch), Phật dạy:“Chúng sanh đời sau không rõ bốn tướng, tuy trải qua nhiều kiếp cần khổ tu hành chỉ gọi là hữu vi.

Trọn không thể thành tựu được các Thánh quả”. Và người tu như vậy thì: "Chỉ sinh về cõi thiện hữu vi cao hơn, đều là luân hồi nên không thành Thánh đạo”. Đạo lý này cùng với việc chỉ rõ cội gốc vô minh, bốn tướng vi tế, cũng như làm thế nào để dùng huyễn tu huyễn, lìa huyễn và lìa cái “ý niệm lìa” cùng một số bệnh trong thiền như: Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt đã được Đức Phật dạy rất cụ thể trong Kinh Viên Giác. 
     
Vì vậy, ngoài Bát-Nhã Tâm Kinh, Kim Cang v.v… chúng ta cần phải nên thọ trì Kinh Viên Giác. Đây quả là con mắt tuệ sáng ngời mà Đức Thế Tôn đã khai mở cho tất cả chúng ta và chúng sinh đời sau nhằm phá sạch tận gốc rễ vô minh và không bị rơi vào tà kiến để yên tâm và thẳng tiến một đường vào biển Diệu trang nghiêm của mười phương Như Lai, viên mãn quả Bồ đề và Đại Niết bàn về Vô sở đắc.
***
Ngoài ra, tuy không phải thiền tông, nhưng trong tu thiền còn có pháp tu Chỉ và Quán. Kinh dạy, đây cũng là cánh cửa để vào Thánh địa Như Lai của thập phương ba đời chư Phật. Đầu tiên, muốn tâm đi vào thanh tịnh, chúng ta ngồi ngay thẳng tu chỉ bằng cách theo dõi hơi thở.

Hành giả nên trụ tâm tại điểm môi trên và giữa hai lỗ mũi nơi hơi thở ra vào. Mắt nhắm tự nhiên, miệng khép và chỉ thở bằng mũi. Bắt đầu nhiếp tâm theo dõi và đếm hơi thở từ 1 đến 10. Sau đó, bắt đầu đếm lại theo những chu kỳ khác. Giữa chừng nếu quên, phải xả bỏ để đếm lại từ đầu và theo nhiều chu kỳ. Qua làn gió nhẹ nơi xúc chạm, hơi thở đang ra, ta biết rõ nó đang ra, đang vào biết rõ đang vào. Hơi thở ngắn biết ngắn, dài biết dài, hoặc ra ngắn vào dài, ra dài vào ngắn…

Đều biết rõ như thể một người gác cổng rất nghiêm túc vậy! Nên nhớ là không nên tác ý điều chỉnh hơi thở dài ngắn mà cứ để tự nhiên như thể nó đang là. Trong quá trình theo dõi và đếm hơi thở, nếu có tâm niệm lăng xăng nào khởi lên thì liền giác biết ngay để không còn chạy theo chúng. Nên quán rằng:“Đó không phải là việc lúc này” và liền nhiếp tâm trở lại theo dõi ngay hơi thở. 
     
Sau này, nếu đã có phần định tâm rồi thì không cần phải đếm nữa mà chỉ cần theo dõi hơi thở. Cho đến khi thật vi tế thì có lúc sẽ cảm giác như không còn hơi thở.

Nhưng đừng lo vì thật ra nó vẫn hoạt động bên trong nhưng vì quá vi tế nên không thể nhận ra. Khi đã thành thục thì ngay trong cảnh động của sáu trần chúng ta vẫn có thể đạt được trạng thái tâm thanh tịnh. Đến lúc này, thân tâm sẽ vô cùng khinh an.

Pháp này có thể thực hiện không chỉ tư thế ngồi mà còn cả bốn oai nghi: Đi, đứng, nằm, ngồi. Vì vậy, nếu chỉ nghĩ khi ngồi mới là thiền thì chưa thể viên mãn và không nên có ý niệm xả thiền sau khi ngồi mà vẫn phải tiếp tục giữ chánh niệm, tỉnh thức trong mọi oai nghi và tất cả thời thì mới có thể đạt đến hiệu quả thiết thực.

Cứ như thế mà hành trì đến một thời gian thì tâm quá khứ, vị lai sẽ hạn chế tối đa. Tâm sẽ trụ nơi chánh niệm vô cùng an lạc ở hiện tại. Nội tâm sẽ đi đến an định và tĩnh lặng. Tuy nhiên, hành giả đừng nên tự mãn và dừng lại chìm đắm miên man tại đây để thụ hưởng sự thanh tịnh và an lạc ấy mà phải tiếp tục dụng công để đi sâu vào những tầng định cao hơn thì trí tuệ chân thật mới có thể phát sinh.

Với những người sơ cơ, nếu mỗi khi đối người, đối vật mà có tâm trạng sợ hại, lo lắng, tham, sân v.v… mà chưa đủ trí tuệ để quán thật tướng Bát-Nhã thì nên áp dụng ngay phương pháp theo dõi hơi thở này sẽ rất có hiệu quả. Ngoài ra, để hạn chế tối đa các chướng ngại và đạt pháp an lạc, giải thoát thì trước khi công phu quý vị cần phải tìm hiểu kỹ về tư thế ngồi và cách hành trì cụ thể hơn của chư vị Tổ Sư, Đại đức trong nhà thiền. 
     
Công phu sâu pháp này, hành giả có thể sẽ tiến đến cảnh giới đức Phật đã khai thị trong bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Tâm Minh dịch): “Các ông ngồi đạo tràng, tiêu diệt các vọng niệm, niệm đó nếu hết, thì tâm ly niệm sáng tỏ tất cả, động tĩnh không rời, nhớ quên như một.

Đương khi an trụ chỗ đó mà vào Tam-ma-đề thì như người tỏ mắt, ở chỗ rất tối tăm, tính biết được diệu tịnh, nhưng tâm chưa phát ra trí sáng suốt, thế thì gọi là phạm vi của Sắc ấm. Nếu con mắt sáng tỏ, mười phương mở rộng, không còn tối tăm nữa, thì gọi là hết sắc ấm. Người đó mới có thể vượt khỏi kiếp trược…”

Ngay giai đoạn này các ma sự rất có thể sẽ xảy ra và Phật đã lần lượt khai thị năm ấm cảnh (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) để người tu không lầm lạc vào các đường tẻ. Phật dạy: “Các ông tu thiền định trau dồi pháp Tam-Ma-Đề, tâm được thông suốt, ám hợp với các vị Bồ-tát và những vị vô lậu Đại A-la-hán nơi mười phương, thật sự vắng lặng, thì tất cả Ma Vương và các quỷ thần, trời, phàm phu đều thấy cung điện mình không cớ gì đổ vỡ, đất liền rung động, những loài thuỷ lục bay nhảy thảy đều kinh sợ, hàng phàm phu tối tăm thì không biết có sự thay đổi.

Còn các loài kia đều được năm thứ thần thông trừ lậu tận thông, đương luyến tiếc cảnh trần lao, làm sao lại để cho ông phá hoại chỗ ở? Vậy nên các loài quỷ thần, Thiên ma vọng lượng yêu tinh, trong lúc ông tu pháp Tam Muội đều đến quấy phá ông”. 

Tuy vậy, Phật liền dạy để chúng ta yên tâm: “Song các ma kia tuy có giận dữ, nhưng bọn chúng ở trong trần lao, các ông ở trong Diệu Giác, cũng như gió thổi ánh sáng, như dao chém nước, hẳn không đụng chạm nhau được.

Ông như nước sôi, bọn kia như băng cứng, tạm gần hơi nóng thì không bao lâu sẽ tiêu tan, chúng nó luống ỷ nơi thần lực, nhưng chỉ làm người khách, nếu chúng có thể phá rối được là do người chủ ấm trong tâm ông, nếu người chủ mê lầm thì khách mời được dịp khuấy phá.

Đương lúc tu thiền, giác ngộ không lầm thì các ma sự kia không làm gì ông được. Khi năm ấm đã tiêu trừ vào tính sáng suốt thì bọn tà ma kia là kẻ tối tăm. Sáng phá được tối, đến gần tự phải tiêu mất, làm sao còn dám ở lại khuấy phá thiền định. Nếu chẳng tỏ ngộ bị ngũ ấm làm mê, thì ông A-Nan ắt phải làm con của ma và thành người ma…”.

Vì vậy, trước khi hạ thủ công phu, quý vị cần tìm hiểu thật kỹ Kinh Thủ Lăng Nghiêm, phẩm Phật khai thị về 50 ấm ma và một số cảnh giới sẽ có thể xuất hiện trong thiền định để tránh bị lạc vào đường tẻ. Ngoài ra, Kinh Cửu Thập Lục Chủng Đạo cũng nói về 96 loại tà ma ngoại đạo.

Kinh Đại Tập cũng luận về tướng của ma nghiệp. Không riêng gì đối với hành giả tu thiền mà hành giả tu tịnh độ trong quá trình nhập thất cũng vô cùng cần thiết. Kinh này chúng ma rất căm ghét vì Phật đã nói ra hầu hết các bộ mặt thật và thủ đoạn của chúng. Kinh Pháp Diệt Tận, đức Phật đã huyền ký là đời mạt pháp các tà ma kia sẽ sôi nổi trong thế gian. Kinh điển sẽ dần dần diệt mất mà trước tiên sẽ là Kinh Thủ Lăng Nghiêm này. Là đệ tử Phật chân chính, mỗi chúng ta phải có trách nhiệm phát tâm thọ trì, đọc tụng, ấn tống và hoằng dương bộ Kinh Phật vô cùng quý báu này.

Bởi do hiện nay, có một số hành giả tu liều, chưa thâm nhập sâu Kinh tạng và chưa hiểu rõ về ma sự, nội ma Tam độc chưa hàng phục nhưng lại tham mê thần thông, chứng đắc, cảm ứng… Nên không ít người tu đã bị “Tẩu hoả nhập ma”. Kinh dạy, như “Nhận giặc làm con”. Trong thiền định, khi tâm tịnh rất nhiều cảnh giới khác nhau của năm ấm, hay của ngoại ma rất có thể sẽ xuất hiện. Ma giả làm những hình tướng khủng khiếp để khủng bố người tu. Hoặc giả làm người thân, những cảnh đẹp, dục lạc mê hoặc, quấy nhiễu. Và chúng cũng có thể giả Phật, Bồ-tát phóng hào quang, thuyết pháp v.v... Chỉ cần thấy như thấy, biết chúng hư vọng, đừng quan tâm. Nếu khởi tâm tham đắm hoặc chán ghét cảnh giới, hành giả xem như đã tự mở cửa cho ngoại ma vào gá thân. Hành giả lúc ấy sẽ cảm thấy như mình tự nhiên biết thuyết pháp thông suốt, có thần thông mà không hề biết mình đã bị ngoại ma gá vào. Phật dạy, do công phu có thâm sâu thì những cảnh giới ấy mới hiện ra, nếu chỉ nhận biết thì không có lỗi. Nếu cho là chứng Thánh và nói với mọi người như vậy để cầu danh văn, lợi dưỡng v.v… Được sức, chúng ma sẽ hoành hành. Cả thầy và trò đều rơi vào lưới ma dẫn đến phá giới luật của Phật. Cùng với tội đại vọng ngữ thì khi thân tàn mạng chung, ma rời thể xác, còn lại phàm phu, cả thầy và trò liền rơi vào Địa ngục Vô gián. Hành giả phải hết sức lưu ý vậy! 

Tuy nhiên, nếu hành giả không mong cầu, nội ma (tham sân si) không khởi, giữ giới tinh nghiêm, không cống cao ngã mạn mà thường hành cung kính và từ bi, bình đẳng, chánh giác thì ma sự ít và dễ dàng vượt qua.

Nếu hành giả tự xét thấy mình thật sự đầy đủ thiện căn và trí tuệ thì có thể phát đại thệ nguyện đi sâu vào hành thiền để đoạn hết những hoặc nghiệp: Kiến hoặc (mê lý), tư hoặc (mê sự), phiền não trần sa hoặc (nhiều như cát), vô minh… Tự mình bức phá và vượt qua mọi khó khăn thử thách. Vượt lên ma ngũ ấm và ngoại ma. Vượt ra khỏi kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược. Lúc đó, thức ấm hết rồi, các căn sẽ có thể thay dùng lẫn nhau và hành giả sẽ lên bậc Kim Cang Càn Tuệ Bồ-tát. Rồi vượt lên Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ Gia Hạnh Tâm và Thập địa Kim Cang Bồ-tát; Tính đẳng giác được viên minh, vào biển Diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn Đạo Bồ-đề về Vô sở đắc như trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật đã chỉ dạy rất rõ ràng.

Nếu xét thấy không đủ khả năng để tự lực viên mãn đạo nghiệp thì có thể dùng pháp môn nhị lực để hạ thủ công phu. Đó là đầy đủ: Tín, Nguyện, Hạnh và nương theo thuyền từ Đại nguyện tiếp dẫn của đức Phật A Di Đà như Thế Tôn đã từng giới thiệu trong Xá-Vệ thành năm xưa để cầu sanh Cực Lạc, vĩnh viễn thoát ly sanh tử, chứng bậc bất thối Bồ-tát, gặp Phật nghe pháp tu hành thẳng tiến một đường rồi cũng sẽ viên mãn thành Phật. Nếu biết dùng nền tảng là tâm thanh tịnh này và lòng tin không một chút hoài nghi, cùng với nguyện hạnh đầy đủ thì phẩm vị sẽ càng cao. Đại Sư Trí Giả cũng đã từng nói: “Khi xe lửa hiện mà một niệm hối cải còn được vãng sanh, huống chi người tu giới định, đạo lực hạnh Thánh, công phu chẳng thể phế bỏ!”. 

2. Tịnh Độ tông (Pháp môn Niệm Phật): Pháp môn niệm Phật cơ bản thì gồm có: Quán tưởng, Quán tượng, Thật tướng và Trì danh niệm Phật. Ngày nay, do vì tâm chúng sanh thô nặng, nghiệp dày nên pháp quán tưởng, quán tượng và thật tướng rất khó thành tựu, lại dễ rơi vào tà ma. Do vậy, đa số tu Pháp môn Trì Danh Niệm Phật mà ở đây chính là chuyên trì niệm Danh hiệu Đức Phật A Di Đà cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. 

Tổ Sư của Tịnh Độ tông là ngài Huệ Viễn. Sau đó, lần lượt là các Tổ: Thiện Đạo, Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Diên Thọ, Tỉnh Thường, Châu Hoằng (Liên Trì), Trí Húc (Ngẫu Ích), Hành Sách, Thật Hiền, Tế Tỉnh (Triệt Ngộ) và Tổ thứ 13 là Ấn Quang Đại Sư.

Đây là pháp môn đặc biệt vì dùng cả hai: Tự lực và Tha lực. Mười phương ba đời chư Phật nếu không có pháp môn này thì khó mà bình đẳng cứu độ chúng sanh, nhất là thời mạt pháp. Xưa nay, chư vị Tổ Sư cũng đã hết lời tán thán về lợi ích không thể nghĩ bàn của pháp môn này. Tổ Ấn Quang dạy trong: “Ấn Quang Đại Sư gia ngôn lục” (Như Hoà dịch): “Hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực, pháp môn tịnh độ chuyên cậy vào Phật lực. Hết thảy các pháp môn phải hết sạch hoặc nghiệp mới có thể liễu sinh tử, pháp môn tịnh độ đới nghiệp vãng sanh liền dự vào dòng Thánh”. Vì vậy, xưa nay không ít chư vị Tổ Sư trong nhà thiền như tổ Mã Minh (Luận Đại Thừa Khởi Tín), tổ Long Thọ (Luận Đại Trí Độ, luận Tỳ-Bà-Sa)… cùng rất nhiều bậc Cao Tăng và Đại Đức hầu như đã thâm nhập các pháp môn đến chỗ: “Minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ” rồi sau cùng cũng đã một lòng Đại từ Đại bi cao độ mà quay về và hoằng dương Tịnh Độ để hòng lợi lạc cho khắp cõi quần sanh từ Hạ Trung Thượng căn đều được lợi ích giải thoát chân thật. Trí Giả Đại Sư (538-579) là Tổ của tông Thiên Thai, cả đời hoằng dương thiền Chỉ Quán nhưng lúc ra đi lại đề xướng pháp môn Tịnh Độ. Ngồi đối trước tượng Phật đá trong núi, Ngài bảo thị giả: “Ta biết mạng dứt tại đây, không cần đi nữa”. Nói xong, Ngài liền tán thán Tịnh Độ rằng: “Bốn mươi tám nguyện trang nghiêm tịnh độ. Ao hoa cây báu, tuy dễ đến mà không người đi. Khi xe lửa hiện mà một niệm hối cải còn được vãng sanh, huống chi người tu giới định, đạo lực hạnh Thánh, công phu chẳng thể phế bỏ.” Lúc đó, tượng Phật đá phóng ánh sáng trùm khắp núi. Đệ tử thưa thỉnh: “Chưa rõ Đại sư ở giai vị nào? Sanh thế nào?”. Ngài đáp: “Nếu ta không lãnh chúng thì chứng được lục căn thanh tịnh, vì làm lợi ích cho mọi người nên chỉ lên Ngũ phẩm vị. Các ông hỏi sinh thế nào ư? Các thầy bạn của ta theo hầu Quan Âm đều đến rước ta.” Nói xong Ngài an nhiên thị tịch. Hơn nữa, trong tác phẩm “Thiền Ba-la-mật” của mình, Ngài đã phân tích ra bốn nhân duyên khai phát thiền định: “1-Nhân mạnh, duyên yếu; 2- Nhân yếu, duyên mạnh; 3-Nhân duyên đều mạnh; 4- Nhân duyên đều yếu” và đi đến nhận định rằng: Trong ba thứ nhân duyên đầu tiên, vào thời kỳ mạt pháp vạn người không có một. 

Kinh Ðại Tập nói: “Ðời mạt pháp ức ức kẻ tu hành, hiếm có một người đắc đạo. Chỉ nương theo pháp niệm Phật mới thoát khỏi sinh tử”. Thật quan trọng lắm thay. 

Tông chỉ Tịnh độ là: Tín, Nguyện, Hạnh. Tổ thứ 12, Ngài Triệt Ngộ nói: “Thật vì sanh tử, dùng Tín Nguyện sâu, phát Bồ-đề tâm, trì danh hiệu Phật”. Pháp môn này đòi hỏi phải có lòng tin không một chút hoài nghi. Tin sâu lời dạy từ Kim khẩu của Đức Bổn Sư đã nói ra trong Kinh A Di Đà . Thế Tôn đã dùng đến hai chữ: “Có” mà nói rằng: “Cách cõi Ta-bà mười muôn ức cõi Phật về phía Tây có một thế giới tên là Cực Lạc, có Đức Phật hiệu là A Di Đà thành Phật đã được mười kiếp và hiện nay đang thuyết pháp”. Đức Bổn Sư cũng hết lòng từ bi khuyên chúng ta đến ba lần: “Nếu ai có lòng tin thanh tịnh, nên phát nguyện sanh về cõi kia”. Và tin là phải tin sâu 48 Đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, tin lời khen ngợi, tán thán của vô số vị Phật. Ngoài ra, tin là phải tin chính mình có Phật tánh và sẽ vãng sanh. Không tin mình thì khó có thể tin ai được và khó mà thành tựu.

Hoà thượng Tịnh Không cũng đã từng nói trong lần giảng Kinh Vô Lượng Thọ rằng: “Tôi phải mất đến ba mươi tám năm mới tìm ra pháp này. Quý vị gặp được pháp môn này thật là quý báu đấy! Của cải giàu sang ở thế gian này không thể so sánh được. Tại vì sao? Vì thật sự thoát khỏi sanh tử, kể từ nay trở đi mãi mãi không còn luân hồi. Đã thành Phật rồi, thế gian còn có việc gì có thể so sánh với việc này nữa. Cho nên nhất định phải nhận thức nó rõ ràng rồi sau đó mới nỗ lực tu học. Không nên để một đời lún qua! Đồng thời, nên đem sự việc này khuyên bảo thân thích, bạn bè, xóm làng: “Tôi gặp việc hay như vầy! Xin nói cho quý vị biết, nếu không tu thì nhiều đời nhiều kiếp về sau phải chịu ở địa ngục luân hồi, chịu nhiều điều khổ sở”. Nếu không, sau này lỡ gặp lại, quý vị bảo rằng: “Ông không phải người tốt. Lúc ấy ông biết việc tốt, điều hay này sao không bảo cho tôi, báo hại tôi phải sanh tử luân hồi và chịu nhiều đau khổ!”. Còn như chúng ta đã bảo họ, họ không tin thì sau này họ lỡ gặp khổ thì họ không dám trách cứ quý vị. “Ngày trước, tôi đã bảo anh rồi mà anh không chịu tin. Anh rước lấy khổ đau vì anh không chịu tin đó!”. Chỉ cần ta đem pháp môn này khuyên bảo họ, trách nhiệm của chúng ta đã hết rồi. Họ tin hay không tin, tu hay không tu thì tuỳ họ. Việc này chúng ta không thể cố ép được!”…
 
Pháp môn niệm Phật cũng là một trong những pháp môn cơ bản mà đức Phật đã khai thị trong rất nhiều Kinh điển, không những chỉ trong các Kinh Đại Thừa mà còn cả trong hệ Pàli. Trong Kinh Tăng Chi Bộ (HTThích Minh Châu dịch), phẩm Một Pháp, Đức Phật cũng đã đề cập đến pháp môn niệm Phật như sau: “Có một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”…

Công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn. Kinh dạy: “Lễ Phật một lạy phước sanh vô lượng, niệm một niệm Phật tội diệt hà sa”. Quán Kinh nói: “Chí tâm niệm Phật có thể tiêu tội trong tám mươi ức kiếp sinh tử”.
     
Kinh A Di Đà cũng dạy, người niệm Phật được vô số Phật trong nhiều phương hộ niệm. Thật là một pháp môn không thể nghĩ bàn! Đối với người nghiệp nặng, tán tâm mỗi khi đối cảnh mà gặp điều bất an, sợ hãi hay những tập khí xấu, bất thiện phát khởi. Hoặc gặp người khinh chê, chửi mắng nhưng chưa đủ trí tuệ quán thật tướng thì liền nên nhiếp tâm thầm niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì những tâm niệm kia ắt sẽ tiêu tan. Nếu một niệm chí thành, tha thiết thì ngay trong niệm ấy sẽ được Tam Bảo gia trì. Song, muốn được như vậy mọi người phải biết bỏ ác làm lành và giữ giới thật tinh nghiêm thì bên cạnh chúng ta còn có Phật A Di Đà và Bồ-tát Quán Thế Âm… Thì người con Phật còn gì phải lo sợ nữa? Tuy nhiên, mục đích duy nhất của việc niệm Phật là để cầu sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. 

Y cứ của pháp môn này là ba bộ Kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ. Sau này bổ sung thêm phẩm Đại Thế Chí niệm Phật viên thông (Kinh Lăng Nghiêm) và phẩm Mười Hạnh Nguyện Phổ Hiền Bồ-tát (Kinh Hoa Nghiêm) thành Tịnh Độ ngũ Kinh. Chúng ta nên tìm hiểu trong bộ Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục (Như Hoà dịch, NXB Phương Đông) dạy rất rõ về kinh nghiệm tu hành, niệm Phật. Ấn Quang Đại sư là vị tổ Tịnh Độ tông thời cận đại gần chúng ta nhất, nên có những nét tương đồng về thời đại và căn cơ. Vì vậy, chúng ta dễ có thể khế nhập và áp dụng tu hành hơn. Có được tín tâm sâu dày, cách thức hành trì cụ thể của Tổ thì công phu niệm Phật sẽ đắc lực và dễ đi đến chỗ cao tột trong pháp môn. Đó là:“Nhất tâm bất loạn”.
     
Ngày nay, có lẽ do vì chưa nắm chắc về pháp môn này nên có người còn cho là dễ dàng, chỉ dành cho kẻ hạ căn. Đây quả là những lời nhận xét chưa hoàn toàn chính xác. Trong Kinh A Di Đà (HT Thích Trí Tịnh dịch), Phật dạy rất rõ: “Không thể dùng chút ít thiện căn, phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi kia”. Hoặc là: “Niệm Phật hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, cho đến hoặc bảy ngày một lòng không tạp loạn, đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tinh thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà”. Và chúng ta hãy cùng nhau đọc lại một đoạn trong Kinh Vô Lượng Thọ (HT.Thích Đức Niệm dịch) mà nhiều người thường hay đọc tụng sẽ thấy tiêu chuẩn để vãng sanh là rất cao. Phật dạy: “Thế nào gọi là hành thiện bậc nhất? Phải tự tịnh tâm, chánh thân, tai mắt mũi miệng đều phải đoan chánh, thân tâm thanh tịnh, cùng thiện tương ưng, đừng theo thị dục, không phạm điều ác, ngôn sắc hoà diệu, thân hành chuyên cần, hành vi cử chỉ bình tĩnh từ tốn, vội vàng hấp tấp không suy xét chín chắn sẽ hư hỏng hối hận về sau, uổng phí một đời”. Và tiếp theo Phật lại dạy: “Cõi nước Cực Lạc kia vi diệu an lạc thanh tịnh như vậy, há còn phương pháp nào hơn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, tự nhiên thành tựu, xuất nhập cúng dường, quán Kinh tu đạo, pháp hỷ vẹn toàn, trí huệ sáng suốt, tâm không thối chuyển, ý không dãi đãi, ngoài hiện an nhàn, trong lại tinh tấn, dung cách trùm cả thái hư, đạt đến trung đạo, trong ngoài tương ưng, tự nhiên nghiêm chỉnh, hành động chánh trực, thân tâm khiết tịnh, không tham nhiễm ái, chí nguyện cương định, không tăng chẳng giảm, cầu đạo hoà chánh, không bị tà tâm khuynh đảo, tuân lời Phật dạy quyết không trái phạm, nếu đã quyết tâm thì phải kiên trì không nghĩ gì khác, không lo nghĩ ưu buồn, an nhiên vô vi, tâm rỗng như hư không, không lập một pháp, bình thản không tham dục, trọn thành thiện nguyện, dốc lòng cầu tiến, từ bi ai mẫn, lễ nghĩa gồm đủ, sự lý viên dung, đạt đến giải thoát, tự tánh bản nhiên hoàn toàn thanh tịnh, chí nguyện vô thượng, thân tâm tịch định an lạc. Hốt nhiên tâm khai đạt lý giác ngộ triệt để, thấy được thật tướng các pháp, bản thể vũ trụ, quang sắc xen nhau, tất cả chỉ là như như, biến chuyển vô cùng. Uất đơn việt thành thất bảo, nắm rõ vạn vật, sáng sạch hiển lộ tột đẹp vô cùng không gì sánh được, rõ ràng không trên dưới, thông suốt không ngằn mé. Vậy phải hết sức siêng năng tinh tấn, tu tập quyết chắc được vãng sanh về cõi vô lượng thanh tịnh Phật A Di Đà, chấm dứt năm thú, đóng kín ác đạo, đạt đạo không khó, vãng sanh há lại không được sao! Cõi kia không trái lẽ, thuận theo tự nhiên, bỏ tất cả như hư không, siêng năng niệm Phật cầu sanh quyết đến Cực Lạc, thọ mạng an lạc không cùng há lại tham đắm thế sự, toàn là vô thường sầu khổ cả?”...

Chúng ta hãy cùng nhau thọ trì đọc tụng lại nhiều lần cho thật là kỹ những đoạn Kinh trên và tự xét lại mình đã có được những tâm trạng như thế này để niệm Phật hay chưa? Nếu không niệm như vậy thì làm sao để vãng sanh về cõi của “Hạng thượng thiện nhân câu hội” như Kinh A Di Đà đã nói cho được? Niệm Phật mà không được Phật tiếp dẫn, lỗi không phải do Phật, do Kinh điển mà lỗi là ở tại chính mình đã không hiểu hết ý Kinh, không hành trì đúng pháp và không buông xuống hết được. Tu hành giải thoát bí quyết không gì cả chỉ là sự nhìn thấu và buông xuống mà thôi. Buông xuống trong từng tâm niệm ắt sẽ được thành tựu.

Vậy làm sao để có thể buông xuống và đạt được tâm trạng như Phật đã nói để niệm Phật cầu sanh Cực Lạc? Đó chính là trước hết phải nên bắt đầu từ trí tuệ Bát-Nhã vậy! Thấy thân này không thật, chỉ là duyên hợp giả tạm. Thấy thân mình không thật thì ắt sẽ thấy người khác cũng chẳng thật thì những lời nói khen chê, phải quấy đều không chấp. Vì thân không thật, chẳng lẽ lời nói ấy là thật sao? Tất cả thế gian chỉ là ảo ảnh của chân tâm, đồng với huyễn hoá. Hiểu rõ thật tướng thế gian thì ắt sẽ không còn dính mắc không còn tạo nghiệp tham, sân bằng mọi cách vơ vét bồi bổ cho thân giả tạm này nữa. Si mê hết thì tham, sân cũng sẽ không còn, liền có thể buông xuống được tất cả. Mà càng buông thì sẽ càng nhìn thấu và càng nhìn thấu sẽ càng buông. Vì vậy, nếu muốn nhanh chóng thành tựu Đạo nghiệp thì Trí tuệ Bát-Nhã quả là con đường vô cùng quan trọng không nên bỏ qua cho tất cả chúng ta vậy! 

Đến đây chắc cũng có người sẽ hỏi thế những người không biết gì về Bát-Nhã, không biết gì là tụng Kinh nhưng vẫn được vãng sanh thì lý giải thế nào? Nói thật ra những vị như thế này là họ đã từng gieo trồng thiện căn rất sâu dày trong nhiều đời nhiều kiếp rồi. Tuy họ không biết gì là Bát-Nhã, là tịnh độ Kinh nhưng chỉ cần một khi nghe được lời dạy của Phật thì họ liền phát một lòng tin thật chân thành, không một chút hoài nghi, nên họ có thể buông xuống tất cả vạn duyên, vọng niệm và chân thành niệm Phật, đầy đủ tín nguyện thì họ liền khế hợp với Đại Nguyện Đức Phật A Di Đà. Nếu có được lòng tin thanh tịnh và thiện căn sâu dày thì sẽ được như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, phẩm Đại Thế Chí niệm Phật viên thông dạy: Chỉ cần một câu niệm Phật mà hành trì, “Không nhờ phương tiện nào cũng tự được tâm khai”. 

Vì vậy, nói Nguyện và Hạnh là phải hành nơi tâm, chứ không chỉ tụng suông nơi miệng là đủ. Niệm Phật cũng là nhớ Phật tưởng Phật. Niệm Phật phải dùng tâm niệm. Miệng chỉ là phương tiện tạm thời. Nếu miệng và tâm hợp nhau thì tốt vì sẽ được lợi tha. Tu hành chớ nói suông. Dù thông hiểu Kinh điển, nói pháp như thác đỗ mưa rơi nhưng nếu không hành nơi tâm thì luân hồi thế nào vẫn như thế ấy. Trừ bậc tái lai theo thân nguyện lực, dùng mọi phương tiện, kể cả nghịch hạnh để tuỳ duyên độ sanh. Bởi vậy, Phật thường nhắc nhở chúng ta đôi khi biết nhiều, hiểu rộng mà không hành, không buông xuống đúng lúc thì chính sự hiểu biết ấy lại thành một chướng ngại (Sở tri chướng). “Thế trí biện thông” chỉ sự thông minh lanh lợi về thế tục của nhiều người, Phật cũng gọi là một trong “Bát nạn” làm họ không còn tin Đạo lý của Thánh Hiền. Do đó, bí quyết tu hành không  gì cả chỉ là tin sâu nguyện thiết, nhìn thấu buông xuống.  

Cổ đức dạy: “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, đau mồm rát họng cũng chỉ uổng công” cũng là nói đến sự không nhìn thấu và buông xuống hết được này! Vì vậy, điều cần thiết là tất cả hành giả, kể cả Tịnh độ, để công phu chóng thành tựu, ngoài Kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ ra, nên thọ trì và đọc tụng Bát-Nhã. Đọc tụng Kinh điển cũng là một trong 11 điều căn bản mà Phật đã dạy trong Kinh Quán Vô lượng thọ, cho thấy tiêu chuẩn của pháp môn niệm Phật là rất cao, không thể xem thường:  
.
1. Hiếu dưỡng cha mẹ; Phụng sự Thầy Tổ; Từ tâm không sát hại chúng sanh; Tu mười  thiện nghiệp.
2. Thọ trì Tam Quy; Hành trì giới luật; Không phạm oai nghi. 
3. Phát Bồ-đề tâm; Tin sâu nhân quả; Đọc tụng Đại thừa; Khuyến tấn hành giả.

Ngoài ra, khi luận về Cực Lạc, Lục Tổ cũng đã xác nhận trong Pháp Bảo Đàn Kinh rằng: “Thế Tôn ở trong thành Xá Vệ nói Tây Phương dẫn hoá, văn Kinh rõ ràng cách đây không xa. Nếu luận về tướng mà nói, số dặm có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười ác và tám tà, liền là nói xa. Nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người thượng trí, người có hai hạng nhưng pháp không có hai thứ, mê ngộ có khác nhau, thấy có mau chậm” và: “Tâm địa nếu không có bất thiện thì Tây Phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng bất thiện niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên Thiện Tri Thức trước nên dẹp trừ mười điều ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến như trong khẩy móng tay, liền thấy Đức Phật A Di Đà”. Đoạn khác Ngài dạy: “Nhân ngã ấy là núi Tu Di, tà tâm là biển độc, phiền não là sóng mòi, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỷ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh. Này Thiện Tri Thức, thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhân ngã thì núi Tu-di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mòi mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên Tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời dục. Tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục v.v… các tội một lúc đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây Phương. Không chịu tu như thế này làm sao đến được cõi kia?”. Lục Tổ cũng nói: “Không đoạn mười điều ác thì Phật nào đón tiếp”. Thật rất đáng để chúng ta suy ngẫm lại vậy! 

Dung hợp diệu lý sâu xa các đoạn Kinh trên, sẽ thấy mọi pháp môn Thiền, Tịnh đều có thể dung thông nhau. Nếu hành trì niệm Phật đúng pháp, dùng một niệm Phật từ chân tâm khởi sanh để đánh tan tất cả vọng niệm đến lúc sẽ thành phiến gọi là:“Không niệm mà tự niệm” rồi tiến đến“Nhất tâm bất loạn” và“Niệm Phật tam muội” thì đồng với cảnh giới thiền tông. Một thông thì tất cả đều thông. Thời kỳ đầu (Kinh số 131 “người biết sống một mình” trong Trung Bộ Kinh và Kinh số 1071 trong Kinh Tạp A Hàm), Đức Phật đã dạy: Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng mà hãy an trụ trong chánh niệm ở hiện tại và không dính mắc với hiện tại.
     
Với pháp môn này, chánh niệm chính là trụ tâm nơi câu niệm Phật (trong tu chỉ thì trụ nơi hơi thở hoặc câu thoại đầu). Sau khi đã hàng phục tâm quá khứ và vị lai, nếu là hàng thượng căn, cũng có thể tiến đến chỗ cứu kính rốt ráo mà Kinh Kim Cang đã dạy: “Quá khứ tâm không thể được, hiện tại tâm không thể được, vị lai tâm không thể được”. Đại Sư Ngẫu Ích nói: “Nếu chứng được rốt ráo tam tâm thì sinh trong cõi Thường Tịch Quang”. Kinh cũng dạy: “Nếu ai chỉ niệm A Di Đà Phật thì gọi là vô thượng thâm diệu thiền”. Ngoài ra, niệm Phật cũng là chân thật hành lục độ Ba-la-mật vậy! 

Như vậy, cho thấy dù tu pháp gì, hành giả trước hết cũng phải đoạn mười nghiệp ác. Ba nghiệp của thân: Sát sanh; Trộm cắp;  Tà dâm. Bốn nghiệp của miệng: Nói dối; Nói lời hai lưỡi; Nói thêu dệt; Nói lời hung dữ. Ba nghiệp của ý là: Tham; Sân; Si. Và tu mười nghiệp lành là ngược lại không làm mười điều ác trên. 

Đoạn Kinh trên, Lục Tổ dạy dành cho hạng thượng căn. Nhằm chỉ thẳng chân tâm, thấy tánh và ngay đó là: “Tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ”. Về lý thì có thể đốn ngộ, nhưng về sự phải tiệm tu. Hành giả phải có công phu thật sâu dày thì mới vào được cảnh giới ấy. Không nên chấp lý, bỏ sự mà phải nương lý để hành sự. Hành sự sâu sẽ tỏ được lý và tiến đến sự lý viên dung, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại thì mới chân thật lợi ích. Người có căn cơ, đủ duyên và quan tâm nên tham khảo một số bài giảng của Thượng toạ Thích Giác Khang, Trà Vinh về tịnh độ trên nền tảng Bát-Nhã và Duy thức, hoặc của chư vị Đại Đức khác để hiểu và tin sâu hơn về Tịnh Độ.
     
Đối với hành giả xét thấy mình chưa được khả năng và căn cơ trực chỉ ấy thì hãy phát lòng Tin sâu, Nguyện thiết và cầu sanh về Cực Lạc theo ba bậc chín phẩm mà Quán Kinh đã dạy. Đại Sư Ngẫu Ích nói: “Được vãng sanh hay không là do tín nguyện có hay không, phẩm vị thấp hay cao là do hành sâu hay cạn”. Vì vậy, chúng ta nên phát nguyện sâu rộng đến Thượng phẩm Thượng sanh, phát tâm Vô thượng Bồ-đề mà tinh tấn hành trì. Kinh Vô Lượng Thọ cũng dạy, vãng sanh về Cực Lạc thì liền đầy đủ Lục thông, chứng Bồ-tát bất thối chuyển, gặp Phật, nghe pháp và tiến tu một đời sẽ thành Phật. Đây là pháp khó tin:“Nan tín chi pháp”. Vì thế giới Tịnh Độ chư Phật là thế giới của hiện tiền, phi không gian, phi thời gian và rời tất cả tướng hý luận thế gian. Còn thế giới ngũ trược của chúng ta là thế giới của nhân duyên, chu kỳ… Vì vậy, thế gian rất khó tin. Nếu dùng tư tưởng sanh diệt kiến giải thì không thể được. 
***
Vì tông chỉ của pháp môn là Tín, Nguyện, Hạnh thì khi niềm tin sâu đã có rồi, tiếp theo chúng ta phải hiểu được thật tường tận: Nguyện và Hạnh. Riêng pháp môn này cần phải có tâm xả ly Ta-bà và hân nguyện Tịnh độ. Nguyện là phải Phát Nguyện chí thành, tha thiết muốn vãng sanh về Cực Lạc. Không mong sống lâu giàu sang, phước báu cõi trời, người. Lại không mong cầu bất cứ điều gì khác chỉ trừ một nguyện thanh tịnh duy nhất là ngay khi xả bỏ báo thân này sẽ được Phật A Di Đà hiện thân tiếp dẫn. Và chỉ đi theo Phật mà không theo bất kỳ một ai khác. Cho dù người thân, chư thiên hoặc vua cõi trời có đến rước thì cũng nhất định không theo. 
     
Vì vậy, nguyện vô cùng quan trọng. Nếu không phát nguyện thì sẽ không thể vãng sanh về Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Trong pháp môn này nếu xét về hạnh thì gồm có: Chánh Hạnh và Trợ Hạnh. Chánh hạnh là chỉ chuyên tâm niệm Phật không gián đoạn, không xen tạp, không hoài nghi. Trợ hạnh là phải đoạn mười ác, tám tà, tuỳ duyên hành thập thiện lợi ích chúng sinh và cũng là nhằm loại bỏ những tập khí xấu ác tiềm ẩn trong tâm. 

Lại nữa, pháp môn này rất thù thắng vì có thể: “Đới nghiệp vãng sanh”. Nếu có ai đó nói không tìm đâu ra những từ này trong Kinh, chỉ là do chấp trên văn tự. Ba bậc, chín phẩm vãng sinh Quán Kinh đã nói, cùng với bốn cõi: Phàm, Thánh Đồng Cư Độ; Phương Tiện Hữu Dư Độ; Thật Báo Trang Nghiêm Độ và Thường Tịch Quang Tịnh Độ thì: “Phàm, Thánh Đồng Cư” chính là “Đới nghiệp vãng sanh” vậy! Đới nghiệp là nghiệp cũ. Do vô minh nên trót tạo tác. Giờ đây, giác ngộ và sám hối nguyện không dám nữa. Chứ biết sai trái rồi mà còn tạo nghiệp thì khó được? Hành giả phải lưu ý để không uổng một kiếp người khó được, Phật pháp khó gặp vậy! 

Bên cạnh đó, chúng ta phải hiểu rõ hai chữ: “Buông xuống”. Đây cũng là tâm xả ly Ta-bà vậy! Buông ở đây chưa nhất thiết phải là trên hình tướng, nhất là đối với Phật tử tại gia, khi còn những ràng buộc thế tục. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể buông trong từng tâm niệm. Chúng ta đang sống trong trần nhưng đừng để bị kẹt với trần. Quý vị có gia đình, con cái, tài sản...thì tuỳ duyên sống và làm tròn bổn phận, nhưng không chấp trước, không dính mắc trong tâm. Kể cả tốt, xấu không ghiền (dính mắc) một điều gì. Nếu có điều kiện nên tuỳ  duyên làm lợi ích chúng sanh. Tập buông xả như vậy thì mới mong thành tựu. Nếu còn một tâm niệm dính mắc với cõi trần này thì liền ngăn cách với Đại Nguyện tiếp dẫn của Phật, rất khó mà vãng sinh được, liền phải oan uổng trở về và tái sanh một kiếp khác để nhằm thoả mãn cho cái tâm niệm kia vậy! Do đó, là người tu tịnh nghiệp, chúng ta không nên thề thốt, hay hứa hẹn điều gì như kiểu của thế gian mà chỉ tuỳ duyên làm những gì trong hiện tại. Vì nếu không may lâm chung đến mà lời thề hứa chưa làm thì chúng cũng có thể kéo chúng ta về lại trong luân hồi. Phật cũng đã từng nhắc nhở chúng ta phải an trụ trong chánh niệm và:“Không nên thiết lập một pháp”. Chánh niệm ở đây, chính là chỉ niệm Phật, ngoài ra cho đến lúc ra đi không khởi một niệm gì khác mới mong thành tựu. Kể cả nếu còn tâm niệm không biết niệm Phật có được vãng sanh hay không thì sẽ khó có thể vãng sanh vì niềm tin chưa sâu. Mà phải tin chắc chắn 101% rằng mình sẽ vãng sanh nếu đầy đủ: Tín, Nguyện, Hạnh ắt sẽ khế hợp với Đại Nguyện của Phật. 

Trong nhà Phật cũng có một số câu chuyện cận tử nghiệp và những tâm niệm cõi trần không buông xả hết được lúc lâm chung rất đáng để cho chúng ta suy ngẫm. Kinh đã dẫn ra câu chuyện: Có một lần khi đi khất thực theo thứ lớp, Đức Phật dừng trước nhà một người. Gia chủ đã đi vắng, chú chó chồm ra sủa dữ dội. Đức Phật nhìn thẳng vào chú chó và nói: Thôi hãy nín đi! Và nó đã sợ sệt, buồn bã chạy vào nhà. Một lát sau, chủ nhà tên là Su-ka trở về thì nhìn thấy chú chó buồn rầu nên hỏi người giúp việc và được biết, lúc nãy có vị sa-môn Gotama đến khất thực trước cổng. Chó sủa và vị ấy đã nói điều gì đó. Su-ka tức giận đến tịnh xá Kỳ Viên gặp Phật vì nghĩ rằng Phật đã làm gì đó để cho chú chó phải buồn bã. Đức Phật quán thấy nhân duyên đã đến, liền bảo: Này thiện hữu! Ông đừng vội tức giận! Hãy trở về phòng ngủ đào đất nơi dưới giường lên sẽ thấy một hủ vàng mà cha ông đã cất giấu từ lâu không cho ai biết, thì chú chó sẽ hết buồn. Chú chó ấy, kiếp trước chính là cha ông đó! Khi lâm chung chính vì tâm niệm sợ không ai giữ của báu này mà ông ấy tái sinh về làm thân chó giữ của. Su-ka vô cùng kinh sợ nhưng cũng đã làm theo lời Phật và quả thật là như vậy! Sau này, Su-ka còn nói thêm, là từ khi chú chó này sinh vào nhà mình thì suốt ngày đêm chỉ nằm chỗ này. Người trai trẻ liền đến sám hối Đức Phật và phát tâm Quy Y Tam Bảo. 

Qua đây cho thấy, cận tử nghiệp và những tâm niệm cuối cùng lúc lâm chung là vô cùng quan trọng. Do vậy, lúc còn khoẻ chúng ta phải nỗ lực tu hành niệm Phật và tập buông xuống cho thành thục. Niệm cuối cùng phải là niệm Phật, nhớ Phật tưởng Phật thì vãng sanh mới có thể thành tựu. Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng dạy: “Nhớ Phật, tưởng Phật thì hiện tại tương lai nhất định thấy Phật”. Nếu hiểu rõ chữ “buông” thì có thể tu thành tựu bất kỳ hoàn cảnh nào, dù thuận hay nghịch cảnh. Kinh cũng đã dạy: “Tu một ngày một đêm ở Ta-bà bằng một trăm năm trên cõi Cực Lạc”. Nếu ngay trong cõi “Ngũ trược ác thế” này mà biết vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tu hành thì công đức thật không thể nghĩ bàn!

Về phương pháp niệm Phật, tuỳ hoàn cảnh, căn cơ mỗi người mà có cách hành trì khác nhau. Người bận rộn thì theo phương pháp: “Mười niệm”. Chúng ta chia ra cho phù hợp với công việc, càng nhiều thời càng tốt. Buổi sáng lúc ngủ dậy, trước khi ăn, trước khi đi làm, trước khi ra về. Chiều và tối cũng thế!

Cho đến trước khi ngủ cũng niệm Phật. Nếu trong nhà có bàn thờ Phật thì đến trước bàn thờ, trước hình tượng Đức Phật A Di Đà. Nếu chưa thì quay mặt về hướng Tây, hoặc sao cho thuận tiện và bắt đầu tịnh tâm niệm Phật. Niệm thành tiếng, niệm thầm đều được, nhưng phải liên tục trong mười niệm không để bất cứ vọng niệm nào khác xen tạp.

Bước đầu, nên đếm số từ 1 đến 10. Nửa chừng nếu có vọng niệm, phải đếm lại từ đầu và hành theo nhiều chu kỳ như thế đến khi thành thục thì không cần đếm nữa. Hành lâu ngày không thối lui thì cũng có thể đạt: “Không niệm mà tự niệm”. Tiếng niệm Phật một khi đã đầy trong A-lại-da (tàng thức) thì tự chúng sẽ trào ra một cách hồn nhiên, an lạc. Lúc đó, ta có cảm giác như trên không trung có tiếng niệm Phật.

Nếu giữ được như vậy, đặc biệt là ngay lúc lâm chung, phải buông hết tất cả niệm trần (người thân, của cải…) mà chỉ một lòng niệm Phật. Phải xác định trước rằng, dù có nghĩ về họ cũng không thể nào thay đổi được gì, mà chỉ một việc cần làm lúc này là nhớ Phật, niệm Phật và nguyện tha thiết được vãng sanh ắt sẽ được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc thành bậc Bồ-tát. Sau đó mới đầy đủ năng lực để hoá thân về lại cứu độ họ cùng vô lượng chúng sanh cũng từng là ông bà, cha mẹ trong nhiều đời nhiều kiếp. 
     
Tuy nhiên, trong trì danh niệm Phật, cao tột hơn hết vẫn là phương pháp: “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” của ngài Đại Thế Chí Bồ-tát trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Trong sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thì ý căn là quan trọng nhất. Đối với hàng thượng căn, thì họ chỉ cần đi vào ý căn là đủ.

Đối với hàng hạ và trung căn, chúng ta phải biết phương tiện dùng một căn phù hợp mà đi vào thì năm căn còn lại lần lượt sẽ được nhiếp theo. Thông thường, sau ý căn thì nhãn căn và nhĩ căn là nhạy cảm hơn hết. Nhãn căn thì khi ngồi tĩnh toạ đã được khép lại rồi.

Vì vậy, chúng ta có thể dùng nhĩ căn để đi vào và nhiếp niệm các căn kia. Lúc đầu, hành giả ngồi tĩnh toạ, buông xả và bắt đầu niệm Phật thành tiếng, bốn hay sáu chữ đều được, chỉ còn duy nhất một câu Phật hiệu trong tâm. Khi chưa thuần thục, đôi khi có vọng niệm cũng không cần quan tâm đến vì biết đó là vọng, đừng theo thì đến lúc chúng sẽ tự lặn.

Sau một thời gian tinh tấn công phu, không niệm bằng miệng nữa, mà cố gắng lắng lòng nghe lại tiếng niệm Phật trong tâm. Đi, đứng, nằm, ngồi trong mọi oai nghi và tất cả thời đều trì niệm chỉ một câu Phật hiệu. Lúc đều đặn, lúc chậm, lúc nhanh tuỳ vào trạng thái của tâm là an lạc, căng thẳng hay hôn trầm.

Tổ Ấn Quang dạy, kể cả trong phòng vệ sinh, tắm rửa hay trong lúc nằm, ngủ, nghỉ… chớ nói là không được niệm Phật, nhưng những lúc như thế chỉ nên niệm thầm hoặc niệm trong tâm vì niệm thành tiếng sẽ bất kính. Hơn nữa, khi nằm mà niệm thành tiếng sẽ tổn khí, phí sức và dễ sanh bệnh.

Như vậy, nên nhớ lúc nào cũng phải trì niệm trong tâm đừng để gián đoạn. Nếu gián đoạn ắt khó thành. Như thể khi đun nước sôi vậy! Phải đầy đủ lửa cho đến khi nào nước sôi mới xong.

Nếu câu Phật hiệu trong tâm có lúc mờ nhạt đi thì hãy tự khởi niệm lại bằng miệng. Sau đó niệm bằng tâm, nghe lại tiếng Phật hiệu đó từng câu, từng câu rõ ràng, rành mạch. Cứ như thế mà hành trì không gián đoạn, không xen tạp đến một lúc sẽ đạt đến chỗ thành phiến gọi là: “Không niệm mà tự niệm”. Lúc này, câu niệm Phật cứ tự nhiên tuôn chảy trong tâm vô cùng an lạc.

Và cứ tiếp tục tinh tấn như thế, nhẫn cho đến nhất tâm cũng không mong cầu. Vì nếu còn mong cầu nhất tâm thì tâm mong cầu đó lại trở thành vọng niệm, xen tạp nên sẽ chướng ngại nhất tâm. Nếu còn niệm mong cầu nhất tâm thì nhất tâm sẽ khó đến. Nên hiểu rõ, một câu niệm Phật khởi lên từ chân tâm, ngay sau niệm đó tuyệt đối không  để cho bất cứ một niệm nào khác xen tạp vào.

Lại nữa, không nên mong cầu cảm ứng, hay thấy cảnh giới này nọ. Vì do cầu mà thấy thì có thể cảnh giới không thật, dễ lạc vào đường tà.

Nếu không cầu mà tự thấy thì có thể là cảm ứng đạo giao không thể nghi bàn. Nhưng không nên tham đắm, chấp trước sau này sẽ dễ bị ma cảnh lợi dụng. Một khi mây mù mà tan hết thì mặt trời quang minh ắt sẽ hiển lộ soi khắp thế gian. Ví như lau gương, khi bụi hết, gương sẽ trong sáng. Sum la vạn tượng đều hiện rõ. Việc nhất tâm cũng lại như thế! Chỉ một câu niệm Phật niệm đến cùng. Một khi nhân duyên hội đủ, ngã nhân đều không, vọng niệm sạch hết, ắt sẽ khế nhập. Lúc đó không cầu nhất tâm, nhất tâm cũng sẽ đến.
     
Như thể trái cây vậy, khi còn xanh chúng ta muốn chín cũng không thể được. Khi đủ duyên rồi, dù không mong muốn trái vẫn tự chín. Chư Tổ dạy, nếu đạt nhất tâm thì cảnh giới cao tột. Hành giả có thể sanh về đến Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Tổ Ấn Quang có dạy: “Trì đến nhất tâm bất loạn thì diệu lý thật tướng sẽ hiển lộ toàn thể, diệu cảnh Tây Phương triệt để phô bày trọn vẹn, tức là trì danh mà chứng được thật tướng, chẳng quán tưởng mà thấy cùng tột cảnh Tây Phương”. Lâm chung được Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện tiền tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, thoát khỏi luân hồi, chứng bất thối Bồ-tát, gặp Phật nghe pháp và tiến tu một đời thành Phật, viên mãn Bồ-đề về Vô sở đắc.

Bên cạnh đó, hiện nay có một số người chưa rõ nên  cũng còn phân vân nên niệm bốn chữ: A Di Đà Phật hay sáu chữ: Nam mô A Di Đà Phật? Trong tác phẩm “Trúc song tuỳ bút” của Tổ Sư Liên Trì có nói: Khi dạy cho đệ tử thì Ngài dạy niệm sáu chữ, nhưng tự Ngài hành trì thì chỉ bốn chữ. Và Ngài đã giải thích rằng sáu chữ thì thêm phần cung kính, bốn chữ thì ngắn gọn nên dễ nhất tâm… Vì vậy, chúng ta đừng bị kẹt trên văn tự mà phải nên tuỳ duyên uyển chuyển niệm sao cho phù hợp với căn cơ của mình là được. Đừng chấp trước sáu hay bốn mà sanh tâm phân biệt hay hoài nghi thì đều là chướng ngại. Đem hết tâm chân thành để niệm Phật và mục đích cứu kính đến nhất tâm mới là điều quan trọng. Nếu đạt nhất tâm thì chẳng những lòng cung kính cũng không một chút mảy may thiếu sót mà còn sẽ chân thật giải thoát, báo đáp ân sâu Tam Bảo trong muôn một.

Một trong những điều cần nên lưu ý đối với người sơ phát tâm là vọng tưởng rất nhiều mỗi khi niệm Phật dễ làm nhiều người tỏ ra chán ngán, thối tâm. Chúng ta nên biết, khi chưa tu thì tâm động loạn, vọng tưởng khó thấy. Khi tu thì tâm đi vào thanh tịnh, giác biết nên mới thấy vọng tưởng nhiều.

Vì vậy, ở giai đoạn đầu, vọng tưởng về nhiều chưa hẳn là điều xấu, mà cho thấy tâm chúng ta đã bắt đầu thanh tịnh. Do đó, đừng nên chán ngán và bỏ cuộc sẽ rất đáng tiếc! Nếu sanh tâm chống đối, trốn chạy thì sẽ càng nhiều. Cổ nhân dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Chúng ta không cần phải đuổi mà chỉ cần giác biết chúng là hư vọng, chẳng phải thật, không theo thì đến lúc chúng sẽ tự lặn mất. 

Ngoài ra, một số phương pháp hành trì, phát nguyện, hồi hướng… Quý vị tham khảo một số luận giải, sớ sao của chư Tổ và nghi thức tụng niệm để được rõ hơn.

Tổ thứ 12 Tịnh độ, ngài Triệt Ngộ Đại sư nói: “Nghiệp lực tuy lớn, nhưng tâm lực lại càng lớn hơn. Vì nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương nơi tâm. Nếu biết chú tâm mà tu Tịnh độ thì tịnh nghiệp sẽ mạnh, khi lâm chung quyết định sẽ được sinh về Tây Phương.

Ví như cây to, nếu nghiêng về Tây, ngày kia khi đổ ắt sẽ ngã về Tây vậy!”. Nếu đầy đủ Tín Nguyện Hạnh và hành đúng pháp ắt sẽ thành tựu như tổ Vĩnh Minh và tổ Thiện Đạo đã từng nói: “Vạn người tu thì vạn người về”. Yên tâm một đời này có thể vượt thẳng Tam Giới, liễu thoát sinh tử, không một ai không có phần. Tổ thứ tám của Tịnh Độ tông - Ngài Liên Trì Đại Sư nói: “Người nào không có phần ư? Người không tin thì không có phần”… 
Quảng Huy
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z