Trong không loạn là định, ngoài không động là thiền
Tại sao pháp môn Tịnh độ, do thân không rời niệm tâm không rời thiền mà nhiều hành giả xưa nay thành tựu?
Thiền định nói ngắn gọn, trong không loạn là định, ngoài không động là thiền. Tâm thường định là thiền. Thiền là cách vận hành năng lượng, Định là cấu trúc và định dạng được năng lượng nơi thân tâm ý.
Cái loạn bên trong thường do ý quấy đảo, ý quấy đảo do không dừng được suy nghĩ và hiểu biết nơi thân. Có nghĩa là ý thức luôn trụ vào thức giác quan mà khởi so sánh phân biệt. Vì so sánh phân biệt mà gom hết trần cảnh vào thức. Trong khi các pháp hiện ra vốn là pháp theo duyên sinh và theo duyên diệt.
Lời kinh Phật đi vào tâm thì có sức định, vì định nên nó tồn tại hàng ngàn năm. Lời cũng là một dạng năng lượng vật chất, cho nên có thể đo được âm thanh khi lời phát ra, sử dụng lời như một phương tiện sống và giao tiếp. Nhưng bảo lời có hình tướng thế nào thì không vẽ ra được. Lời mang trong nó năng lượng của sự dẫn dắt. Nếu không nhân gian này không ai phải giảng dạy điều gì. Cho nên lời bản thân nó đã có tác dụng như tha lực.
Tha lực là những lực hay những năng lượng ngoài mình tác động vào mình. Cho nên phải hiểu tha lực với nghĩa lời tác động, kích hoạt năng lượng nơi thân và tâm.

Đức Phật nói, “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, thì lời ấy chính là đuốc để mình thắp lửa. Lời ấy được mình thắp lên thì tự nó soi sáng cho chính mình. Vì đó là kim khẩu diễn vi diệu pháp.
Cho nên trong kinh A Di Đà nói: “Niệm Phật từ một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thì quyết định vãng sinh”.
Trong không loạn là định, ngoài không động là thiền. Khi không còn loạn động thì bước vào cảnh giới Phật. Vãng sinh là trong sát-na nhập thẳng vào cảnh giới ấy như ngộ nhập tri kiến Phật vậy. “Vãng sinh” như vậy không cần đợi đến khi thân ngũ uẩn này tan rã.
Rõ ràng khi ý thức không còn loạn động thì nó không còn trụ ở thức giác quan nên không còn yêu ghét vui buồn khen chê lấy bỏ. Khi thức chuyển về trí thì nó không còn rơi vào phân tích vì nó là năng lượng trí tuệ, hay cũng có thể gọi là chánh pháp nhãn tạng. Ở đó năng lượng do không thấy nghe ngửi nếm xúc biết được nên chỉ có thể cảm ứng.
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì, tức cảm ứng được nguồn năng lượng không thể nghĩ bàn kia. Câu niệm Phật là cảnh cửa bước vào cảnh giới năng lượng ấy.
Cảnh giới của Đức Phật A Di Đà được miêu tả là một thế giới như thế giới chúng ta nhưng thuần tịnh và an vui. Đó là ngay nơi nhân dụ mà nói cho chúng sinh cõi Sa-bà ưa so sánh phân biệt dễ hiểu. Còn với pháp dụ thì cảnh giới của Phật A Di Đà là “Thường tịch quang”, tức năng lượng tịch tĩnh mà sáng soi.
Nhập vào đại định, không còn loạn động, thì thân kia không còn là thân ngũ uẩn mà trở thành kim thân bất thoái, ý kia không còn là ý rong ruổi, thức kia không còn là thức phân biệt, tâm kia là tâm rỗng lặng sáng soi. Khi ấy cảnh giới Tịnh độ không còn cao thấp hiện tiền.
Cho nên Đức Phật Thích Ca có nói thêm có bao nhiêu thế giới khác và bao nhiêu công hạnh của chư Phật trong mười phương thì đều thống nhất trong cách nhìn của Ngài về tam thiên đại thiên thế giới.
Vì vậy cũng không phải ngẫu nhiên mà Kinh Di Đà còn gọi là kinh Phật sở hộ niệm. Hộ niệm không phải niệm thay cho người khác mà hộ niệm là ngay nơi lời mà tự soi sáng, đi vào cảnh giới quang minh (đại quang minh tạng).
Niệm Phật nhất tâm bất loạn kỳ thực là có lời mà vô niệm tức chỉ thấy lời là lời. Cho nên khi nhất tâm bất loạn thì ngay niệm lìa niệm, ngay pháp không trụ, ngay tướng không lập. Vì bản chất tâm thanh tịnh vắng lặng sáng soi không còn cần phải chỉ hay quán nữa.
Niệm Phật một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn, thì niệm ấy không còn là niệm sinh diệt. Bởi nếu niệm vẫn còn trụ ở thức giác quan thì niệm sinh diệt vẫn sinh liên tục, không thể bước vào cảnh giới vô sinh không còn lưu chuyển luân hồi nữa.
Tại sao nói kinh không chữ mới là chân kinh. Vì y nơi kinh chữ là trụ vào pháp sinh diệt, vì pháp ấy là pháp duyên khởi. Ngay niệm lìa niệm là không trụ vào tướng của lời mà đi vào năng lượng của lời, cảm ứng năng lượng của mười phương ba đời chư Phật.
Phật sở hộ niệm cũng có nghĩa lời đưa ta vào nơi vắng lặng mà soi sáng trong tâm. “Thường tịch quang” cũng là tâm rỗng lặng thanh tịnh. Tâm ấy là tâm của mười phương chư Phật.
CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT
Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.
STK: 117 002 777 568
Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)
TIN LIÊN QUAN
Dành cho bạn
Cái lõi
Phật giáo thường thứcMục đích và tôn chỉ của đạo Phật là giác ngộ giải thoát, cứu độ chúng sanh. Tâm nguyện của người tu Phật cũng vậy. Đây là chỗ rốt ráo của Phật đạo, cũng là cốt lõi mà Phật Tổ muốn chỉ bày cho tất cả chúng ta. Vậy thì giác ngộ điều gì? Diệu lực nào cho chúng ta giải thoát?
Quả báo nhẹ nhất của việc phạm ngũ giới
Phật giáo thường thức“Nhẹ nhất” không có nghĩa là không nghiêm trọng. Đức Phật dạy rằng khi một ác nghiệp được lặp lại, nuôi dưỡng và làm cho sung mãn, nó có thể dẫn đến địa ngục, ngạ quỷ hoặc bàng sanh.
Thế nào là một cuộc sống vô vị lợi?
Phật giáo thường thứcĐể sống đúng một cuộc sống vô vị lợi, ta không cần phải xem ta tích trữ được những gì giữa cuộc sống vật chất phồn hoa. Cốt lõi của đời sống phạm hạnh, sự buông bỏ không phải được đo bằng số lượng tài sản mình có, mà bằng sự dính mắc hay không dính mắc trong tâm.
Người sắp mất không chỉ đau thân, mà còn “vật lộn” với chính tâm mình
Phật giáo thường thứcTheo Phật giáo Nguyên Thủy, giây phút cận tử là thời khắc cực kỳ nhạy cảm. Với người phàm phu chưa đắc Thánh quả, tâm lúc đó rất yếu, rất dễ hoảng loạn, rất dễ bị kéo đi bởi tham, sân, sợ hãi và tiếc nuối.
Xem thêm














