Phật Giáo

Kỳ 2: Am Ngọa Vân

Thứ năm, 02/08/2013 | 14:02

Không chỉ là một vị tướng tài mà Trần Nhân Tông còn là một nhà tư tưởng, một nhà thơ và đặc biệt ông chính là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một tông phái Phật giáo đậm chất văn hóa Đại Việt

Chương II
TRẦN NHÂN TÔNG, ANH HÙNG DÂN TỘC, DANH NHÂN VĂN HÓA

Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 của nhà Trần, tên húy là Khâm, ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 8 (1258). Năm mười sáu tuổi (1274) được sắc phong làm Hoàng thái tử, kết hôn cùng con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Ngày 22 tháng 10 năm 1278 được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi khi mới 21 tuổi, ông làm vua 14 năm (1278-1293).

Năm 1293, ở tuổi 35, ông nhường ngôi cho con, lui về Thiên Trường làm Thái Thượng hoàng 1, xuất gia tu tập tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình). Năm 1299, khi vua Trần Anh Tông đã đủ trưởng thành, Thượng hoàng Trần Nhân Tông chính thức xuất gia tu hành khổ hạnh tại đỉnh Tử Tiêu núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và tự xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ.

Trong lịch sử dân tộc, vua Trần Nhân Tông là một trong những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu. Vốn là người thông minh trời phú cộng với tính ham học, lại thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng rãi với tinh thần cởi mở; kết hợp kiến thức khoa học với văn chương; quân sự với âm nhạc vì thế, ngay từ khi còn trẻ ông đã học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm bắt một cách sâu sắc.

Nhờ có đủ tầm vóc về bản lĩnh và trí tuệ như vậy nên mặc dù vừa lên ngôi, vua Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua tình thế hết sức hiểm nghèo có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc, đó là việc quân Nguyên Mông ráo riết chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ hai.

Bằng bản lĩnh và trí tuệ của mình, ông đã khéo léo thi hành các chính sách ngoại giao mềm dẻo nhằm tạo cơ hội cho quân dân Đại Việt có thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị khí giới đồng thời khẩn trương tiến hành một loạt biện pháp nhằm nâng cao tiềm lực chính trị, kinh tế, quân sự, vv… để chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược mà ông biết chắc chắn rằng nó sẽ diễn ra.

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, trên dưới một lòng, anh em hòa thuận, ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh bại hai cuộc tấn công xâm chiếm của Nguyên Mông, cuộc xâm lược lần thứ 2 (1285) và cuộc xâm lược lần thứ 3 (1288) kết thúc bằng chiến thắng trên sông Bạch Đằng, một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, để cho “non sông ngàn thủơ vững âu vàng”2. Dấu ấn của chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3 trên sông Bạch Đằng hiện còn lại trên đất Yên Đức của quê hương Đông Triều và những bãi cọc tại Yên Hưng (Quảng Ninh).
Chiến thắng trên sông Bạch Đằng (1288), tranh sơn dầu

Mặc dù quân dân Đại Việt đã giành thắng lợi vẻ vang, bảo vệ vững chắc độc lập của dân tộc song một thực tế rõ ràng là, sau chiến tranh không ít làng xóm, gia đình bị li tán, mùa màng bị tàn phá. Trước tình hình đó, chỉ mấy ngày sau chiến thắng, khi về Thăng Long vua Trần Nhân Tông đã ban chiếu, tuyên bố lệnh đại xá cho thiên hạ và tha tô thuế, tạp dịch cho những vùng đã trải qua chiến tranh, các vùng khác tùy vào mức độ bị tàn phá mà giảm.

Tiếp sau đó vua cho ban hành hàng loạt chính sách nhằm khoan thư sức dân, thúc đẩy sản xuất, tiến hành khen thưởng những người có công lao trong hai cuộc chiến, đồng thời tùy vào nặng nhẹ mà xử lý với những người mắc tội, để những người lầm lỡ hàng giặc khi giặc tới xâm lược được yên tâm sống, làm việc và có cơ hội chuộc lại lỗi lầm bằng việc lao động, sản xuất và cống hiến. Vua Trần Nhân Tông đã cho đốt toàn bộ giấy tờ, biểu, tấu mà họ đã gửi xin hàng giặc.

Song song với việc giải quyết chính sách hậu chiến, việc tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phi quân sự bằng việc “chọn các quan văn chia đi cai trị các lộ” cũng được triển khai để thực hiện việc cai trị đất nước theo pháp luật. Từ đó tạo điều kiện cho người dân mở mang sản xuất, phát triển kinh tế. Với hàng loạt chính sách có tính sách lược và chiến lược được ban hành như vậy, Trần Nhân Tông đã đưa Đại Việt nhanh chóng “bước ra khỏi cuộc chiến”, các mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, nhân dân được hưởng cuộc sống thái bình thịnh trị. Có được những kết quả đó là nhờ tài năng và công đức của vua Trần Nhân Tông.

Bên cạnh công cuộc tái thiết đời sống vật chất, tạo bộ mặt tươi đẹp cho đất nước và con người, thì việc xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh cho người dân cũng được vua Trần Nhân Tông quan tâm một cách sâu sắc. Ông tổ chức và gây dựng một quá khứ thần thánh cho dân tộc bằng việc phong thần cho những người có công với dân với nước như Phù Đổng Thiên Vương, Sĩ Nhiếp, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Phùng Hưng, Lý Thường Kiệt v.v.. Trong hai đợt phong thưởng cho những người có chiến công trong các cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288, vua Trần Nhân Tông đã không quên tỏ lòng biết ơn những vị anh hùng đã khuất bằng cách phong thưởng cho họ các danh hiệu cao quý 3.

Không chỉ là một vị tướng tài mà Trần Nhân Tông còn là một nhà tư tưởng, một nhà thơ và đặc biệt ông chính là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một tông phái Phật giáo đậm chất văn hóa Đại Việt. Tư tưởng Phật giáo của Ông là: hãy vui đạo giữa đời (cư trần lạc đạo), tư tưởng đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và nó được đánh giá là sự kết tinh những giá trị cao cả nhất của nhân loại: Trí tuệ, lòng nhân ái và sự hòa giải.

 Am Ngọa Vân (ảnh Anh Minh)

Trên phương diện văn chương, Trần Nhân Tông sáng tác nhiều thể loại văn học khác nhau bao gồm: thơ, phú, ngữ lục, vv.. thơ văn của Trần Nhân Tông “là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do của một nghệ sĩ. Ở đấy cũng thể hiện sự hòa hợp khó chia tách giữa một ngòi bút vừa cung đình vừa bình dị, dân dã, có cả những kiến thức sách vở uyên bác với sự từng trải lịch lãm”4 .

Với những đóng góp lớn lao trong việc lãnh đạo nhân dân Đại Việt trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước, đưa đất nước phát triển về mọi mặt, làm phát triển hơn nữa những giá trị của nền văn minh Đại Việt, ông đi vào lịch sử dân tộc với vị trí một vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

Còn nữa...
Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013

-
1. Các vua nhà Trần làm vua một thời gian thì nhường ngôi cho con để lên làm Thái Thượng hoàng. Lên làm Thái Thượng hoàng không phải là để nghỉ ngơi mà là để dìu dắt, giám sát và cùng tham gia điều hành đất nước với vua, giúp vua làm quen với việc quản lý, điều hành đất nước. Chế độ này tạo nên tính liên tục trong quản lý và điều hành đất nước của nhà Trần. Ban đầu Thượng hoàng ở Bắc cung tại Thăng Long, khi Thiên Trường được xây dựng thì Thượng hoàng về ở tại cung Trùng Hoa, phủ Thiên Trường (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).
2. Trích thơ Trần Nhân Tông
3. Lê Mạnh Thiết. Trần Nhân Tông toàn tập, Nxb TPHCM
4. Thơ văn Lý - Trần, tập II. tr452

TIN, BÀI LIÊN QUAN:


Nguyễn Văn Anh
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ

Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z