Phật Giáo

Những điều đúng sai trong đạo Phật

Thứ năm, 08/06/2017 | 10:30

Tối ngày 03/05/Đinh Dậu (28/05/2017), TT.Thích Chân Quang, Phó Ban Kinh tế Tài chính T.Ư GHPGVN đã có buổi thuyết Pháp, tản mạn về “Những điều đúng sai trong đạo Phật, trong đạo lý và trong sự tu tập”. Bài pháp thoại đã giúp mọi người biết nhìn nhận mọi vấn đề một cách cẩn trọng, sâu sắc, tránh chủ quan để không mắc phải những điều sai trong quá trình tu tập. Nhờ đó, điều đúng được nhân rộng, nối dài, làm mỗi bước tiến về sự giác ngộ của người phật tử thêm vững chắc.

Mở đầu bài pháp, Thượng tọa khẳng định có những điều đúng nhưng đi sâu vào lại thành sai. Đây là lí do nhiều người nghĩ mình tốt mà lại không thấy thành quả gì. Chúng ta không biết rằng ta đúng bước đầu nhưng sai bước sau. Thế cho nên, nghe xong bài pháp này, nhiều người sẽ bất ngờ. Tuy nhiên, những đạo lí dưới đây đều là kinh nghiệm xương máu rút ra từ việc tu tập của rất nhiều người.
 
Thứ nhất, ta nói tâm hạnh đầu tiên khi đến với đạo là lòng tôn kính Phật. Một khi có tâm hạnh này thì những ý nghĩ xấu sẽ bị khống chế, mọi điều tốt đẹp dần mở ra trong tâm ta. Nếu không, những ham muốn xấu theo bản năng sẽ trỗi dậy, đẩy ta vào lầm lỗi. Người không biết kính trọng ai, mở miệng ra là chê bai, xúc phạm những bậc đáng kính, chắc chắn cuộc đời sẽ phạm lỗi lầm rất lớn.

Hiểu điều này, khi bước đến sự tu hành, chúng ta luôn xây dựng lòng tôn kính Phật trong mình. Ban đầu chưa tự khởi được thì ta thúc ép bản thân mình phải tôn kính Phật. Lúc đó, Thánh tính bắt đầu xuất hiện, nó giằng xé trong tâm ta. Cuộc chiến này có khi kéo dài đến 30 năm. Tuy mất nhiều thời gian, tâm sức vậy nhưng ta được cái lợi rất lớn là biết nhận ra cái đúng sai để không làm những điều bậy bạ, tránh được những quả báo thê thảm. 

Lễ kính Phật là điều đúng không bao giờ sai. Có tâm hạnh này ta yên tâm rằng mình đang bước đúng, vì nhân quả đạo lý rõ ràng như thế. Ví dụ trước đây chúng ta sống ích kỷ chỉ lo cho mình, bây giờ chân thành lễ Phật một thời gian, chợt chúng ta thấy ra từng cử chỉ nhỏ, từng ý nghĩ nhỏ nào có mang theo tâm ích kỷ. Vì vậy chúng ta tự biết phải thay đổi chứ không thể để như vậy mãi. Tuy nhiên, cái bước đúng này nhiều khi không kéo dài bởi có thể khi lễ Phật ta dâng lời ước nguyện sai một vài điều nào đó.

Dịp này, người nhắc nhở, trên con đường rất đúng nào đó, bỗng nhiên ta bị sai thì cuối đường sẽ gặp nhiều rắc rối, bất an mà bản thân không hiểu tại sao. Do đó, ta đừng nghĩ đúng bước đầu thì sẽ đúng mãi. Lúc nào cũng phải tỉnh táo, cảnh giác, kiểm soát, xem xét. Cho nên, ta cứ học mãi, phải nương nhờ vào thầy lành, bạn tốt là vậy.

Nói đến lời ước nguyện, khi chưa biết đạo lí, ta đi chùa theo tín ngưỡng dân gian nên cầu những điều cực kì tham, sân, nhỏ mọn. Đến khi biết đi chùa, lễ Phật rồi thì lời cầu nguyện trở nên ý vị, có đạo lý hơn. Ví dụ ta cầu cho mình tinh tấn tu hành, cầu cho mình đắc được Thánh quả hay cầu cho mình giáo hóa được muôn người, v.v… Những lời cầu đó nghe thấy hay, thấy cao thượng, nhưng vô cùng sai vì “cái tôi” được đề cao, càng cầu “cái tôi” càng lớn mà chúng ta không hay.

Cứ thấy là đúng nhưng kì thật những bí mật của cái sai cứ gài trong tâm. Do đó, ta thấy đẹp nhất, vẹn toàn nhất vẫn là lời nguyện của chư Tổ. Lời nguyện ấy thấy mênh mông, bao la nhưng rất cụ thể và thực tế. Chẳng hạn: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo. Còn ta, không đủ chiều sâu, không đủ tinh tấn, nên nhiều khi tô điểm thêm bản ngã của mình. Đúng là lễ kính Phật đấy, nhưng về lâu dài, bản ngã lại cứ lớn dần lên. Thế mới biết tại sao tâm ta ngày càng bất an, loạn động.

Chỉ có người nào cầu cho tôi mà không bị lỗi? Đó là Bồ tát. Những vị Bồ tát bản ngã họ rất nhẹ, nên khi cầu cho tôi (cho con) được chuyện nọ kia mà họ không hề mắc lỗi tô đắp bản ngã, vì trí tuệ của họ vượt qua điều đó.

Thứ hai, tin nhân quả là đúng vì đó là nền tảng, là đỉnh cao của đạo Phật và Bồ tát. Vậy nên, người đắc đạo là người hiểu nhân quả rất tường tận, chi li. Còn ta, chưa đắc đạo, nên cái hiểu rất nông cạn, chỉ đủ để biết kiềm chế bản thân thôi. Người đến với đạo mà tin vào nhân quả thì đó là chính kiến hết sức tốt lành. Tu mà chưa hiểu nhân quả thì tu gì cũng là tà kiến. Như vậy, hiểu và tin nhân quả là điều bắt buộc.

Tuy nhiên, hiểu sâu hay cạn còn tùy thuộc vào thời gian tu tập, tùy trí tuệ ta mở ra dần dần, nhưng buổi ban đầu mà tin được nhân quả đã là điều tốt rồi, đó là chính kiến, trên cả đạo tâm. Tin nhân quả là cái đúng ban đầu, hiểu được nó thì càng đáng mừng. Tuy nhiên, cái đúng ban đầu này có duy trì, kéo dài được hay không lại phụ thuộc vào việc hiểu và suy diễn nhân quả của ta. Nhân quả không chỉ đơn thuần là gieo nhân gì, gặt quả nấy mà nó là một bài toán rất phức tạp, đòi hỏi người có trí tuệ mới giải được. Có lúc, chỉ bậc Thánh mới nhìn ra, còn chúng ta không thể thấy.

Nhân quả thực sự không dễ hiểu. Ta tin nhân quả là đúng nhưng suy diễn nó sai thì cái tốt ban đầu bỗng thành cái xấu, dẫn đến hậu vận rất thê thảm. Hơn nữa, trong nhân quả còn có trách nhiệm. Nghĩa là không phải ta cứ bo bo, an phận cho bản thân mà không quan tâm đến người khác, bởi sống trên đời này, ta có trách nhiệm lẫn nhau. Tức là, ngoài trách nhiệm với bản thân, ta còn phải có trách nhiệm với người khác. Tùy thuộc vào mối quan hệ với mỗi người mà ta có trách nhiệm nặng nhẹ khác nhau. Với những người thân trong gia đình, ta có trách nhiệm nặng hơn so với những người ngoài xã hội.

Sống trên đời, đừng bao giờ nghĩ mình không có trách nhiệm với ai. Ngay cả người xa lạ, chưa gặp một lần nào, ta cũng có trách nhiệm với họ, chỉ là trách nhiệm đó nhẹ quá, ta không thấy rõ thôi. Trên tinh thần đó, Thượng tọa yêu cầu mọi người phải khắc cốt ghi tâm một điều là: ta sống thì luôn luôn có trách nhiệm với nhau, kể cả với những người xa lạ nhất. Nghĩa là, ta có trách nhiệm nhắc nhở, khuyên răn để mọi người biết tin nhân quả, biết sống tử tế, yêu thương để tránh những quả báo xấu. 

Cái tâm này rất lớn, mang lại cho ta rất nhiều công đức. Hơn nữa, đạo lí buộc ta phải làm như vậy, làm cho trọn trách nhiệm của một công dân đối với đất nước và trách nhiệm của một người phật tử đối với chúng sinh. Hiểu nhân quả thì ta phải hiểu đến mức độ này. Đây là chính kiến đầu tiên của sự tu tập. 

Đi sâu hơn nữa có thể ta bị sai mà không biết. Vì thế, ta phải học mãi chứ đừng nghĩ chỉ biết thôi là đủ. Ngay cả những bậc A La Hán vẫn còn phải học. Chúng ta có lòng tôn kính Phật, có tâm khiêm hạ cũng chỉ là đúng bước đầu. Nhưng chưa bao giờ cái đúng ban đầu là cái đúng phía sau. Nếu không tiếp tục trau dồi, học hỏi, cái kiêu mạn sẽ khiến ta đi sai các bước sau. 

Thứ ba, tu theo ‘Bát chánh đạo” là đúng, nhưng hiểu “Bát chánh đạo” không đúng sẽ dẫn đến tu sai. Ta biết Chánh tinh tấn là chánh đạo thứ 6. Nói Chánh tinh tấn là siêng tu, câu đó là sai, bởi vì câu đó nó hẹp hơn. Chánh tinh tấn khác với Tứ chánh cần, bởi “Cần” là cần mẫn siêng năng, còn “tinh tấn” là nỗ lực cố gắng. Hai cái nghĩa đó khá gần nhau, nên đa phần ta hiểu lầm. Nhưng từ chuyên môn không cho phép nhầm, mỗi chữ có ý khác.

Tứ chánh cần cũng là siêng năng nhưng nghĩa nó rất rộng, tức là siêng năng tu dưỡng đạo đức, siêng năng tụng kinh, siêng năng làm công quả… nói chung là mọi cái siêng năng tạo nên tốt đẹp cho tâm hồn, cho cuộc đời ta thì gọi là Tứ chánh cần. Còn chánh tinh tấn thì nghĩa hẹp hơn, nó chỉ trong phạm vi thiền định mà thôi. Mà giai đoạn tu chánh tinh tấn rất vất vả, tốn nhiều thời gian, có khi mất đến ba kiếp nhưng lại chưa có kết quả, nên cần một ý chí lớn. Không phải tự dưng Phật đặt chánh tinh tấn là chánh đạo thứ 6 trong “Bát chánh đạo”, vậy ta mới hiểu nó quan trọng biết chừng nào. 

Ai đã từng tu thiền thì biết, ngồi thiền không hề sướng gì, lưng mỏi, chân đau, tâm loạn động. Vậy mà, tu mãi không chứng, thử hỏi mấy ai còn kiên trì tu tiếp. Thượng tọa khẳng định ai đã gieo nhiều công đức ở đời trước rồi mới chịu đựng khổ sở trong thiền để tu tiếp. Còn đa số mọi người đến chùa nghe Pháp xong là trốn thiền. Do đó, một triệu người hiểu đạo thì chỉ có vài trăm người theo đuổi thiền.

Lại thêm, người chịu cực ngồi thiền là người có thiện căn lớn, vì có thể tinh tấn được. Người chứng thiền, bước qua giai đoạn chính niệm rồi thì hết tinh tấn. Khi đó, ngồi thiền với họ là điều hết sức hạnh phúc. Có được ý chí, thiện căn để vững vàng, tiếp tục chịu khổ tu dù chưa có kết quả là nhờ đời trước ta biết giúp người, giúp đời; biết cung kính, cúng dường một bậc Thánh. Không chỉ kiếp này, cái ý chí mạnh mẽ đó còn giúp ta biết tu nhiều kiếp về sau, nâng giá trị của ta lên một đẳng cấp mới.

Hơn nữa, người chứng được chính niệm tỉnh giác thường chứng luôn Tu đà hoàn, trở thành bậc Thánh giữa cuộc đời, được nhiều người yêu quý. Tuy nhiên, bản thân họ nhiều khi không nhận ra sự chứng đạt của mình. Vậy nên, ta đừng xúc phạm hay bất kính với bất kì ai, bởi biết đâu đó là một bậc Thánh. Lúc đó, quả báo ta phải hứng chịu rất nặng nề.

Ý chí tu tập chính là viên ngọc quý trong tâm ta. Chưa nói đến việc chứng đạt, chỉ cần có ý chí để duy trì việc tu tập, dù chưa có kết quả là đã rất đáng quý rồi. Đây là cái đúng giúp ta bước tiếp trên con đường tu hành. Dẫu vậy, ta chưa chắc sẽ duy trì được cái đúng ở bước tiếp theo, khi trạng thái tỉnh giác xuất hiện. Đó là lúc tâm ta rỗng rang, kiểm soát được vọng tưởng, giúp ta an vui, hạnh phúc nhưng chưa vào định. Tuy nhiên, đây là chỗ ta hay bị sai.

Thượng tọa phân tích, cảnh giới là một kết quả, lí giải về một kết quả sai khiến ta bị tổn phước. Trạng thái chính niệm tỉnh giác giúp ta nhìn cái gì cũng sâu sắc hơn thành ra ta ca ngợi, đề cao nó, dẫn đến việc kiêu mạn, làm bản ngã ngày càng nặng. Ngược lại, nếu ta có chính kiến, hiểu trạng thái này chỉ là một kết quả rất nhỏ, bản ngã thì rất dày, đường đi còn rất xa nên phải khiêm tốn, kín đáo mà tu tập tiếp. 

Lợi dụng chính niệm tỉnh giác để nhắc nhở bản thân mình còn bản ngã, còn lỗi lầm mới là người trí tuệ. Còn nhìn nó để ca ngợi là sai, khiến ta mất 30 kiếp để đạt được trạng thái đó, giờ phải lui lại 100 đến 200 kiếp. Ta phải nhớ, cái căn bản của chính niệm tỉnh giác là biết thân mình vô thường, biết soi xét lỗi lầm của mình thật kĩ, biết bản ngã mình còn dày, vậy mới đi tiếp được trong vô lượng kiếp. Đây là bí quyết.

Thứ tư, chọn quy y theo đạo Phật là điều đúng căn bản nhưng chưa chắc đã đúng mãi, bởi trong đạo Phật có nhiều tông phái, nhiều lối tu, nhiều ngã rẽ. Đạo Phật đúng nhưng liệu ta có chọn đúng thầy, đúng tông phái không hay lại chọn nhầm để rồi phá tan công đức của mình. 

Để tránh không mắc phải cái sai, Thượng tọa chia sẻ hai bí quyết:

-  Thứ nhất là cầu Phật gia hộ để ta chọn được đúng thầy tốt. 

- Thứ hai là xem giáo lí của vị thầy đó có gần sát với kinh điển gốc hay không. Vì kinh cũng có hai đến ba loại, nên ta phải dựa vào hệ thống kinh Nikaya. Kinh Đại thừa cũng rất hay, nhưng cần phải được hướng dẫn vì đó là bước phát triển, nếu không sẽ hiểu nhầm.

Thực tế, có những điều không đúng đã ngập tràn cả một vùng rộng lớn. Người trong vùng đó tưởng đạo Phật như vậy là đúng không ngờ lại sai. Vậy nên, cái đúng không lệ thuộc vào số lượng người cũng như vùng miền, mà đòi hỏi điều đầu tiên ta chọn Phật là đúng. Sau đó là chọn thầy và tông phái. Việc chọn lựa rất khó, ngoài việc xin Phật gia hộ, chỉ đường, ta còn phải có đủ trí tuệ.

Thứ năm, làm phúc, giúp người là đúng, vì sống trên đời phải biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Người chỉ biết nghĩ đến bản thân, không quan tâm, giúp đỡ ai thì sẽ dần hết phước. Thậm chí, không còn duyên làm người, phải chịu quả báo làm ma vất vưởng mấy trăm năm không được đầu thai, hoặc đọa làm súc sinh. Ai sống mà có ý niệm giúp người là đang có viên ngọc trong tâm. Được vậy cũng là nhờ kiếp trước đã từng cung kính, cúng dường, lễ bái một bậc Thánh nào đó. Có viên ngọc này, ta cứ thế đi trong luân hồi vô tận mà thăng tiến.

Khuynh hướng giúp người là điều đúng, nhưng không hẳn sẽ đúng mãi bởi ta giúp người kém hơn mình về mặt nào đó với tâm lí coi thường, không tôn trọng. Giúp người là đúng nhưng coi thường người là sai. Do đó, tu theo Phật là ta phải nhìn vấn đề một cách tinh tế, cẩn trọng. Ta giúp người mà diệt bỏ được tâm lí coi thường là đạo đức tinh tế, đi ngược lại với tâm lí bình thường. Chính nhờ tu theo đạo Phật mà ta thắng được bản năng, phá được quy luật tâm lí đó. Giúp người mà vẫn tôn trọng được người, vậy mới đúng trước, đúng sau. Nhờ đó, ta đúng mãi để có thể tu dưỡng nhiều vấn đề tinh tế trong đạo đức hơn nữa.

Thứ sáu, nói lời ái ngữ với mọi người là đúng, vì Phật dạy khi ta chưa có gì cho nhau thì lời nói ngọt ngào, yêu thương, tử tế cũng là một món quà. Cha mẹ Âu Cơ - Lạc Long Quân đã để cho ta một ngôn ngữ, giọng nói tuyệt vời nhất nhì thế giới, đó là một lợi thế. Vậy nên, đem giọng nói, ngôn ngữ này đi nói tục, chửi bậy thì không khác nào đem vàng bạc vùi xuống bùn lầy.

Nói lời ái ngữ là đúng, nhưng nếu dùng nó để chiếm tình cảm của người khác nhằm mưu lợi cho mình thì sai. Ai dùng ái ngữ để làm người khác tin tưởng, rồi dẫn họ về với đạo thì phước chồng thêm phước. Trong “Tứ nhiếp pháp” mà Phật dạy thì ái ngữ đứng thứ hai sau bố thí. Nhưng bố thí phải tốn tiền, còn ái ngữ thì không. Dùng lời nói để độ chúng sinh, dẫn dắt mọi người đến với đạo thì phước rất lớn.

Bằng cách liệt kê, phân tích, dùng nhiều ví dụ để chứng minh cho từng vấn đề một cách tường tận, Thượng tọa đã giúp các phật tử dễ dàng thấy và hiểu được những đạo lí chính có trong bài pháp. Qua đó, giúp mọi người thấy được những cái sai nguy hiểm, tiềm ẩn trong đạo lí cũng như quá trình tu tập của đạo Phật và trong cuộc sống. Từ đó, mọi người biết cẩn trọng, nhìn nhận mọi vấn đề một cách sâu sắc để thiết lập cái đúng mãi trong từng bước đi của mình.

Đồng thời, bài pháp cũng gửi một thông điệp rằng cuộc sống lúc nào cũng có hai mặt phải - trái. Do sống quá vội vàng nên nhiều khi chúng ta chạy theo cái sai trái lúc nào mà không hay. Hãy sống chậm lại để nhìn nhận mọi thứ trong lăng kính của sự yêu thương, tử tế, đúng đắn. Chỉ có vậy, ta mới thấy được con đường đúng đắn cần đi, thấy được những giá trị tốt đẹp mà cuộc sống ban tặng.

Tuệ Đăng 
Tuệ Đăng
BÌNH LUẬN
Tháng năm




Tháng
Ngày
Giờ
Tự điển Phật học được sắp xếp theo thứ tự từ A đến Z
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z