Phật Giáo

Thiền sư Pháp Thuận: Một tăng sĩ tiêu biểu thời Tiền Lê

Thứ hai, 09/09/2019 | 12:40

Thiền sư Đỗ Pháp Thuận là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Đinh, Tiền Lê. Tên tuổi, hành trạng của Ngài không những được các bộ lịch sử Phật giáo Việt Nam nhắc đến mà còn có vị trí quan trọng trong các bộ hợp tuyển lịch sử văn học ở nước ta.

 >>Tăng sĩ

Khi nghe tin Kiều Công Tiễn bị giết, Vua Nam Hán đã vội vàng  phong con trai làm Đại nguyên soái thống lĩnh quân đội rồi sai đến nước ta đánh dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập của người Việt. Thế nhưng, dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Ngô Quyền, quân và nhân dân Việt đã đánh quân Nam Hán một trận tả tơi trên sông Bạch Đằng lịch sử, mở đầu một thời kỳ oanh liệt của dân tộc ta, quyền làm chủ đất nước mà biết bao đời mơ ước đã thành hiện thực. Trong suốt cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc, và tái dựng đất nước lần này các Thiền sư đã luôn sát cánh kề vai cùng nhân dân đứng lên đòi quyền sống, và cùng nhà Vua thiết lập một nền triều chính độc lập thịnh trị sau gần một nghìn năm lệ thuộc. Thực tế biểu hiện sự gắn bó, đồng hành giữa đạo Phật và dân tộc như đã đề cập có là hình ảnh lịch sử Thiền sư Pháp Thuận.

Thiền Sư Pháp Thuận thuộc dòng họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, thọ giáo với Long Thọ Phù Trì Thiền Sư.

Thiền Sư Pháp Thuận thuộc dòng họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, thọ giáo với Long Thọ Phù Trì Thiền Sư.

Bài liên quan

Thiền sư Pháp Thuận thuộc dòng họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, thọ giáo với Long Thọ Phù Trì Thiền sư. Khi nhà Tiền Lê mới thành nghiệp, Ngài thường được vua Lê Đại Hành vời vào triều để tham khảo về các đường hướng triều chính và ngoại giao. Vua Lê Đại Hành thường cung kính gọi Ngài là Đỗ Pháp sư chứ không dám gọi thẳng tên của Ngài. Năm Thiên Phúc thứ bảy (987), nhà Tống sai Lý Giác làm sứ giả sang nước ta, Vua sắc chỉ Ngài cải trang làm phu chèo đò cho sứ giả. Tình tiết câu chuyện về cuộc đón tiếp sứ giả này của Ngài khá thú vị. Câu chuyện kể rằng trong khi đang trên thuyền qua sông tình cờ thấy hai con ngỗng bơi trên mặt nước Lý Giác ngẫu hứng liền ngâm:

“Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha”

Nghĩa là

"Song song ngỗng một đôi

Ngửa cổ ngó ven trời"

Thiền sư Pháp Thuận bấy giờ trong vai một phu chèo đò đang cầm chèo nghe vậy liền đọc tiếp:

“Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba”

Nghĩa là

"Lông trắng phơi dòng biếc

Sóng xanh chân hồng bơi"

Bài liên quan

Như vậy Thiền sư Pháp Thuận có một vị thế quan trọng trong lịch sử văn học cũng như tư tưởng của dân tộc và của Phật giáo. Ngài đã đóng góp nhiều mặt khác nhau cho đất nước dù thời gian hoạt động giúp Vua Lê Đại Hành chỉ khoảng  mười năm.

Vua Lê Đại Hành mất vào tháng 3 năm Ất Tỵ (1005), quyền làm chủ lại rơi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Anh em họ Lê giết nhau  để tranh giành quyền lực. Người cuối cùng lên ngôi là Lê Long Đĩnh lại thi hành một số chính sách đi ngược lại so với ý chí bảo vệ độc lập, một ông Vua bạo ngược ăn chơi sa đọa, không đúng với mẫu người lãnh đạo lý tưởng mà Thiền sư Pháp Thuận đề ra cho Vua Lê Đại Hành. Đây là yếu tố không thể chữa được, nó đe dọa đến  sự tồn tại của đất nước chứ không phải của một dòng họ, và đây chính là sự dạn nứt đưa đến việc mất nước. Do đó tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009) Thiền sư Vạn Hạnh đã có bài Sấm để vận động nhân dân thay ngôi đổi chủ cho đất nước:

“Tật lê trầm Bắc thủy

Lý tử thụ Nam phương

Tứ phương can qua tĩnh

Bát biểu hạ bình an”.

Dịch:

Tật Lê chìm biển Bắc

Cây Lý mọc trời Nam

Bốn phương binh đao lặng

Tám hướng được bình an.

Ý nói: họ Lê bị chìm ở biển Bắc, họ Lý ở trời Nam lên ngôi. Chính lịch sử này đã xuất hiện Thiền sư Vạn Hạnh.

Minh Chính
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z