Phật Giáo

Thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật trong truyện Kiều

Thứ sáu, 08/11/2019 | 08:13

Nhân quả Nghiệp báo là một giáo lý phổ quát căn bản đầu tiên của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tất cả mọi hành vi tạo tác của ba nghiệp thân, miệng, ý con người đều tạo thành những Nghiệp nhân và Nghiệp nhân đó sẽ thành Nghiệp quả hiện hành báo ứng ở ba thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai.

>>Phật giáo thường thức

Nói khác hơn, không một sự vật gì ngẫu nhiên sinh ra, tất cả đều chịu sự tác động hỗ tương của nhau. Bài kệ nói về nhân quả mà ai học Phật cũng đều thuộc nằm lòng:   

Dục tri tiền thế nhân,

Kim sanh thọ giả thị.

Dục tri lai thế quả,

Kim sanh tác giả thị.

(Muốn biết cái nhân đã gây ở đời trước, hãy xem kết quả đang thọ nhận ở đời này. Muốn biết cái quả trong đời sau, hãy nhìn hiện tại đã làm gì).

Tất nhiên, quan hệ Nhân Quả trong đạo Phật không dừng lại ở mức đơn giản và hạn cuộc ấy, nhưng ở đây chúng ta chưa cần phải luận nhân quả ở một mức sâu xa hơn.

Nhân quả Nghiệp báo là một giáo lý phổ quát căn bản đầu tiên của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tất cả mọi hành vi tạo tác của ba nghiệp thân, miệng, ý con người đều tạo thành những Nghiệp nhân và Nghiệp nhân đó sẽ thành Nghiệp quả hiện hành báo ứng ở ba thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai.

Nhân quả Nghiệp báo là một giáo lý phổ quát căn bản đầu tiên của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tất cả mọi hành vi tạo tác của ba nghiệp thân, miệng, ý con người đều tạo thành những Nghiệp nhân và Nghiệp nhân đó sẽ thành Nghiệp quả hiện hành báo ứng ở ba thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai.

Bài liên quan

Từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là một câu chuyện kể mang tính tự sự không hơn, thì qua “Đoạn trường tân thanh” của Tố Như tử, tất cả đã được nâng lên một tầng bậc mới. Một trong những tầng bậc đó là Nguyễn Du đã cố gắng giải thích mọi biến động của cuộc đời Thúy Kiều dưới những triết lý tư tưởng mà ông đã thâm nhập. Là một nhà Nho, bài học “Tạo vật đố hồng nhan”, “Tài mệnh tương đố” là những câu nằm lòng từ những ngày còn bập bẹ “Tam Tự Kinh” chữ Hán, thế nên không lạ gì khi ông viết những câu thơ như:

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

[Truyện Kiều câu 5 – 6]

Nghĩ đời mà ngán cho đời,

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.

[Truyện Kiều câu 2153 – 2154]

Hồng quân với khách hồng quần,

Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.

[Truyện Kiều câu 2157 – 2158]

Những câu thơ “đổ thừa” hết cho trời đất, cho một đấng tạo hóa, “hóa công” gây nên đau khổ cho nàng Kiều của Nguyễn Du như thế rất nhiều trong truyện Kiều. Nhưng có cảm tưởng chính Nguyễn tiên sinh cũng không tin tưởng lắm khi cả quyết “Trời xanh” kia là “chính danh thủ phạm” cho cuộc đời oan nghiệt của Thúy Kiều. Chúng ta đọc đoạn kết của Truyện Kiều sẽ thấy điều đó.

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

[Truyện Kiều câu 3241-3244].

thì ngay tiếp đó ông viết:

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

[Truyện Kiều câu 3249-3252]

Rõ ràng, Nguyễn tiên sinh vẫn còn có gì đó băn khoăn và không tin chắc lắm có một “ông trời” bất công quá thế! Ông đi tìm một sự giải thích khác và chúng ta gặp ở đây thêm một cách lý giải khác cho số phận cuộc đời nàng Kiều “thân yêu, tri kỷ” của ông. Nguyễn Du đã nhìn thấy triết lý nhân quả của đạo Phật ở cuộc đời Kiều.

Tìm hiểu vấn đề này, trước tiên, không gì hơn là đọc lại một số nhận định xưa và nay của các học giả quan tâm nghiên cứu truyện Kiều.

Vậy là cái nhân đau khổ đầu tiên đã hình thành, chủng tử Nghiệp luyến ái kiếp hiện sinh đã tạo. Điều này rất quan trọng. Trong mười lăm năm lưu lạc của Kiều, sự khổ đau chịu đựng về thân xác đâu bằng sự dằn vặt tâm can về “giấc mộng hương quan” và “người tình Kim Trọng”. Cái Nhân đa tình đã bắt Kiều thọ cái Quả nhớ nhung, đau đớn như thế.

Vậy là cái nhân đau khổ đầu tiên đã hình thành, chủng tử Nghiệp luyến ái kiếp hiện sinh đã tạo. Điều này rất quan trọng. Trong mười lăm năm lưu lạc của Kiều, sự khổ đau chịu đựng về thân xác đâu bằng sự dằn vặt tâm can về “giấc mộng hương quan” và “người tình Kim Trọng”. Cái Nhân đa tình đã bắt Kiều thọ cái Quả nhớ nhung, đau đớn như thế.

Học giả Trần Trọng Kim viết: “theo cái lý thuyết nhân quả ấy thì phàm phúc hay họa là ở tự mình gây ra cho mình. Mình đã có cái hoàn toàn tự do mà làm việc thiện hay ác, thì mình lại có cái hoàn toàn trách nhiệm về những việc ấy…” , “…Cái thuyết nhân quả của Phật học là thế. Đem cái thuyết ấy mà so với một đời nàng Kiều, thì thấy không có chỗ nào là không đúng…”

Bài liên quan

Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh nhận xét: “Đạo Phật đã bổ sung cho đạo Nho ở chỗ nó dựa trên luật Nhân Quả để kết án cá nhân là tự mình gieo cái mầm khổ cho mình ngay từ kiếp trước nên tự mình phải chịu lấy quả khổ của kiếp này”.

Ngoài ra, các học giả khác nghiên cứu về truyện Kiều như Đào Duy Anh, Nguyễn Đăng Thục, Trần Văn Giàu.v.v.., tuy sự nhìn nhận, cách giảng giải có khác nhau, thậm chí trái ngược do đến từ những quan điểm, nhân sinh quan thời đại khác nhau nhưng đều thừa nhận tư tưởng chủ đạo của truyện Kiều nằm trong lý thuyết Nhân Quả của Phật giáo.

Trở lại câu chuyện, Kiều là nàng con gái đa sầu, đa cảm. Cái “Nghiệp” của nàng như thế nên buổi đầu đi chơi gặp mã Đạm Tiên, nghe tâm sự cuộc đời cô kỹ nữ xa lạ, Kiều đã vận vào mình. Kiều có niềm tin “thác là thể phách, còn là tinh anh” [Truyện Kiều câu 116]. Con ma Đạm Tiên trở thành hiện thân của nghiệp lực theo Kiều từ đó.

Kiều là một cô gái đa tình. Nàng đã mạnh dạn đem lòng yêu thương Kim Trọng ngay trong lần đầu gặp gỡ, một điều rất xa lạ với lễ giáo phong kiến đương thời. Chỉ một lần gặp gỡ ngắn ngủi thoáng qua thôi là đã:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài,

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

[Truyện Kiều câu 163-164]

Vậy là cái nhân đau khổ đầu tiên đã hình thành, chủng tử Nghiệp luyến ái kiếp hiện sinh đã tạo. Điều này rất quan trọng. Trong mười lăm năm lưu lạc của Kiều, sự khổ đau chịu đựng về thân xác đâu bằng sự dằn vặt tâm can về “giấc mộng hương quan” và “người tình Kim Trọng”. Cái Nhân đa tình đã bắt Kiều thọ cái Quả nhớ nhung, đau đớn như thế.

Nghiệp quả vẫn có thể thay đổi nếu thay đổi được Nghiệp nhân. Đây là ý nghĩa chính trong chữ Tu của đạo Phật: “Tu là chuyển Nghiệp”. Kiều có một Nghiệp nhân rất nặng và nàng phải thọ nhận Nghiệp quả đó ở kiếp này.

Nghiệp quả vẫn có thể thay đổi nếu thay đổi được Nghiệp nhân. Đây là ý nghĩa chính trong chữ Tu của đạo Phật: “Tu là chuyển Nghiệp”. Kiều có một Nghiệp nhân rất nặng và nàng phải thọ nhận Nghiệp quả đó ở kiếp này.

Rơi vào chốn lầu xanh của Tú bà, bị hành hạ, Kiều rút dao tự vẫn thì ngay đó, Đạm Tiên đã về thủ thỉ:

Rỉ rằng: “nhân quả dở dang,

Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao”

[Truyện Kiều câu 995-956]

Bài liên quan

Vậy là đã rõ, nhân vật “Trời xanh” kia không phải tác nhân theo “đánh ghen” bởi tài, bởi sắc làm Kiều bị đày đọa mà chính những Nghiệp nhân Kiều đã gây trong quá khứ nên bây giờ Kiều phải trả, không thể trốn thoát đi đâu mà được. Nói khác hơn, “Trời” ở đây chỉ là một khái niệm, một hình ảnh được mô tả như là một định luật chi phối vũ trụ và cuộc đời chứ không còn là vị chúa tể “Trời xanh” có quyền ban phúc giáng họa nữa. Trong ý nghĩa ấy, “Trời” là Nghiệp nhân mà “Trời” cũng là Nghiệp quả: “có Trời mà cũng có ta” [Truyện Kiều câu 2657], “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” [TK câu 420]. Với quan điểm triết lý đó, qua Kiều, Nguyễn Du khẳng định:

Kiếp này nợ trả chưa xong,

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau.

[Truyện Kiều câu 1019-1020]

hay                                      

Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi.

[Truyện Kiều câu 1195-1196]

Tuy vậy, Nghiệp quả vẫn có thể thay đổi nếu thay đổi được Nghiệp nhân. Đây là ý nghĩa chính trong chữ Tu của đạo Phật: “Tu là chuyển Nghiệp”. Kiều có một Nghiệp nhân rất nặng và nàng phải thọ nhận Nghiệp quả đó ở kiếp này như lời Đạo cô Tam Hợp:

Người này nặng kiếp oan gia,

Còn nhiều nợ lắm sao đà thác oan.

[Truyện Kiều câu 1693-1694]

Thế nhưng, chính nhờ những Nghiệp nhân tốt mà Thúy Kiều đã gieo trong đời hiện tại: đó là một tấm lòng hiếu đễ cao quý dành cho cha mẹ, cho gia đình; một mối tình chung thủy sắt son với Kim Trọng mà Kiều đã:

Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.

[Truyện Kiều câu 2683-2684]

Hành động đầy ý nghĩa hy sinh cao cả đó của Kiều là những tác nhân trong hiện tại, đủ sức chuyển hóa phần nào nghiệp lực của nàng, làm nhẹ đi quả báo tiền khiên để Kiều có một hậu vận đoàn viên nhẹ nhàng như mong ước:

Khi nên trời cũng chiều người,

Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi thân sau.

[Truyện Kiều câu 2689-2690]

Về cuộc đời Kiều, Nguyễn Du chưa bao giờ lý giải Kiều kiếp trước đã gây nên những Nghiệp nhân gì để kiếp này phải trả quả như thế. Chính điều này mà một số nhà nghiên cứu truyện Kiều thắc mắc, cho rằng, Nguyễn Du bế tắc trong triết lý tư tưởng ở truyện Kiều. Tiêu biểu cho ý kiến này là nhận định của Hoàng Ngọc Hiến: “…Tư tưởng Nhân quả khẳng định Nhân quả giữa kiếp này và kiếp trước, kiếp sau. Nội dung hình tượng truyện Kiều chỉ nói về kiếp này của nàng Kiều. Như vậy quan hệ “Nhân Quả” không được bộc lộ ở ngay nội dung của tác phẩm. Đó là một quan hệ không có nội dung…” .

Trong quan niệm Nhân Quả thông thường, cũng chỉ cần nhìn vào quả báo đang thọ nhận ở hiện tại để biết Nghiệp nhân của quá khứ, và đó là thái độ của người tin Nhân Quả, thừa nhận Nhân Quả. Đâu cứ nhất thiết phải trình bày và liệt kê ra Nhân nào đã sinh ra Quả nào, mà có muốn liệt kê ra cũng không được! Chỉ với Trí Tuệ của Đức Phật mới có thể nhìn thấy được tất cả nghiệp lực mà mỗi chúng sanh đã gây tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp.

Trong quan niệm Nhân Quả thông thường, cũng chỉ cần nhìn vào quả báo đang thọ nhận ở hiện tại để biết Nghiệp nhân của quá khứ, và đó là thái độ của người tin Nhân Quả, thừa nhận Nhân Quả. Đâu cứ nhất thiết phải trình bày và liệt kê ra Nhân nào đã sinh ra Quả nào, mà có muốn liệt kê ra cũng không được! Chỉ với Trí Tuệ của Đức Phật mới có thể nhìn thấy được tất cả nghiệp lực mà mỗi chúng sanh đã gây tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp.

Bài liên quan

Nhận định như thế rõ ràng rất phiến diện và khập khiễng nếu không muốn nói là tác giả đã không hiểu (hoặc cố tình không hiểu) gì về khái niệm “Nhân Quả” thông thường nhất chứ chưa nói đến triết lý Nhân Quả sâu xa và kín nhiệm của đạo Phật. Trong quan niệm Nhân Quả thông thường, cũng chỉ cần nhìn vào quả báo đang thọ nhận ở hiện tại để biết Nghiệp nhân của quá khứ, và đó là thái độ của người tin Nhân Quả, thừa nhận Nhân Quả. Đâu cứ nhất thiết phải trình bày và liệt kê ra Nhân nào đã sinh ra Quả nào, mà có muốn liệt kê ra cũng không được! Chỉ với Trí Tuệ của Đức Phật mới có thể nhìn thấy được tất cả nghiệp lực mà mỗi chúng sanh đã gây tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp. Trong mối tương quan chằng chịt bởi nhân duyên diễn ra trong từng sát-na, chỉ rõ được Nghiệp nhân trong một đời hiện tại đã là điều bất khả. Nói Nhân hạt lúa nhất định sẽ sinh ra một cây lúa đã là sai (vì còn cần phải hội đủ bao yếu tố khác: đất, nước, khí hậu, độ ẩm.v.v…) thì huống gì đến Nhân Quả chi phối một con người qua rất nhiều đời trong quá khứ và cả đời sống hiện tại nữa.

Truyện Kiều sẽ không còn là truyện Kiều nữa, không còn là áng văn chương đủ sức lay động lòng người đến thế nếu Nguyễn tiên sinh tỉ mỉ kiếm tìm Nghiệp nhân trong quá khứ của nàng Kiều để nêu ra, tin là vậy! Hương hồn Tiên Điền tiên sinh hẳn sẽ không mấy vui khi hai trăm năm sau, hậu thế có người đã “khóc” mình bằng những nhận định như thế!

Một ý nghĩa nữa về Nhân Quả trong truyện Kiều là: Triết lý Nhân Quả trong truyện Kiều của Nguyễn Du là triết lý Nhân Quả phổ thông, mang tính đại chúng, nhiều hơn là triết lý thâm áo sâu xa của đạo Phật. Triết lý về Nhân Quả ở truyện Kiều rất gần gũi và hòa nhập với quan niệm Nhân Quả của ông cha ta: “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”v.v… những quan niệm thật đơn giản, dễ hiểu mà có tác dụng to lớn vô cùng trong quá trình định hướng nhân cách một con người hiền thiện; xây dựng một xã hội tốt đẹp, bao dung trong quá khứ của cha ông ta. Kẻ làm ác nhất định phải bị trừng trị, người làm lành nhất định sẽ nhận được sự báo đáp công bằng, hạnh phúc.

Nguyễn Du sắp đặt cho Kiều thực hiện một cuộc đền ơn, báo oán phân minh là nằm trong quan điểm ấy:

Nàng rằng lồng lộng trời cao,

Hại nhân, nhân hại sự nào tại ta?

[Truyện Kiều câu 2381-2382]

Sẽ rất bất công khi những Tú bà, Bạc bà, những Sở Khanh, Bạc Hạnh… cứ sống nhởn nhơ, tác yêu tác quái, gây nên bao đau khổ, đày đọa bao con người lương thiện mà không chịu một sự hình phạt nào.

Bài liên quan

Cũng chính từ sự báo oán này của Kiều mà có người cho rằng Nguyễn Du đã mâu thuẫn trong tư tưởng Phật giáo của mình. Cho Kiều thực hiện cuộc báo oán là nằm trong quan điểm Nhân Quả của đạo Phật nhưng để Kiều giết chết đám oan gia của mình là không phù hợp với tinh thần từ bi của nhà Phật.

Chúng ta phải nhìn nhận rằng nhận xét như thế không sai. Theo tinh thần đạo Phật thì đúng là: “Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”. Nhưng như trên đã nói, tư tưởng Nhân Quả biểu hiện trong truyện Kiều mà cụ thể ở tình huống này là tư tưởng, quan niệm của quần chúng. Về oan nghiệp lẫn nhau giữa Kiều và những Tú bà, Bạc Hạnh… chưa hẳn đã tan, nhưng tác dụng giáo dục mang tính luân lý của tác phẩm đối với xã hội thì rất tích cực. Tích cực trước tiên là ở chỗ “Hại một người, cứu muôn người”, thứ nữa là sự cảnh báo cần thiết với những ai đang manh nha làm ác.

Theo tinh thần đạo Phật thì đúng là: “Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”. Nhưng như trên đã nói, tư tưởng Nhân Quả biểu hiện trong truyện Kiều mà cụ thể ở tình huống này là tư tưởng, quan niệm của quần chúng. Về oan nghiệp lẫn nhau giữa Kiều và những Tú bà, Bạc Hạnh… chưa hẳn đã tan, nhưng tác dụng giáo dục mang tính luân lý của tác phẩm đối với xã hội thì rất tích cực.

Theo tinh thần đạo Phật thì đúng là: “Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan”. Nhưng như trên đã nói, tư tưởng Nhân Quả biểu hiện trong truyện Kiều mà cụ thể ở tình huống này là tư tưởng, quan niệm của quần chúng. Về oan nghiệp lẫn nhau giữa Kiều và những Tú bà, Bạc Hạnh… chưa hẳn đã tan, nhưng tác dụng giáo dục mang tính luân lý của tác phẩm đối với xã hội thì rất tích cực.

Bài liên quan

Như vậy, tư tưởng Phật học không hẳn giữ vai trò chủ đạo trong truyện Kiều nhưng những dấu ấn của tư tưởng ấy, đặc biệt là triết lý Nhân quả Nghiệp báo của đạo Phật thì lại biểu hiện rất rõ ràng và điều đáng nói là đã góp phần quan trọng lý giải các vấn đề, các mâu thuẫn trong nội dung câu chuyện mà quan niệm “ông trời” không còn đủ sức “giải quyết” một cách thuyết phục nữa. Thành ra “trời” vẫn còn đó, vẫn tại vị trong câu chuyện và có vẻ vẫn nắm quyền tối cao nhưng không thể lý giải được tại sao lại “đánh ghen” nàng Kiều tài hoa, tại sao không thực hiện quyền thưởng phạt công minh để rồi:

Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương.

[Truyện Kiều câu 2393-2394]

và cuối cùng đã không còn thể hiện được cái quyền lực:

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

[Truyện Kiều câu 3243-3244]

Nữa mà quyền đó đã thuộc về con người. Con người có hoàn toàn cái quyền chịu trách nhiệm với chính mình cho những việc mình đã gây ra. Đây chính là giá trị tư tưởng nhân bản nhất, có giá trị giáo dục sâu sắc và thiết thực nhất của truyện Kiều vậy.

Thích Đồng Trực
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z