Kỳ 7: Người chết sẽ đi về đâu?
Về loạt bài “Tâm linh huyền bí”
Những câu chuyện về tâm linh, nhân quả hay những hiện tượng chưa thể lý giải bằng khoa học luôn khiến con người vừa tò mò, vừa suy ngẫm. Đó cũng là vùng giao thoa giữa niềm tin, trải nghiệm cá nhân và những bí ẩn chưa có lời giải cuối cùng.
Từ hôm nay, chúng tôi khởi đăng loạt bài “Tâm linh huyền bí” của nhà báo Hoàng Anh Sướng, được trích một phần tác phẩm như Nhân quả và Phật pháp nhiệm màu tập 3. Qua góc nhìn của người làm báo nhiều năm theo đuổi đề tài tâm linh, loạt bài mở ra những câu chuyện kỳ lạ, những trải nghiệm đặc biệt và cả những suy tư về đời sống tinh thần của con người.
Thế giới tâm linh vẫn luôn rộng lớn, huyền bí và đầy thôi thúc để con người tiếp tục tìm hiểu, khám phá và chiêm nghiệm.
Kể từ khi loài người có mặt trên trái đất này, sinh ra, lớn lên, già, mắc bệnh rồi chết, hàng ngàn năm qua, biết bao người, biết bao thế hệ đã từng đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng đã có biết bao câu trả lời. Nhưng cho đến tận ngày hôm nay, năm 2020 của thế kỷ 21 này, dường như loài người vẫn chưa tìm ra một đáp án chung, thống nhất. Bởi mỗi một sắc tộc, mỗi tầng lớp người, mỗi cá nhân, tùy theo niềm tin tôn giáo, tùy theo nhận thức, hiểu biết mà có những quan niệm và cách ứng xử khác nhau về cái chết.
Người Ai Cập cổ đại có lẽ là dân tộc đầu tiên trên thế giới miêu tả một cách kỹ lưỡng, chi tiết bản chất của cái chết và thế giới bên kia - cõi âm. Hơn 3.500 năm trước, vào khoảng 1550 trước công nguyên (TCN), thời kỳ đầu của Tân Vương quốc Ai Cập, khi tống táng người chết, một trong những vật dụng không thể thiếu của người Ai Cập là cuốn “Sinh tử kỳ thư” hay còn gọi là “Cuốn sách của cái chết” (Book of the Dead) được ghi chép trên giấy cói. Đây là một tài liệu tôn giáo cổ tập hợp những bùa chú, phép thuật để giúp linh hồn người chết sang thế giới bên kia một cách thuận lợi, dễ dàng. Nó được viết bởi nhiều thầy tư tế trong thời gian khoảng 1.000 năm.

Một dân tộc khác cũng quan tâm đến cái chết từ rất sớm, đó chính là Tây Tạng - vùng đất của chư Phật, chư Thánh, chư Thiên, cái nôi của Mật tông. Trong khi các kinh điển của Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa chỉ đề cập một cách sơ lược về cái chết và cảnh giới bên kia cửa tử thì Phật giáo Tây Tạng lại tìm hiểu rất sâu, miêu tả, giải thích một cách chi tiết, tỉ mỉ, kỹ càng. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi dường như bất kỳ câu chuyện nào của người Tây Tạng cũng nhắc đến cõi này.
Cuốn sách nói về cái chết nổi tiếng nhất mà bất kỳ người dân Tây Tạng nào cũng biết đó là cuốn Tử thư (nguyên nghĩa là “Giải thoát qua âm thanh trong Trung hữu”) của Đại sư Liên Hoa Sinh, được tìm thấy vào khoảng thế kỉ thứ 14. Ngài là một Đại sư Ấn Độ, sống cùng thời vua Tây Tạng Trisong Detsen (755-797).
Đại sư Liên Hoa Sinh là người đầu tiên truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ vào Tây Tạng và sáng lập tông phái Ninh Mã - một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là “Vị Phật thứ hai”. Đại sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Đại sư Liên Hoa Sinh rất đa dạng, từ cách sử dụng đao trủy thủ đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Đại cứu cánh. Ngài đã truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư.
Ban đầu, giáo pháp Tử thư là một phép tu của Mật tông dành cho hành giả quán cảnh tượng cái chết. Dần dần, theo thời gian, Tử thư trở thành nội dung khai thị trong lễ cầu siêu cho người chết. Dựa trên Tử thư, lễ này chia làm nhiều giai đoạn. Từ lúc miêu tả cảnh tượng khi chết, đến lúc xuất hiện các ánh sáng, phương thức chủ động lựa chọn nơi chốn đầu thai hay hướng dẫn cho người đang hấp hối. Nó giúp cho người chết biết cách tìm đến những cõi giới tốt lành, tránh đọa lạc vào ba đường ác là Ngạ quỷ, Địa ngục và Súc sinh.
Theo cuốn Tử Thư, vòng luân hồi có thể tạm chia ra làm bốn phần hay bốn giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Sự sống. Đây là khoảng thời gian từ khi sinh ra cho đến lúc chết. Nói một cách giản dị thì đó là một kiếp người.
Giai đoạn thứ hai: Hấp hối và chết. Đây là khoảng thời gian từ khi rời bỏ thể xác cho đến khi bước sang Cõi Sáng.
Giai đoạn thứ ba: Sau khi chết. Đây là lúc sống trong Cõi Sáng, một khoảng thời gian rất đặc biệt khi thần thức được khai mở để kinh nghiệm chân tâm.
Giai đoạn thứ tư: Tái sinh - khoảng thời gian từ lúc chuẩn bị để tái sinh cho đến khi sinh ra.
Các danh sư Tây Tạng tin rằng, trong lúc chuyển tiếp giữa hai giai đoạn, cơ hội để giải thoát hay để phá tung lưới sinh tử có thể thực hiện được. Đó chính là mật pháp của cuốn Tử Thư Tây Tạng hay sự giải thoát nhờ biết cách chuyển thần thức, không để bị nghiệp tiếp tục dẫn đi vào vòng sinh tử luân hồi. Nghiệp lực là sức mạnh của các thói quen xuất phát từ thân, khẩu và ý. Trải qua bao kiếp luân hồi, chúng ta đã tạo biết bao nhiêu nghiệp lành, dữ.
Nghiệp có thể chia làm hai loại: Tích lũy nghiệp là nghiệp chất chứa từ lâu, tùy theo nhân duyên dần dần phát động. Và Cận tử nghiệp phát động ngay trước khi chết. Ví như một người làm nhiều việc lành nhưng trước khi chết lại gây ra một nghiệp ác và nghiệp quả này phát động ngay (Cận tử nghiệp) nên thay vì tái sinh vào các cảnh giới lành, người đó lại bị đọa lạc vào ba đường ác. Dĩ nhiên những nghiệp lành kia không hề mất nhưng tiềm ẩn và sau khi trả hết nghiệp ác, họ sẽ hưởng các điều lành theo đúng nguyên tắc của luật nhân quả. Vì không ai biết nghiệp quả nào sẽ tạo tác trong giờ phút lâm chung nên sự tỉnh thức và tự chủ trước khi c.hết là một yếu tố hết sức quan trọng.
Cuốn Tử Thư đã ghi rõ: “Tâm trạng của người chết sẽ quyết định cảnh giới nào mà người đó sẽ đến”. Vì thế, cuốn sách này đã dành hẳn ra một chương cho các nghi thức hướng dẫn người khi hấp hối để họ có thể bình thản, an lành bước vào thế giới bên kia.
Theo các danh sư Tây Tạng, điều quý báu nhất để giúp cho người sắp từ trần là làm sao để họ không sợ hãi (Đạo Phật gọi là vô úy thí). Muốn vậy, chính người trợ giúp phải bình tĩnh. Để đạt được điều đó, họ phải có một lòng yêu thương chân thành và sự hiểu biết sáng suốt. Vì người sắp chết thường lo lắng, hốt hoảng, hay thổ lộ tâm can nên người an ủi phải biết cách giữ yên lặng và lắng nghe. Thông thường, sau khi bộc bạch một hồi, người sắp chết dần bình tĩnh lại. Họ bày tỏ nỗi lo sợ, lòng nghi ngờ, các thắc mắc, băn khoăn đối với đời sống.
Cuốn Tử thư khuyên: “Đây là lúc các chủng tử chất chứa trong tàng thức bắt đầu phát động, các yếu tố của Cận tử nghiệp bắt đầu hiện hành, giống như một ngọn đèn sắp cạn dầu chỉ còn bùng lên một lúc trước khi tắt ngúm.
Vì thế, hãy cố gắng giữ yên lặng, lắng nghe người sắp c.hết tâm sự, hãy mở rộng tâm hồn, tránh không phán đoán hay phản ứng vì không gì tai hại hơn sự phán đoán trong lúc này. Hãy đem hết tình thương truyền trao cho họ, khuyến khích họ giãi bày tâm sự và đừng quan trọng hóa những điều họ nói đó. Đôi khi vì những chủng tử xấu phát động mà người đó có thể nổi sân si, la hét mắng chửi, kêu gào vào những lúc bất ngờ nhất. Hãy làm chủ cảm xúc và biết rằng một người đang mất bình tĩnh, đang chịu đựng những nghiệp quả bất ngờ, không ý thức rõ rệt vì về hoàn cảnh lúc đó thật không đáng trách. Nhiều người vì quá thương xót đã lên tiếng khuyên giải nhưng điều này có thể làm người sắp c.hết thêm giận dữ mà thôi. Sự yên lặng, chăm chú lắng nghe và không phản ứng là món quà quý giá nhất vì hơn bao giờ hết, người sắp c.hết đang cần sự thông cảm và thương yêu”.
Để giữ bình tĩnh và lắng nghe, các vị thầy Tây Tạng đã chỉ dạy một phương pháp quán tưởng như sau: “Hãy giữ vững hơi thở cho thật đều, đừng xem người sắp chết như một người thân hay một người đang cần giúp đỡ mà hãy quán rằng họ là một vị Phật sắp thành (Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh) có hào quang sáng chói. Mọi sự đau khổ, kêu la than khóc của họ chỉ là đám mây mù và trước sau sẽ tan khi ánh sáng của Phật tánh chiếu rọi. Nhờ phép quán đó mà người giúp đỡ sẽ khơi dậy mầm mống thương yêu nơi mình, bình tĩnh và hoàn tất việc yên lặng lắng nghe một cách hữu hiệu hơn”.
Sự yên lặng, lắng nghe là bước đầu tiên trong việc giúp đỡ người đang hấp hối. Nếu thành công, bước thứ hai phải làm là khơi dậy các chủng tử thiện. Cuốn Tử Thư ghi: “Trong tàng thức con người có đầy đủ mọi hạt giống thiện - ác, xấu - tốt và nếu biết khéo léo khơi dậy các chủng tử thiện, sẽ giúp cho người sắp chết tránh được các Cận tử nghiệp xấu xa”.
Theo cuốn Tử Thư, giây phút lâm chung hết sức quan trọng. Tâm trạng của con người lúc chết sẽ quyết định nơi chốn hay cảnh giới mà họ sẽ đến. Vào lúc hấp hối, tất cả mọi chủng tử của nghiệp lực chất chứa trong tàng thức đều sẵn sàng phát động. Nếu ra đi với một tâm trạng an lành, thoải mái, người quá cố sẽ dễ siêu thoát và tránh được ba đường ác. Ngược lại, bất cứ một biến cố gì xảy ra trong lúc đó khiến họ xúc động, quyến luyến, giận hờn thì hậu quả khó lường.
Theo cuốn Tử thư, diễn tiến của sự c.hết có thể tạm chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn tan rã của các phần tử vật chất và giai đoạn tan rã của các yếu tố tinh thần. Người Tây Tạng tin rằng phần vật chất của con người được cấu tạo bởi 4 yếu tố Đất, Nước, Gió, Lửa. Khi các yếu tố này tan rã thì con người không thể sống được. Nhờ biết quan sát khí sắc hay khả năng hoạt động của các giác quan thay đổi như thế nào mà một vị thầy Tây Tạng có thể hướng dẫn được cho người c.hết.
Sự chết xảy ra khi các phần tử vật chất khởi sự tan rã, bắt đầu bằng những giác quan. Người sắp chết có thể vẫn nghe được tiếng người nói nhưng không còn hiểu được ý nghĩa vì thính giác đã ngưng hoạt động. Họ không thể nhìn rõ các hình ảnh chung quanh vì thị giác đã ngưng hoạt động. Các giác quan khứu giác, vị giác, xúc giác cũng ngưng hoạt động khiến người đó bước vào trạng thái mê man. Tiếp đó, yếu tố Đất khởi sự tan ra. Các bắp thịt trở nên nhão nhoét, rã rời, không thể chống đỡ được cơ thể.
Người hấp hối có cảm tưởng như mình đang bị một ngọn núi đè nặng lên toàn thân. Khi yếu tố Đất tan rã xong thì yếu tố nước khởi sự tan ra. Các chất lỏng trong cơ thể không còn vận hành bình thường được nữa. Nước mắt, nước mũi tự nhiên trào ra. Nhiệt độ trong người thay đổi nóng lạnh bất thường. Khi đó, yếu tố Lửa bắt đầu tan rã. Người chết tự nhiên thấy khát nước, chân tay trở nên lạnh ngắt. Khi yếu tố lửa tan rã hết thì yếu tố Gió bắt đầu tan rã. Hơi thở người chết trở nên yếu dần và cuối cùng dứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, không còn biết gì nữa. Đối với y khoa Tây phương thì tim ngừng đập, óc ngưng hoạt động là lúc người đó coi như đã chết. Nhưng theo cuốn Tử thư, giai đoạn tan rã của các phần tử vật chất này mới chỉ là bắt đầu vì giai đoạn thứ hai: sự tan rã của các yếu tố tinh thần có hoàn tất thì người đó mới có thể coi là thực sự đã chết.
Vì yếu tố Gió hay hơi thở là yêu cầu tâm thức nối liền tâm và thân nên khi yếu tố này tan rã, nó sẽ ảnh hưởng đến các trạng thái tâm thức bên trong và sự tan rã của các yếu tố tinh thần bắt đầu xảy ra. Các tinh lực của con người khi đó từ từ rút theo các đường kinh mạch để hội tụ chung quanh trái tim.
Do đó, dù đã chết, thân thể đã lạnh nhưng người ta thấy phần ngực người chết vẫn còn hơi nóng. Các yếu tố thuộc về lý trí nằm trên óc được di chuyển đến phần ngực, các yếu tố thuộc về tình cảm nằm ở dưới bụng cũng di chuyển lên phần ngực và khi hai yếu tố này gặp nhau ở kinh mạch nằm cạnh trái tim, một sự thay đổi lớn bắt đầu xảy ra. Các phần tử căn bản của bản ngã bắt đầu tan rã, khởi đầu bằng sự tan rã của ba yếu tố chính hay tam độc là Tham, Sân, Si. Khi ba yếu tố này ngưng hoạt động thì thần thức của con người trở nên minh mẫn hơn. Họ sẽ ý thức mọi sự một cách rõ rệt vì nói theo cuốn Tử thư, “khi các yếu tố thuộc về bản ngã tan rã, khi không còn bị mây mù của vô minh chi phối nữa thì chân tâm bắt đầu hiển hiện”. Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng vì ý thức được chân tâm hay Phật tánh chính là cơ hội để giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi.
Đối với người không tập luyện, không ý thức thì giai đoạn này chỉ là một tia chớp lóe sáng lên rồi tắt ngúm. Nhưng với người thực hành thiền định sâu xa thì đây là cơ hội quý báu nhất vì họ có thể chuyển thần thức, trụ vào trạng thái này để giải thoát. Đó cũng là lý do đa số các danh sư Tây Tạng đều nhập thiền vào giây phút lâm chung. Họ hiểu biết rất rõ diễn tiến của sự chết và nhờ nghiên cứu, thực hành cuốn Tử thư như đã có sẵn một tấm bản đồ trong tay, họ biết cách tập trung ý chí vào các câu thần chú, các biểu tượng Mandala, các hình ảnh ghi giữ trong tâm.
Mỗi khi một yếu tố tan rã, họ chuyển thần thức để tập trung tư tưởng vào một bài chú đặc biệt, một hình ảnh nhất định để lúc nào họ cũng ý thức được từng giây, từng phút của các diễn tiến xảy ra cho đến khi bản ngã tan hết, chân tâm tỏ rạng thì họ có thể tập trung mọi năng lực để hòa nhập vào cái trạng thái uyên nguyên bất động này. Điều này giống với lời chỉ dẫn trong kinh A Di Đà vì một người chân thành cầu nguyện, vào phút lâm chung nếu niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà được nhất tâm bất loạn thì họ có thể chuyển thần thức để bước vào cảnh giới Tịnh Độ.
Đa số người Châu Âu quan niệm: chết là hết, là vĩnh viễn chia lìa. Sau khi cử hành tang lễ một cách long trọng, người sống cho rằng họ không thể làm gì hơn được nữa cho người mất. Nhưng đối với người Tây Tạng, c.hết không phải là hết vì nó là điều kiện tất yếu của một kiếp sống sắp đến. Khi các nhân duyên của kiếp này đã tan rã, kiếp sống phải chấm dứt và sau đó có sự thu xếp, sắp đặt lại tùy theo các mong cầu, ao ước, tùy theo các duyên nghiệp đã tạo, làm nhân cho kiếp sống về sau.
Đời sống kiếp trước tạo nhân cho đời sống ở kiếp sau và kiếp sau là quả của kiếp trước, liên miên bất tận không chấm dứt. Đó chính là Luật luân hồi nhân quả. Sở dĩ người ta đau khổ vì đã nhận thức sai lầm rằng, sự vật vốn không thay đổi, cứ bám chặt lấy những ảo giác của vô minh, mong kéo dài đời sống để thỏa mãn dục vọng, tạo mãi những nghiệp lành dữ để rồi cứ thế trôi nổi trong luân hồi sinh tử. Đối với người Tây Tạng, việc chân thành cầu nguyện và hiểu biết cuốn Tử thư để hướng dẫn người c.hết là một nghi thức quan trọng.
Nói về thời gian của giai đoạn từ khi chết cho đến lúc đầu thai, người Tây Tạng cho rằng: một ngày ở bên cõi âm tương tự với bảy ngày ở cõi trần. Do đó, người ta phải cầu nguyện liên tiếp trong vòng bốn mươi chín ngày, nhất là trong ba tuần lễ đầu tiên khi thần thức người c.hết còn đang phân vân chưa biết chọn nơi chốn nào để đi. Đây cũng là giai đoạn mà sự liên hệ với thân quyến còn nặng nên thần thức người c.hết vẫn quanh quẩn bên những người thân, có thể nghe được, ý thức được lòng chân thành và sự hướng dẫn để biết đường mà đi đầu thai.
Nếu không được hướng dẫn cẩn thận, thần thức mê muội dễ bị nghiệp lực chi phối hay bị các động lực bất hảo dẫn dắt đầu thai vào ba đường ác. Vì thế, thời gian khoảng 49 ngày luôn luôn được coi là giai đoạn quan trọng nhất. Dĩ nhiên, người ta không chỉ giới hạn việc cầu nguyện trong vòng 49 ngày thôi mà còn phải tiếp tục cầu nguyện sau đó nữa. Bởi giai đoạn 49 ngày chỉ có ý nghĩa tượng trưng thôi. Có người sau khi từ trần chỉ ở cõi bên này một thời gian rất ngắn rồi đầu thai ngay và có những người khác cứ quanh quẩn bên cõi này cả trăm năm, có khi cả ngàn năm vẫn chưa chọn được nơi chốn đầu thai. (Còn nữa)
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
An vui rước Phật
Tâm linh ViệtCó người chắp tay thành kính. Có người đứng thật lâu như muốn giữ lại khoảnh khắc bình yên giữa lòng thành phố.
Dâng đèn lên Tam bảo
Tâm linh ViệtKhông ít buổi chiều đi chùa, tôi không cầu điều gì cả: không xin công việc thuận lợi hơn, không xin những điều đời thường vốn vẫn khiến con người nhiều bận tâm. Tôi chỉ đứng rất lâu trước bàn đèn nơi chánh điện, nhìn những ngọn lửa nhỏ đang lặng lẽ sáng lên giữa không gian tĩnh mịch của ngôi chùa.
Xem thêm
















