Phật Giáo

Kẻ thù của ta là ai?

Thứ năm, 29/08/2017 | 08:07

Con người luôn hướng ra bên ngoài để tìm kiếm và chinh phục thiên nhiên ngoại cảnh, trong khi đó chính chúng ta chưa làm chủ bản thân mình khi gặp những chướng duyên nghịch cảnh trong đời sống gia đình và xã hội.

Kẻ thù là gì? Là kẻ muốn chống đối, phá đám, làm hại người khác. Chữ kẻ thù là ngược lại với chữ “bạn” nghĩa là người thuận theo mình, luôn giúp đỡ mình về mọi mặt vì hạnh phúc của mình. Tuy nhiên, trên thực tế cuộc sống, có những trường hợp tưởng là thù mà thật ra là bạn và ngược lại. Do đó, ta không nên xét hình thức bên ngoài qua lời nói và hành động mà nên tìm hiểu kỹ tâm ý của người đó trước khi kết luận một điều gì.

Chữ chính mình có nghĩa là “Cái Tôi”, “Cái Ta”, “Ta đây”, “Ta là”, “hay còn gọi là ban ngã... Đây là chữ chính yếu và quan trọng nhất trong câu này vì nếu mình có thể trả lời được cái “chính mình” đó là ai thì ta mới biết thật sự nó là bạn hay là thù. Vậy ta là ai, ta là gì? Chúng ta có bao giờ tự đặt câu hỏi này không? Chúng ta có thể biết có rất nhiều người sống cho đến cuối cuộc đời cũng không hề thắc mắc mình là ai, mình là gì cả.

Con người khác các loài súc vật là ở chỗ chúng ta có lý trí, có hiểu biết, có lương tâm biết phân biệt được đúng sai nên chúng ta không thể buông xuôi cho số phận để tiếp tục trôi mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Ta không nên để cho phiền não tham, sân, si chi phối nữa mà ngay bây giờ phải biết dừng lại, quay trở về chính mình để tỉnh thức, để biết rõ con người chân thật của chính mình, từ đó chúng ta mới thể nhập được chân lý sống mà dấn thân đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.

Đa số chúng ta chỉ tin rằng mình có một cái tôi thật sự bằng xương bằng thịt độc lập với mọi người khác, có những suy nghĩ riêng biệt, muốn làm gì thì làm, nghĩa là làm chủ được mình, có sự tự do quyết định vận mệnh của mình và đặc biệt là một số người tin là mình có một linh hồn tách biệt với thân xác, khi thân xác này hoại diệt thì linh hồn vẫn còn tồn tại mãi.

Nói cho chính xác hơn kẻ thù lớn nhất của đời mình là chủ nghĩa cá nhân hay bản ngã của chúng ta, tức là cái tôi, cái ta của mình. Vì cái tôi thấy mình là trung tâm của vũ trụ nên từ đó xảy ra tranh đấu xô xác giết hại lẫn nhau. Ta là trên hết, ta là đấng tối cao, khi con người chấp như thế rồi thì nó trở thành một thứ siêu vi khuẩn rất độc hại, mà hay sinh ra các thứ bệnh hoạn rất nguy hiểm như: Bệnh tham lam, ích kỷ, bệnh lười biếng, bệnh bảo thủ độc đoán, bệnh kiêu ngạo, bệnh ham danh vọng quyền lực, ham hưởng thụ quá đáng và tìm cách triệt buộc giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Thế gian thường gọi là chủ nghĩa cá nhân, là việc gì cũng lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của nhiều người khác.

Chủ nghĩa cá nhân nêu cao tinh thần độc tài và phát xít

Chủ nghĩa cá nhân là đặt lợi ích cho riêng mình, gia đình mình lên trên hết, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Họ không có tấm lòng mình vì mọi người mà chỉ muốn mọi người vì mình. Khi cái tôi đã hiện diện trên ngôi quyền lực, thì không việc ác nào mà họ chẳng dám làm, vì ta là trên hết. Cho nên Phật dạy kẻ thù lớn nhất của con người là chấp vào cái tôi thật có của chính mình. Người có địa vị cao trong xã hội sẽ lợi dụng quyền cao chức trọng của mình để quan liêu hách dịch tham nhũng bóc lột, lãng phí của công, thiếu ý thức trách nhiệm.

Kẻ thù lớn nhất của con người chính là ai? Chính là sự sai lầm chấp trước vào bản thân mình có cái thật ngã, nên phát sinh ra chủ nghĩa cá nhân mà làm tổn hại cho cuộc đời. Nếu chúng ta chiến thắng được lòng tham muốn của bản thân mình mà hay giúp người cứu vật với tấm lòng vô ngã vị tha thì không có kẻ thù nào có thể hại được ta.

Lịch sử cho thấy bằng chứng thiết thực là cuộc đời của đức Phật với vô vàn chuyện oan trái do người đời tìm cách hãm hại. Chính sự bình thản an nhiên tự tại mà không cần minh oan, nhưng vẫn lật tẩy được những kẻ si mê thiếu hiểu biết, vì đức Phật không thấy ai là kẻ thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi.

Theo quan niệm thông thường của thế gian, chúng ta được sinh ra đời để tìm kiếm hưởng thụ những gì cuộc sống đã ban tặng cho ta. Cuộc sống thế gian có nhiều mật ngọt làm cho ai cũng có thể đắm say đam mê dính mắc vào nó. Nào sự nghiệp gia đình với tiếng tăm, danh vọng, quyền lực, giàu có và tình yêu… Nhưng đến khi ra đi, chúng ta bỏ lại hết tất cả, nhường lại cho những người còn lại thừa hưởng. Chúng ta bỏ lại trong sự nuối tiếc, vì chẳng ai đem theo được thứ gì. 

Trong quá trính phát triển sự sống gây dựng giống nòi nhân loại, con người ta luôn tìm kiếm hạnh phúc và hưởng thụ, nhưng chúng ta lại vô tình làm khổ đau cho người khác và muôn loài vật. Sự tranh giành, bám giữ để lo cho cái ta này dẫn đến tàn sát giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Với những người thiếu hiểu biết, nên không sáng suốt mà nghĩ rằng ta đến với cõi đời này, là để có nhiều hơn trong tham muốn vô cùng tận.

Cuộc sống người thế gian cứ như thế mà tạo ra ba thứ độc hại là phiền não tham, sân, si, càng làm cho ta bị dính mắc vào sự chấp ngã cho thân tâm này là thiệt có. Trong suốt quá trình sống chúng ta tìm cách chiếm đoạt tranh giành tạo ra sự tham đắm vô cùng tận, ta làm hư hại đời sống chung quanh bằng những thói quen và hành động của mình do thiếu hiểu biết hay biết mà cố phạm.
 Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Lòng tham con người như giếng sâu không đáy

Nắm giữ chất chứa về cho mình thật nhiều, là những thói quen thâm căn cố đế, là nghiệp tập sâu dày của tất cả con người. Từ khi mở mắt chào đời cho đến khi lớn khôn chúng ta sống và làm việc rồi lập gia đình gây dựng giống nòi nhân loại để bảo vệ cái ta ích kỷ này. Cuộc sống bình thường của mọi người là sự phát triển cái ta, cái của ta và bảo vệ cái ta của mình, gia đình mình, đất nước mình. Chính vì chấp vào cái ta này mà chúng ta đành lòng chiếm đoạt giết hại lẫn nhau để bảo vệ cho cái ta tạm bợ giả có này.

Cũng chính sự bám víu vào tâm thức này khiến con người bị trói buộc về mặt nhận thức vào đối tượng mình bám víu. Chúng ta càng nắm giữ nhiều chừng nào thì sự dính mắc lệ thuộc vào nó càng lớn. Do đó ta khó bề buông xả được, đó chính là thói quen chất chứa từ cái chấp thân tâm này làm ngã.

Cuối cùng, do chúng ta không nhìn thấy rõ bản chất thật hư của thân tâm này mà ta bị lệ thuộc, bị trói buộc bởi nhiều thứ mà ta cho rằng nó là vĩnh viễn của ta ở trần gian này. Tài sản của cải dù chúng ta đã tạo ra nó nhưng thực chất nó không hẳn là của ta. Chúng ta chỉ nắm giữ tạm bợ một thời gian nào đó thôi, và khi ta trút hơi thở cuối cùng thì chúng ta phải bỏ lại hết tất cả.

Càng chấp giữ cái ta và của ta ấy, chúng ta vô tình càng củng cố thêm cái ta của mình. Khi mình đã chấp chặt vào cái ta này thì phiền não tham sân si ngày càng nhiều hơn và sự hoang mang lo sợ khi bị mất mát dẫn đến tổn thương nặng nề. Chúng ta cũng cần phải thấu rõ mọi vấn đề, không nắm giữ ở đây không có nghĩa là không có gì hết mà là sự không dính mắc bám víu vào cái ta và của ta.

Ta vẫn phải ăn uống để sống làm việc, đóng góp phục vụ gia đình và xã hội. Ta có cái nhà để ngủ nghỉ hay để tránh mưa nắng. Ta vẫn có tất cả các thứ để phục vụ cho nhu cầu sự sống, nhưng không dính mắc tham đắm vào nó. Khi có thời gian ngồi suy xét lại, mỗi người chúng ta đã làm thiệt hại nhiều đóa hoa của cuộc đời, của bè bạn, của gia đình người thân, của những tương quan mật thiết trong xã hội, của thiên nhiên hùng vĩ với bạt ngàn điều kỳ diệu chỉ vì sự mong muốn tranh giành chiếm đoạt hưởng thụ cho riêng mình.

Với người có nhận thức sáng suốt và hiểu biết chân chính, họ đến với cuộc đời này để tô điểm làm đẹp thêm cho cuộc đời. Họ đến để học hỏi và sẻ chia, dấn thân và phục vụ, nâng đỡ và cống hiến chứ không phải đến để cai trị con người. Họ ung dung tự tại đi qua cuộc đời này mà không lấy không bỏ, do đó không tranh chấp dính mắc vào cái ta và của ta, nhờ vậy họ đóng góp được nhiều lợi ích lớn lao cho nhân loại.

Càng không bám chấp thì cuộc đời người ấy càng trải rộng trong tự do không bị ràng buộc bởi những thứ mê muội của cuộc đời. Càng có tấm lòng rộng mở thì cuộc đời của chúng ta càng tự do trong đời sống bằng sự bình yên hạnh phúc. Do vô minh che lấp nên ngu si, mê muội chấp thân này làm ta, chấp tâm suy tư, nghĩ tưởng là mình, từ đó thấy biết sai lầm mà gieo tạo các nghiệp thiện ác, tốt xấu.

Chấp thân này làm ta là bệnh thông thường của tất cả mọi người trên thế gian. Chấp tâm này làm ta là các vị tu hành theo quan niệm thần ngã, thấy có một vị chủ tể cố định ban phước, giáng họa như đa thần giáo. Tất cả phàm phu đều chấp thân này làm ngã nên thấy nó thật, nó lâu dài, nó cao quý rồi đam mê, đắm say, tham lam vì nó, nhất là những người có quyền cao chức trọng. Từ đó thấy mình là ta, là của ta, thấy mình là trung tâm của vũ trụ nên làm cái gì cũng vơ vét về cho mình và của mình, ai làm trái ý thì sinh thù hận, tìm cách hủy diệt, triệt tiêu.

Con người do thấy biết sai lầm mà làm tổn hại cho nhau

Thế giới ta bà từ khi con người có mặt do lầm chấp thân này là thật nên đã nhẫn tâm tranh giành, giết hại lẫn nhau để giành quyền lợi. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng như thế. Trái đất này không của riêng ai mà là phước nghiệp chung của tất cả chúng sinh. Con người vì thế cần phải ngồi lại bên nhau để tìm ra biện pháp tốt đẹp nhất nhằm giúp nhân loại đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha.

Nếu mỗi con người thường xuyên quán niệm về thân để biết rõ được bản chất thực hư của nó thì thế giới sẽ không bao giờ xảy ra khủng bố, chiến tranh, binh đao, sóng thần, động đất gây đau thương, tang tóc khổ đau cho nhiều người. Theo triết học Phật giáo, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian đều không có một chủ thể cố định, chỉ có cái này như thế này thì cái kia như thế kia, chúng nương tựa vào nhau theo nguyên lý duyên khởi mà thành-trụ-hoại-không, hoặc sinh-trụ-dị-diệt. Vậy thân này có thật là ta hay không?

Theo lời Phật dạy, phải hội đủ ba yếu tố mới có thân này. Thứ nhất là tinh cha, thứ hai là huyết mẹ, thứ ba là thần thức của một chúng sinh. Ba yếu tố này đồng thời gặp nhau cùng một lúc, khi đủ nhân duyên sẽ tạo ra một thân mới. Khi người cha giao hợp với người mẹ, tinh trùng của người cha xuất ra (dương) và hòa hợp với noãn bào của người mẹ (âm). Do âm dương hiệp nhau cùng với thần thức của một chúng sinh tạo thành sức mạnh tác động đến chu kỳ thọ thai của người mẹ mà tạo ra thân mới. Khi còn trong bụng mẹ, thai nhi ngày càng lớn dần nhờ thức ăn nước uống do người mẹ đưa vào, cho đến khi đủ chín tháng mười ngày thì đến kỳ sinh nở.

Đứa bé mở mắt chào đời sống được là nhờ bầu vú mẹ cho dòng sữa ngọt, đến khi biết lật, biết trườn, biết bò, biết đòi ăn, biết nói bập bẹ, biết đi, rồi biết kêu “cha”, “mẹ” từng tiếng đều là vay mượn và huân tập từ bên ngoài. Đã là vay mượn thì làm gì có chủ thể cố định, cái gì là thật thì trước sau như một không thay đổi, biến dạng theo thời gian. Vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là của ta, rồi bám víu vào đó mà sinh ra tranh chấp hơn thua, giành phần thắng về mình và triệt buộc lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư của mình.

Thân này được sống còn là do tứ đại bên trong hòa hợp với tứ đại bên ngoài để cùng nhau nuôi dưỡng. Tứ đại gồm có đất-nước-gió-lửa, chất cứng trong người gọi là đất, chất lỏng gọi là nước, sự hoạt động của cơ thể gọi là gió và nhiệt độ nóng trong người gọi là lửa. Rồi hằng ngày phải vay mượn thức ăn, thức uống đưa vào, sáng đem vô chiều đưa ra, cứ như thế từ ngày này qua tháng nọ. Chúng ta chỉ làm một việc vay mượn liên tục, hết đưa vô lại trả ra, chúng ta vay mượn thức ăn uống nhưng nếu lỡ đưa vô mà không trả ra thì sao, thì phải tìm cách uống thuốc để tiêu hóa, bằng không thì phải giải phẫu.

Thân này sống được là nhờ bốn chất tứ đại bên ngoài, hằng ngày cơ thể phải nạp vào rồi trả ra, nếu không sẽ làm tứ đại bất an, sinh ra đủ chứng bệnh. Người hay bị cảm lạnh sẽ sinh đau nhức do trong người chất gió quá mạnh, gió thổi thì đất phải rung rinh. Người hay nóng sốt là trong người nhiều lửa nên phải kiếm cái gì mát đưa vào để quân bình lại. Cứ như thế chúng ta cứ mãi điều hòa thân tứ đại này cho nó quân bình thì không bệnh, đến khi trong người không còn thân nhiệt và sự hoạt động của gió thì tứ đại sẽ tan rã, còn gọi là chết. Nhưng chết không phải là hết, chết chỉ là sự thay hình đổi dạng tùy theo việc làm trong hiện tại tốt hay xấu mà có thân mới tương xứng như vậy.

Chấp trước dính mắc là nguồn gốc của đau khổ

Phật dạy có thân thì phải sinh-già-bệnh-chết, con người muốn sống lâu phải luyện trường sinh bất tử để duy trì đời sống được dài thêm, nhưng cuối cùng ai rồi cũng phải chết, từ xưa tới nay chưa ai có thân mà không chết bao giờ.

Chính Phật Thích Ca cũng phải xả bỏ thân này năm 80 tuổi. Cái gì thật thì trước sau như một không biến đổi theo thời gian, dù trái đất này có hoại nhưng cái đó không hoại. Thân này do nhân duyên hòa hợp nên vô thường bại hoại, khi đủ duyên thì có thân này, khi hết duyên thì chuyển sang đời khác. Chúng ta thường xuyên quán chiếu thân này như thế để không cố chấp, dính mắc vào cái thấy sai lầm mà làm tổn hại tất cả chúng sinh.

Cái lầm thứ nhất của phàm phu là cho thân này là thật, trong khi thân này là hòa hợp vay mượn, không có chủ thể cố định.

Cái lầm thứ hai là thân này vay mượn hơi thở hằng ngày, miệng thở ra mà không thở vào coi như chết ngay trong tích tắc, vậy mà ai cũng lầm chấp rằng mình sẽ sống lâu.

Bởi hai cái lầm này mà con người phải chịu khổ đau luân hồi vô số kiếp không có ngày cùng. Có ông già kia đã trên 80 tuổi đang cất nhà, Phật biết được nhân duyên tuổi thọ của ông sẽ mãn phần trong chiều hôm đó nên thương xót mà cho ông biết và tìm cách khuyên nhủ để ông thức tỉnh hồi đầu, ông không lắng nghe mà cứ mải mê chỉ dẫn đám thợ. Ông nói: “Hôm nay lão bận quá, phiền Ngài nói tóm lại bằng bài kệ để khi nào lão không còn bận bịu công việc nhà nữa sẽ đem ra thực hành”.

Đức Phật nói về bài kệ vô thường để nhắc nhở ông lão tỉnh giác. Ông lão miệng tuy khen bài kệ rất hay nhưng hẹn Phật dịp khác rảnh rỗi sẽ tham khảo. Sau đó Phật trở về tịnh xá. Vào buổi chiều, một số tịnh nhân cư sĩ đến báo với Phật ông lão đã bị cây kèo đập vào đầu chết liền tại chỗ.

Bởi do lầm chấp thân này sống lâu nên các phàm phu tục tử cứ mãi bận rộn hết chuyện này đến việc kia mà chẳng lo tu tập để chuyển hóa các phiền não, khổ đau từ chỗ lầm chấp thân này là ta, là của ta. Như ông già đó Phật đã biết trước nhân duyên nên đến khuyên nhủ, tìm cách giúp ông thức tỉnh hồi đầu nhưng ông chẳng chịu nghe, cuối cùng ông bị cây đập đầu chết trong nỗi tiếc nuối khi công việc dang dở. Trường hợp của ông sẽ rất khó đầu thai, nhiều khi thần thức phải vất vơ vất vưởng, quanh quẩn đâu đó vì tiếc nuối việc làm chưa xong. Phật đã biết trước việc sắp xảy ra nhưng vẫn không cứu được ông lão, như vậy là Phật quá dở hay sao?

Chúng ta nên biết, Phật chỉ là vị thầy hướng dẫn, làm được hay không do bản thân ta quyết định. Phật không phải là người ban phước giáng họa, chúng ta cần phải thấu đáo chỗ này kẻo nhầm lẫn với các học thuyết thần ngã. Thân vô thường bại hoại mà chúng ta cứ lầm chấp thân này là ta, là của ta rồi tạo nghiệp thọ khổ làm hại cho nhau. Tất cả mọi người hầu như đều tự xưng là tôi, là ta, là mình, nhưng chẳng ai biết rõ ràng cái gì là tôi, là ta, là mình ở đâu.

Nếu nói cái thân năm bảy chục ký lô này là tôi, là ta, là mình, nhưng xét cho cùng nó sống nhiều lắm 100 năm cũng phải chết. Vậy khi đó thân xác thúi này là tôi phải không? Là tôi làm sao phải được, bởi thân này do nhân duyên hòa hợp nên nó vô thường bại hoại, đủ duyên thì có thân này, hết duyên thì thay hình đổi dạng chuyển sang đời khác. Chính vì thế nên nó sinh-già-bệnh-chết, vậy mà ai cũng lầm chấp thân này là ta, là tôi, là mình rồi làm tổn hại cho nhau.

Chấp tâm làm ngã là căn bệnh thâm căn cố đế của mọi người nên ai cũng thừa nhận cái hay suy tư, nghĩ tưởng, phân biệt, nhận thức, cảm thọ làm tâm mình. Có người nói “tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu”, vậy những lúc không suy nghĩ là ai, chẳng lẽ mất mình hay sao? Cái hay suy tư, nghĩ tưởng có cả trăm ngàn thứ, buồn-thương-giận-ghét, phải-quấy-tốt-xấu, hơn-thua-đúng-sai, thiện-ác-lành-dữ; có lúc hiền như Phật, có khi dữ như cọp, tâm niệm luôn dời đổi liên tục không lúc nào dừng nghỉ.

Khi nghĩ thiện là tôi, vậy khi nghĩ ác là ai, không lẽ cái tôi có nhiều thứ như vậy? Mới vừa buồn giận được người xin lỗi lại hóa ra vui, vừa ghét người đó rồi được năn nỉ lại hóa ra thương. Tâm niệm luôn thay đổi triền miên không lúc nào dừng nghỉ, nhưng chung quy cũng nằm trong hai tâm niệm thiện và ác. Từ đó suy ra, tâm niệm luôn thường xuyên thay đổi theo thói quen huân tập hằng ngày.

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Thích Đạt Ma Phổ Giác
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z