Người không hiểu lý nhân quả đổ thừa cho may rủi

Tà kiến là thấy lệch tin lầm. Sở dĩ thấy lệch tin lầm là do si mê, thiếu trí tuệ mà ra.

Nếu kể thì nhiều vô số, ở đây tôi chỉ nêu những việc căn bản và những lỗi Phật tử thường vấp phải.

Như trước tôi đã đề cập thường kiến, tức là tin mình có một linh hồn sau khi chết còn hoài không mất.

Và đoạn kiến thì tin rằng thân này do tứ đại hợp thành, sau khi chết tứ đại rã tan không còn gì hết.

Đó là hai kiến chấp rất nặng của ngoại đạo đưa đến những cuộc khẩu chiến sôi nổi ở Ấn Độ thời đức Phật.

Đây tôi không giải thích nữa, chỉ nói qua những tà kiến mà người Phật tử Việt Nam thường vấp phải.

Như có nhiều người đau không uống thuốc, đi cầu Thánh mẫu, cầu cô cậu, cầu bà thủy, bà hỏa cho bùa phép uống, đeo để hết bệnh.

Hoặc có cây sứ, cây đa bị mối hay kiến đục thành những lằn chữ hay hình người, thì cho đó là thần thánh hiện, rủ nhau đến gốc cây thắp hương vái lạy, nguyện cầu thần thánh ban phước cho được bình an tai qua nạn khỏi.

Hoặc trên không trung có cụm mây hay đám khói trắng giống hình người, hình rồng thì cho là Phật, Thánh hiện, rủ nhau ra chiêm ngưỡng đảnh lễ…

Đó là những hành động do tà kiến mê tín.

Trong kinh thường nói Phật tùy duyên hóa độ chúng sanh.

Nếu chúng sanh là chư thiên thì Phật đản sanh ở cõi trời để hóa độ.

Nếu chúng sanh là loài người thì Phật đản sanh ở cõi người để hóa độ.

Nếu chúng sanh là loài rồng thì Phật giáng sanh ở cõi rồng để hóa độ…

Tóm lại, cần độ loài nào thì Phật giáng sanh vào loài đó để hóa độ. Ngài hành hạnh Bồ-tát sanh hoạt một cách bình thường, chớ không biến hiện những hình dáng kỳ lạ, làm những việc huyền bí để mê hoặc chúng sanh.

Làm thế nào để diệt trừ tà kiến?

Người không hiểu lý nhân quả đổ thừa cho may rủi  1
Ảnh minh họa. 

Chúng sanh vốn đã si mê thì phải làm cho chúng sanh tỉnh sáng, dứt mê lầm, hết khổ đau, mới là từ bi.

Nếu mê hoặc chúng sanh làm cho chúng sanh càng mê mờ thêm thì đâu phải hạnh từ bi của bậc Hiền Thánh!

Lại nữa, có nhiều người xin xăm, coi tay, bói quẻ…đó là những nhận định sai lầm tầm thường mà đa số không bỏ được.

Chúng ta đã biết Phật dạy do ba nghiệp lành mà sanh cõi người, cõi trời, cũng do ba nghiệp lành mà chứng quả Thanh văn, Bích-chi, Bồ-tát, Phật.

Ngược lại do ba nghiệp dữ mà rơi vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

Nên nhớ không có quả báo tốt hay xấu nào do bói quẻ coi tay tạo ra.

Biết sai lầm mà bỏ không được cũng hóa ra tà kiến mê tín.

Nghe kinh thì cũng hiểu mà sợ thì vẫn sợ, nên vẫn khổ.

Như nghe thầy bói nói năm này tháng này xấu, trong lòng cứ bồn chồn lo lắng, cúng kiếng vái lạy đủ thứ.

Đó là chưa có chánh kiến bất động như Phật dạy ở trước.

Nếu người có chánh kiến bất động thì dù có gặp việc bức bách đến đâu, cũng vẫn bình thản không lo sợ.

Chẳng hạn có ai nói ngày mai ông chết, chúng ta vẫn thản nhiên vì đã biết đời người ai cũng phải chết, hết duyên là thân phải rã, không rã sớm thì rã muộn, cầu cúng van vái rồi cũng phải chết nên không cầu.

Nhược bằng ngày mai không chết thì thôi, không lo buồn sợ sệt.

Nếu nghe nói mình sắp chết lo sợ, chạy đi coi thầy, cầu cúng van vái xin cho khỏi chết, là tà kiến.

Ở trước, Phật dạy Long vương: “Ông phải nhớ chánh kiến bất động.”

Người có chánh kiến tức là có lòng tin sâu chánh pháp thì không động.

Chúng ta vì lòng tin đối với chánh pháp chưa vững, nên hay bị lay động. Người hay động là thiếu niềm tin đối với pháp Phật thì sự tu hành của mình làm sao được lợi ích?

Thế nên người Phật tử phải có “Chánh kiến bất động”.

Trong kinh A-hàm có ghi: “Trưởng giả Úc-già khi gặp Phật, được Phật dùng nhiều phương tiện giáo hóa khai ngộ.

Sau khi ông nghe được lý Tứ đế, dứt trừ mọi nghi hoặc, đối với Phật, đối với pháp ông đặt trọn vẹn niềm tin, không lay chuyển.

Không tìm cầu một tôn sư nào khác, cũng không kiếm tìm một pháp môn nào khác.

Lòng tin Phật pháp của ông rất vững không động lay.

Sau khi Phật niết-bàn ông phát nguyện bố thí lớn, trong lúc ông bố thí thì tàu buôn của ông bị đắm.

Chư Tỳ-kheo ngại sản nghiệp của ông bị tiêu tán hết, nên cử Tôn giả A-nan đến khuyên ông nên dừng cuộc bố thí.

Trưởng giả Úc-già trả lời, ông hành xả như thế dù cho của cải ông có khô cạn hết, cũng chỉ để làm tròn bản nguyện của ông, giống y như bản nguyện của vị Chuyển Luân Thánh vương.”

Quí Phật tử có vị nào đặt niềm tin sâu vững đối với pháp Phật như trưởng giả Úc-già không?

Tin sâu như vậy mới là chánh kiến bất động.

Ngày nay có nhiều Phật tử ham sống sợ chết, ham giàu sợ nghèo. Nếu có ai bày vẽ nên đến đền này miếu nọ, để cầu thần linh hộ mệnh được sống lâu, cầu thần linh ban phước được giàu sang, thì họ không ngần ngại đến để cầu khẩn van vái.

Vì vậy đạo Phật bị chê là mê tín.

Pháp Phật dạy không có mê tín như thế, chỉ vì người mang danh Phật tử không có lòng tin bất động với chánh pháp, cứ chạy đến chỗ này van vái, chạy đến chỗ kia van xin, nên đạo Phật bị mang tiếng không tốt.

Nếu người Phật tử chánh tín thì không bao giờ tin những sự việc xảy ra ngoài lý nhân quả.

Mọi hiện tượng xảy ra đều do nhân quả, nhân tốt thì quả tốt, nhân xấu thì quả xấu.

Nếu quả xấu thì can đảm chịu, nếu quả tốt thì vui vẻ nhận.

Đến đây tôi nói ra ngoài kinh Thập Thiện một chút để quí vị hiểu dễ tu.

Trong luận Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất, Tổ Bồ-đề-đạt-ma có dạy tu Báo oán hạnh, tức là người tu phải thực hành hạnh trả thù.

Quí vị nghe người tu mà trả thù có ngạc nhiên không? Quí vị hãy nghĩ kỹ xem trả thù bằng cách nào?

Ngài dạy khi gặp tai nạn đau khổ chúng ta phải nghĩ: Không phải tai nạn đau khổ ngẫu nhiên có, mà do đời trước mình tạo nghiệp ác, nên hôm nay quả thành tựu.

Mình đã tạo nhân nay phải can đảm nhận quả, không than trời trách người.

Khi hết quả xấu rồi thì hết khổ.

Như vậy là Báo oán hạnh.

Nếu tai họa tới mà than trời trách người, thì đâu có hết nợ, oán càng thêm oán.

Ví dụ trước kia ông Bát ăn ở mích lòng ông Thập. Sau ông Thập có quyền thế, ông trả thù làm cho gia đình ông Bát tan nát khổ đau. Như vậy là hai lần oán thù, lần thứ nhất ông Thập oán thù ông Bát, lần thứ hai ông Bát oán thù ông Thập và bây giờ ông Bát đang chờ cơ hội trả thù ông Thập.

Xử với nhau như vậy có hết thù không?

- Không.

Thành ra trả thù mà trái lại gây thêm thù, oán thù chồng chất lên nhau không bao giờ hết.

Tổ dạy “trả thù” là trả hết thù, không còn thù nữa, trả bằng cách quả đến thì can đảm chịu, không than không trách thì oán thù đau khổ không còn nữa.

Đó là “trả thù” theo lý nhân quả.

Người nào biết trả thù như thế thì oán thù nhất định sẽ hết.

Không biết trả thù như vậy thì thù oán còn hoài, vì trả thù tức là gây thêm thù làm sao hết được?

Tổ Đạt-ma dạy “trả thù” mà không gây oán nên thù không còn.

Quí vị xét người biết đạo lý tu hành, có ai muốn nghiệp nợ mình còn hoài không?

Ai cũng muốn hết nợ nên phải trả, nhớ trả mà đừng vay nữa.

Tai họa đến, lại tới miếu này đền nọ, để van vái cầu cúng thì bao giờ mới hết nợ?

Làm như thế là không dám trả, không dám trả là không hết nợ.

Tóm lại, Phật dạy chúng ta phải có chánh kiến, khi đã có chánh kiến rồi thì can đảm vui chịu mọi khổ đau xảy đến, không than không trách.

Vì biết quả khổ đến là do mình tạo nhân xấu ở đời trước.

Nếu trốn tránh hoặc than trách, hoặc vái lạy van xin cũng không hết tội, có khi lại thêm tội và tăng thêm tà kiến nữa là khác.

Thế nên Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy tu hạnh Báo oán để dứt thù dứt tội. Đó là hạnh thứ nhất.

Đến hạnh thứ hai là hạnh Tùy duyên.

Ngài dạy chúng ta sanh ra đời được gặp những duyên tốt, làm ăn đúng thời, giàu có, nhiều tiền của, ăn sướng mặc đẹp sang cả.

Phải nghĩ rằng: Do nghiệp lành đời trước mà mình được sanh chỗ tốt làm được việc tốt, nên mới được giàu sang sung sướng.

Do duyên phước đời trước để lại ngày nay được hưởng thì không nên hưởng hết, nếu hưởng hết thì phải khổ, vì vậy phải tiếp tục gieo nhân lành luôn luôn không dừng.

Đó là trường hợp thứ nhất.

Đến trường hợp thứ hai là phải nghĩ ngày nay mình được giàu sang sung sướng là do duyên nghiệp lành đời trước nên không tự cao ngã mạn, không khinh khi người, vì không phải tài trí của mình.

Trong không ngã mạn, ngoài lo làm điều tốt thì dễ tiến trên đường tu.

Tuy nhiên, cũng có người không thông lý nhân quả, làm ăn được phát đạt thì cho là may mắn, làm ăn bị thất bại thì cho là rủi ro.

Đổ thừa may rủi là tà kiến.

Chớ không biết do nghiệp lành đời trước nên nay mình nghĩ gì đúng nấy làm gì được nấy.

Thế nên Phật nói do phước khiến cho con người hết khổ, muốn gì được nấy.

Nghiệp ác làm cho người khổ, việc xảy ra thường trái ý mình, không được toại ý.

Thế nên người có phước muốn gì được nấy, còn người vô phước thì muốn mà không được.

Người không hiểu lý nhân quả đổ thừa cho may rủi là trốn trách nhiệm, tự cao ỷ tài khi làm được việc, oán trách khi thất bại.

Thế nên người Phật tử chân chánh phải có nhận định đúng với đạo lý, lúc nào cũng biết không có việc gì ngẫu nhiên đến, mà do phước nghiệp đời trước, cho nên cố gắng làm lành để vun bồi thêm phước đức.

Trích trong: Kinh Thập Thiện giảng giải.

Tiêu đề do BBT đặt lại nhằm giúp quý Phật tử dễ hiểu.

gg follow

CÙNG NHAU XIỂN DƯƠNG ĐẠO PHẬT

Tuân theo truyền thống Phật giáo, chúng tôi cung cấp tài liệu giáo dục Phật giáo phi lợi nhuận. Khả năng duy trì và mở rộng dự án của chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của bạn. Nếu thấy tài liệu của chúng tôi hữu ích, hãy cân nhắc quyên góp một lần hoặc hàng tháng.

STK: 117 002 777 568

Ngân hàng Công thương Việt Nam

(Nội dung: Họ tên + tài thí Xiển dương Đạo Pháp)

Phải làm sao khi ngồi thiền không thể tỉnh táo được?

Phật giáo thường thức 13:30 27/05/2026

Hỏi: Con bị suy nhược thần kinh, lúc con ngồi thiền tâm con không thể tỉnh táo được, con phải làm sao thưa Thầy?

Hành trình từ bóng tối bước ra ánh sáng, cuộc chuyển mình ngoạn mục về tâm linh

Phật giáo thường thức 10:35 27/05/2026

Trong cõi nhân sinh đầy rẫy những xoay vần của nghiệp quả, có những người khi vừa hiện hữu đã phải đối mặt với muôn vàn nghịch cảnh. Đó là hạng người mà đức Thế Tôn gọi là "Đi từ bóng tối ra ánh sáng". Đây là biểu tượng của tinh thần bất khuất và trí tuệ tỉnh thức, biến khổ đau thành chất liệu của sự giải thoát.

Đức Phật ra đời

Phật giáo thường thức 09:37 27/05/2026

Lễ Phật đản là lễ kính mừng ngày Đức Phật ra đời. Cụ thể là hàng năm, vào ngày trăng tròn của tháng Tư, mỗi người con Phật đều làm lễ kỷ niệm mừng ngày chào đời của thái tử Sĩ-đạt-ta.

Voi trắng sáu ngà: Từ thoại tướng đến thực chứng tâm linh

Phật giáo thường thức 09:29 27/05/2026

Trong Phật giáo, “voi trắng sáu ngà” nhập thai Hoàng hậu Māyā không đơn thuần là thoại tướng đản sinh, mà là một siêu ngôn ngữ biểu đạt sự kết tinh của trí tuệ, sự vô lậu thanh tịnh và đại nguyện Bồ-tát.

Xem thêm