Phật Giáo

Tu viện Phật giáo cổ đại Takht-I-Bahi Pakistan - nơi Tam Tạng Huyền Trang đã từng hành hương

Thứ bảy, 26/01/2019 | 19:13

Trong tiếng Pashto, Takht có nghĩa là “lên ngôi” và Bhi “nước” hay “mùa xuân”. Tổ hợp Tu viện Phật giáo cổ đại với danh hiệu là Takht-i-Bahi bởi vì nó được kiến tạo trên đỉnh một ngọn đồi tưới nước vào mùa xuân. Tam Tạng Huyền Trang đã từng đặt chân cất bước hành hương qua Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi này.

Hinh 1:

Di tích còn lại của một tổ hợp tu viện Phật giáo cổ đại có niên đại từ thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên Tây lịch.

Di tích còn lại của một tổ hợp tu viện Phật giáo cổ đại có niên đại từ thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên Tây lịch.

Khi du khách thập phương hành hương Pakistan ngày nay, không thể bỏ lỡ cơ hội để thưởng lãm và chiêm bái Tu viện Phật giáo cổ đại, khu phế tích Phật giáo ở Takht-I-Bahihay Takht Bahi (hoặc Takhtbai, Takht-i-Bahi), một di chỉ khảo cổ thời Vương quốc Ấn Độ-Parthia (đế quốc Arsaces), đây là viên ngọc di sản văn hóa của Pakistan và là di tích còn lại của một tổ hợp tu viện Phật giáo cổ đại có niên đại từ thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên Tây lịch.

Khu phức hợp này được các nhà khảo cổ xem đại diện tiêu biểu của kiến trúc trung tâm tu viện Phật giáo thời cổ đại đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1980.

Trong tiếng Pashto, Takht có nghĩa là “lên ngôi” và Bhi “nước” hay “mùa xuân”. Tổ hợp Tu viện Phật giáo cổ đại với danh hiệu là Takht-i-Bahi bởi vì nó được kiến tạo trên đỉnh một ngọn đồi tưới nước vào mùa xuân.

Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai cách Mardan ở tỉnh Khyber Pakhtunkhwa 15 km, một trong 4 tỉnh của Pakistan. Một thành phố công sự nhỏ, có niên đại từ cùng một thời đại, nằm gần đó. Các di tích Phật giáo cổ đại cũng tọa lạc gần một ngôi làng hiện đại nổi tiếng cùng tên. Các  khu vực xung quanh nổi tiếng với các cánh đồng trồng mía bạt ngàn. Nơi đây có nhà máy đường là một ngành công nghiệp sản xuất đường lớn của tỉnh, nằm ở giữa thị xã.

Tu viện Phật giáo cổ đại, Khu phế tích Phật giáo ở Takht-I-Bahihay Takht Bahi nằm trong danh sách Di sản Thế giới của UNESCO và được xem là một trong những ngôi già lam tự viện Phật giáo có cấu trúc tốt nhất ở quận Gandhara. Đây là một kỳ quan khảo cổ học, có ý nghĩa quan trọng bởi các thiết kế nghệ thuật Phật giáo độc đáo. Dù nhiều cuộc xâm lược đã diễn ra ở khu vực này nhưng vị trí trên đỉnh đồi của Takht Bahi dường như đã bảo vệ nó khỏi sự tàn phá, khác với nhiều tổ hợp tự viện Phật giáo thời kỳ đầu khác.

Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai rất nổi tiếng bởi đây là một trong những địa điểm còn sót lại cuối cùng trong khu vực, rất diễm phúc nó thoát khỏi sự hủy diệt bởi một số cuộc xâm lược giữa hai dân tộc Gurjaras và Huns (một dân tộc du mục sống ở Trung Á, Kavkaz và Đông Âu, giữa thế kỷ thứ 4-6 sau kỷ nguyên Tây lịch; một trong những cuộc di cư lớn nhất của các bộ lạc du mục Trung Á trong lịch sử Pakistan. Cuộc xâm lược Huns kéo dài trong thế kỷ 5 và 6, và đó là bước ngoặt trong lịch sử Pakistan cả về mặt xã hội và chính trị. 

Quang cảnh một trong những khu phức hợp tu viện Phật giáo cổ đại, Khu phế tích Phật giáo ở Takht-I-Bahihay Takht Bahi

Quang cảnh một trong những khu phức hợp tu viện Phật giáo cổ đại, Khu phế tích Phật giáo ở Takht-I-Bahihay Takht Bahi

Bài liên quan

Cuộc xâm lược giữa Huns và Gurjara cũng là một bước ngoặt chính trị đối với người dân Pakistan vì họ là giai cấp thống trị của Pakistan và miền bắc Ấn Độ. Trong giai đoạn này, Pakistan và Ấn Độ đang bước vào thời kỳ Trung cổ. Các nhóm người nước ngoài đã xâm chiếm, đã được hấp thụ vào cơ chế chính trị Ấn Độ giáo và nhóm quốc gia mới bắt đầu phát triển. Giai đoạn này còn được gọi là thời  Rajput, bởi vì Thời kỳ Medival được đánh dấu bằng sự phát triển của các gia tộc Rajput, và họ bắt đầu đóng một vai trò vĩnh viễn sau cái chết của Harsha, cho đến khi người Hồi giáo đến.

Vào thế kỷ thứ 5 và 6, khi thế lực của Gurjaras và Huns bành trướng sang Pakistan, họ đã phá hủy hàng trăm địa điểm di tích Phật giáo. Một số cơ sở tự viện Phật giáo đã có thể thoát khỏi sự hủy diệt này, ví dụ như Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai, bởi vì nó nằm ở một địa điểm xa xôi.

Đế quốc Kushan tức Đế quốc Quý Sương (vào khoảng thế kỷ thứ 1-3), một cường quốc cổ đại tại Trung Á. Vào thời đỉnh cao (105-250), đế chế nầy trải dài từ Tajikistan tới  biển Caspi và từ Afghaistan xuống đến lưu vực sông Hằng Ấn Độ. Đế chế này được thành lập từ bộ lạc Kushan của dân Nguyệt Chi (người Trung Á cổ đại) đến từ Tân Cương (Trung Hoa) ngày nay, một dân tộc có thể liên hệ với người Tochari (Τοχάριοι). Do nằm trục giao thông huyết mạch của Trung Á, họ có quan hệ ngoại giao với Đế  chế La Mã, Đế quốc Ba Tư (đế chế Iran-đế quốc Sassanid-tân đế quốc Ba Tư) và nhà Hán Trung Hoa, và trong vài thế kỷ họ là trung tâm trao đổi giữa Đông phương và Tây phương.

Trong thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ 2 sau kỷ nguyên Tây lịch, người Kushan (Quý Sương) bành trướng nhanh chóng trên phần phía bắc của khu vực Nam Á ít nhất là xa đến tận Saketa và Sarnath gần Varanasi (Bennares), nơi mà các chữ khắc đã được tìm thấy với niên đại tới những năm đầu của thời đại của vị vua Kushan nổi tiếng nhất, Kanishka, mà dường như bắt đầu khoảng năm 127 sau kỷ nguyên Tây lịch.

Các vị vua Kushan là một nhánh liên minh Nguyệt Chi. Trước đó họ là một dân tộc du mục cư trú tại các thảo nguyên phía tây bắc của Trung Hoa, họ di chuyển về phía tây nam và định cư ở Bactria cổ đại. Họ cũng đã có quan hệ ngoại giao với Đế chế La Mã, nhà Sassanid của Ba Tư và nhà Hán ở Trung Hoa. Đế chế này suy yếu từ thế kỷ thứ 3 và sụp đổ bởi Đế chế Saaaanid và Đế quốc Gupta.

Tượng Phật trong Thiền đường

Tượng Phật trong Thiền đường

Mãi đến thế kỷ thứ 3-4 sau kỷ nguyên Tây lịch, thời kỳ xây dựng lần thứ hai của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi mới bắt đầu; công trình này bao gồm ngôi Bảo tháp và Giảng đường. Một công trình thứ ba của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi đã được thực hiện vào thế kỷ thứ 3-4 dưới triều đại Kushan và Kidara Kushan Rulers. Thế kỷ thứ 6-7 đã chứng kiến công trình cuối cùng của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi dưới thời cai trị của người Huns khi họ xâm chiếm. Kiến trúc cuối cùng là khu phức hợp Đạo tràng Mật tông Kim Cương thừa.

Mặc dù có một số xâm lược tàn phá xung quanh của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi, nhưng nó vẫn được bảo vệ khỏi sự hủy diệt vì vị trí trên đỉnh đồi.

Vào thế kỷ thứ 7, đã chứng kiến sự suy giảm  của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi, bởi vì ảnh hưởng của Phật giáo và sự quyên góp của tu viện này đang bị giới hạn. Chư tôn đức Tăng già đành phải rời khỏi địa điểm này, nhưng sau đó đã được tái phát hiện vào nửa sau thế kỷ 19.

Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (602-664), nhà chiêm bái và học giả đã từng đặt chân cất bước hành hương Ấn Độ và Pakistan để tìm kiếm các văn bản Phật giáo, khi ngài lần đầu tiên xác định Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi này. Tuy nhiên, vào năm 1836, người đầu tiên đề cập bất cứ điều gì về của Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi là viên chức sĩ quan người Pháp Maharaja Ranjit Singh. Vào năm 1864, Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi cũng đã được khám phá bởi ông Hanry Walter Bellew, viên sĩ quan người Anh gốc Ấn Độ.

Năm 1907, các cuộc khai quật Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai đã được thực hiện và tìm thấy hàng trăm tác phẩm điêu khắc các pho tượng còn nguyên vẹn.

Những hiện vật còn lại cho đến ngày nay của Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai:

- Một khu bảo tháp được tìm thấy ở sân trung tâm.

- Khu phức hợp Đạo tràng Mật tông Phật giáo Kim cương Thừa. Phần phức tạp này có thể đã được sử dụng cho một số hình thức thiền của Mật tông Kim cương thừa.

- Tăng đường, bao gồm một phòng ăn, phòng chuyên dụng và các phòng riêng lẻ xung quanh sân.

- Khu phức hợp rườm rà, được tạo thành từ các ngôi bảo tháp, tuy nhiên những công trình này được xây dựng sau này.

Tàn tích Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai

Tàn tích Di tích lịch sử Phật giáo Takht-e-Bhai

Các địa điểm bổ sung đã được thêm vào có thể cho mục đích phòng họp của chư tăng và cư sĩ.

Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi được xây dựng bằng đá địa phương, vôi và bùn được sử dụng cho sự kết dính. Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ 500 feet và 2 km về phía đông của chợ TakhtBhai, quận Mardan. Khu vực xung quanh tu viện này là xứ nông nghiệp trồng các loại hoa màu rau, ngô, lúa mì, mía vad các loại cây ăn quả.

Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi là một địa điểm tuyệt vời cho du khách yêu thích lịch sử, thời cổ đại và khảo cổ học. Nếu các bạn quan tâm đến lịch sử Phật giáo, các bạn có thể tìm thấy nhiều điều hấp dẫn trong tu viện này.

Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi có tính phức tạp về biểu  tượng kiến trúc và là một giới thiệu tuyệt vời kiến trúc Phật giáo Gandhara.

Vào thế kỷ thứ 9 trước kỷ nguyên Tây lịch, địa danh Ganghara đầu tiên đã được đề cập trong những văn bản cổ xưa nhất là Riveda. Ngày nay thuộc một phần Pakistan trải rộng đến thung lũng Kabui Afghanistan. Năm 522-486 trước kỷ nguyên Tây lịch trở thành một tỉnh thuộc đế quốc Ba Tư, vua Darius. Khoảng năm sau, Alexander Đại đế chinh phục Gandhara và cả vùng Tây bắc Ấn Độ.

Từ năm 305 trước kỷ nguyên Tây lịch nằm dưới sự thống trị của các triều đại Mauryan Ấn Độ. Nhưng 55 năm sau đó, nó lại thuộc các đoàn kỵ binhg của đế quốc Parthia (Iran ngày nay). Rồi lần lượt trải qua nhiều biến đổi thành sở thuộc của  các triều đại Bactra, Scythia . . . Đến thế kỷ thứ nhất sau kỷ nguyên Tây lịch dưới sự thống trị của Triều đại Kushan (Quý Sương), vua Kanishka, Gandhara thật sự tỏa sáng thành một nền nghệ thuật được trộn lẫn giữa sư tinh tế của phương Tây và sự hài hòa của phương Đông qua các kiệt tác văn hóa, nghệ thuật  nói chung; đặc biệt là nghệ thuật Phật giáo, tôn giáo được nhà vua ủng hộ mạnh mẽ trước các tôn giáo khác cùng thời.

Sau khi khu vực này bị chinh phục bởi Đại đế Alexander, nền nghệ thuật Gandhara được biết đến như một sự giao thoa của hai nền nghệ thuật lớn là Hy Lạp và Ấn Độ và thực sử lan tỏa sáng chói trong nghệ thuật Phật giáo kể từ triều đại Mauryan Ấn Độ, Parthia, và Vương triều Kushan miền Trung Á. Với sự phức tạp về sự ảnh hưởng văn hóa của nó đã hình thành nền tảng phong phú lan tỏa qua Trung Á, các lưu vực Tarim, về sau nó gây nhiều ảnh hưởng về mặt ý tưởng, hình ảnh đến cả các quốc gia Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Lịch sử phi thường này làm cho nghệ thuật Gandhara có tầm quan trọng lâu dài cho các học giả đông tây, trong khi đó Phật giáo và nghệ thuật Phật giáo đã tồn tại song hành.

Tuy vẫn còn không nhiều tranh cãi, nhưng điều mà ai cũng dễ dàng chấp nhận từ các vị trí khai quật được phát hiện và minh chứng cho sự  tồn tại của nền nghệ thuật đặc sắc này đi liền với các địa danh của “Con đường Tơ lụa” cổ đại, nơi giao thoa của các nền văn hóa qua thương mại.

Gandhara là địa danh cổ đại của một vùng phía tây bắc Pakistan, là một nổi tiếng về văn hóa học thuật, văn hóa nghệ thuật kiến trúc Phật giáo đầu tiên khi ánh sáng từ bi trí tuệ Phật giáo lan tỏa đến Pakistan. Khu vực này vẫn là vùng đất của Ấn Độ giáo và Phật giáo cho đến thế kỷ thứ 10 say kỷ nguyên Tây lịch, khi Quốc vương Mahmud chinh phục khu vực và giới thiệu Hồi giáo cho người dân. Một khi các khu định cư của người Hồi giáo được hình thành, do thế lực của Hồi giáo cầm quyền, cơ sở tự viện Phật giáo đều bị phá hủy, Phật tử không có nơi phụng thờ, từ đó Phật giáo suy yếu dần cho đến ngày nay đất nước này với quốc hiệu Cộng hòa Hồi giáo Pakistan. Đây là lý do tại sao cuộc xâm lược Hun, Phật tử bắt đầu di cư đến vùng Viễn Đông châu Á.

Người ta tin rằng, Đức Phật thứ hai đươc sinh ra ở Swat, và tại sao khu vực này rất phong phú với các di tích Phật giáo. Sauk hi du khách thập phương khám phá xong Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi, họ bắt đầu theo hành trình lịch sử đến Swat.

Tăng xá (nơi ở của chư tăng)

Tăng xá (nơi ở của chư tăng)

Tu viện Phật giáo Cổ đại Takht-I-Bahi chứa đầy di tích lịch sử Phật giáo phong phú, và không phải là nơi các bạn có thể bõ lỡ cơ hội khi đến Pakistan. Để có những địa điểm cổ đại như vậy vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay là một hiện tượng khá hy hữu.

Vân Tuyền

(Nguồn: Around Pakistan)

Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z