GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ban Thông tin Truyền thông
Tìm theo tin bài Tìm theo tác giả
Cập nhật lúc 11:16 11/09/2018 (GMT+7)

Vũ trụ quan (P.2)

(PGVN)

Nói đến "Nghiệp" (Karma) tức nói đến sự sinh động biến hóa của vạn hữu (tous les êtres). Nhưng Nghiệp là gì? Và vũ trụ do nhân duyên nào mà có?

Tiền bán thế kỷ XVII, một câu chuyện lịch sử thuộc phạm vi khoa học và Tôn giáo đã xảy ra như sau:

- Galilée (1564-1642) noi gương Copernic (1473-1543), ông đã đưa ra nhận xét: "Trời chỉ là khoảng không gian bao la vô cùng tận, trùm cả mặt trời, trái đất và nhiều hành tinh…" Thế là chỗ nào cũng có trời... Mà nói thế tức đã phản lại tinh thần tôn giáo; ông còn khẳng định: "Không có thần nào sáng tạo ra vũ trụ vạn vật cả". Trước kia tôn giáo thần quyền thường bảo "Trời tròn, đất vuông và đứng yên một chỗ; ở dưới là địa ngục, ở trên là trời". Ngày nay khoa học nhìn nhận; mặt trời là trung điểm của vũ trụ.

- Ai đúng, ai sai? Đến nay ta mới rõ sự thật, thì ra oan cho Galilée vì muốn tự do tín ngưỡng, vì muốn giác ngộ chỗ mê lầm của tôn giáo thần quyền mà suýt bị ghép tội tử hình. Việc này xảy ra dưới thời giáo hoàng Urbain VIII (1633) do tòa án La Mã Xứ, vì ông đã dám viết cuốn "Dialogues sur les grands systèmes du monde" mang một nội dung trái với Thánh kinh. Sau đó buộc lòng ông phải tuyên bố trước công chúng: "Trái đất không quay". Mà "Trời" là gì? Câu hỏi ấy đã làm không biết bao nhiêu người phải băn khoăn, thắc mắc…

- Về trái đất, tôn giáo xưa thường nói: Mặt đất hình phẳng. Khoa học hiện đại xác tín: Trái đất tròn = la terre est ronde*. Theo Laplace (1749-1827) thì nguyên thuỷ của trái đất là một khối lửa (une masse de feu) do mặt trời văng ra rồi nguội dần… chỗ nào lồi là núi, đồi, chỗ nào lõm là sông ngòi, hồ ao hay biển, cũng có chỗ bằng phẳng như sa mạc hay bình nguyên.

Và theo Lucrèce (509 TTL), ông đã có những giả tưởng rất hữu lý: "Địa cầu hiện ta đang sinh sống không phải duy nhất trong thiên nhiên, chúng ta phải tin rằng ở những miền khác của không gian cũng có những địa cầu khác, những sinh vật khác, những giống người khác…

Dựa vào thực tại, khoa học ngày nay đã phát minh những cái mới lạ, chế ra được cả phi thuyền liên hành tinh thể thám hiểm nguyệt cầu ,làm sụp đổ hẳn một hệ thống tư tưởng thần quyền xưa cũ, đặt con người trước trách nhiệm của chính mình. Tuy nhiên, trên đường tìm chân lý, khoa học chưa phải là vạn năng, giải quyết được hết mọi khúc mắc của con người và cuộc đời này. Vì "Khoa học chỉ bàn đến những điều tổng quát = I I n y a que de science du général.

Qua những trang trên, ta đã hiểu sự cắt nghĩa "Vũ trụ vạn hữu" của các Tôn giáo, Đại học, Triết học, Khoa học xưa và nay. Giờ đây, chúng ta thử dạo bước vào địa hạt. Đạo Phật là bản đồ đã sẵn có trên 2500 năm nay  để thử tìm ở đấy một tia sáng làm chỉ chuẩn cho sự tìm hiểu về vũ trụ và về con người.

Và kìa Con Đường Sáng đã hiện ra…

Vấn đề nhận thức

Đứng trên quan niệm nhận thức, đạo Phật không hoàn toàn thuần túy là một triết học. Vì đạo Phật là tất cả, hay nói cách khác, đạo Phật là triết học siêu triết học. Đạo Phật cũng có những lối nhận thức sự vật, bằng nhân giới trực quan rất chính xác. Thật vậy, trước khi nghiên cứu vấn đề gì ta cũng nên đặt thành câu hỏi: Tại sao rồi sau đó quyết tìm câu trả lời những nghi vấn mà mình đã đặt ra. Những vấn đề nào khi ta đã nhận xét được thấu đáo nó biểu hiện ra một cách phân minh; và những ý tưởng để diễn tả sự vật cũng "đến" một cách dễ dàng; thì đó là một Sự Thật mà ta phải thừa nhận. 

Tất cả hiện tượng trong vũ trụ chỉ là những con số cộng cộng các yếu tố (nhân duyên) mà có. Đứng về phương diện không gian mà luận thì vạn hữu là "Vô Ngã = anattà". Nó không có cái thật bề ngang; do cộng các điều kiện nhân duyên lại mà thành. Còn đứng về phương diện thời gian mà xét, vạn hữu là "Vô thường = anicca". Nó không có cái thật bề dọc; do cộng các trạng thái sinh - diệt lại mà có. Chứng minh cho lập luận trên đây, ta lấy một vật thể làm đối tượng để nghiên cứu, tìm hiểu sự vật. Cây viết hiện có trước mắt tôi là do hiệp thể của nhiều chất liệu như: gỗ + sơn + mực và ý niệm của người thợ tạo ra cây viết tròn hoặc lục lăng, với "thiết ý" là để dùng vào viết hay vẽ…, bởi có "hiện tượng cây viết” mà chứng minh được chung quanh cây viết là không gian: vô ngã. Rồi từ khi có hiện tượng cây viết cho đến cây viết bị hủy hoại, nghĩa là từ sinh - diệt này qua sinh - diệt khác, gọi là thời gian: vô thường.

Tất cả sự vật hiện hữu trong vũ trụ đều bao gồm trong một chữ "Pháp = Dharmas”.

** Nói theo từ ngữ Phật học, Pháp cũng gọi là "Nhất Thiết Pháp", tức chỉ cho Vạn Sự Vạn Vật và là Lẽ Sống, Cách Sống, Khuôn Mẫu Sống của muôn loài vạn vật trong cõi đời này. Cái lẽ sống ấy cùng với trời, đất, muôn vật nhịp nhàng chung sống trong một Nguồn Sống Vô Tận (tức Hiện Tượng - Bản Lai Diện Mục là như thế đó; pháp nhĩ như thị là vathàbhùta). Với sự thật trên đây đã giúp ta khám phá ra hiện tượng vũ trụ vạn hữu gồm có hai mặt đối đãi: "Một Là Tất Cả", toàn thể vũ trụ tạo thành một vật (nhất tức nhất thiết); "Tất Cả Là một", một vật ảnh hưởng đến toàn thể (nhất thiết tức nhất)*.

Để nhận thức sự việc không bị lệch lạc, sai lầm, đạo Phật đề ra ba phương pháp, cùng gọi là: Tam Lượng (ba phương pháp tỷ giáo, nhận thức sự vật đúng như thật). Hình thái nhận thức thứ nhất là Hiện Lượng, những sự vật hiện hành do ngũ giác và tri giác ta trực tiếp nhận thức một cách thấu đáo, nếu ta có quan niệm rõ rệt về một vật ấy. Tỉ dụ: phải nghe tiếng nó, phải ngửi mùi nó v.v… Trước khi có cảm giác rồi mới có tri giác, không có tri giác thì không có quan niệm, nghĩa là chưa thành hiện lượng. Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ Lượng, sự suy luận, đối chiếu bằng những phương pháp tỷ giảo, lấy cá thể hiểu toàn thể làm đối tượng so sánh và chứng minh cho sự tìm hiểu sự thật như dựa vào pháp Tam Chi Luận trong Nhân Minh học * để tỷ lượng trong việc xét đoán vũ trụ vạn hữu. 

Hình thái nhận thức thứ ba là Thánh giáo Lượng, căn cứ vào giáo lý Như thật do đức Phật dạy để mở mang trí tuệ (Prajnã), suy xét sự vật, phân định lẽ chính tà, thực hư. Đó là những yếu lý căn bản cho mọi phương pháp nhận thức. Ta có thể y cứ vào đấy làm tiêu chuẩn để tỷ giảo, phán đoán, tìm hiểu chân lý. A񰠤ụng phương pháp Tam Lượng trong công cuộc tìm hiểu sự thật cho ta thấy: "Đạo Lý Duyên Khởi = paticcamuppàda" của đạo Phật là cắt nghĩa trọn vẹn cái lý do vũ trụ vạn hữu thường hằng, luôn luôn sinh động (vô thường) nhưng không thực thể (vô ngã). Căn cứ vào Nhân Minh học (tức phương pháp Luận Lý học), ta tập luận:

- Tôn: Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều biến chuyển, vô thường. 

- Nhân: Vì các nhân duyên yếu tố giả hợp tạo thành.

- Dụ: Như cái nhà do các vật liệu "giả hợp” tạo thành rồi phải mục nát, hư hỏng và so với phép Tam Đoạn Luận (Syllogisme) trong triết học Tây phương: 

- Đại Tiền Đề: Những vật gì do yếu tố nhân duyên giả hợp tạo thành đều bị hủy diệt.

- Tiểu Tiền Đề: Như cái nhà do các vật liệu "giả hợp" tạo thành tất phải mục nát, hư hỏng.

- Kết luận: Vậy các hiện tượng trong vũ trụ phải biến chuyển, vô thường.

Tới đây xin tạm mượn câu chuyện "đàm thoại" giữa đức vua Milinda và thánh giả Nagasena được ghi lại trong cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo = Milindapanha để chứng minh cho lý giải trên là sự thật.

- Thưa thánh giả, tên thực ngài là gì? Đức vua hỏi.

- Tâu hoàng thượng, bạn đồng đạo thường gọi tôi là Nàgàsena, nhưng đấy chỉ là một cách để phân biệt một tiếng gọi, một lối nói cho tiện, hay nói cách khác, chỉ là một cái danh chứ thực ra không có người Nàgàsena; thảng hoặc có kẻ đem đồ dâng cúng tỳ kheo (Bhikkh: tức chỉ thánh giả Nàgàsena) những thứ cần dùng như thức ăn, áo mặc, đồ ngủ, thuốc men… thì lấy ai để nhận lãnh? Và ai ăn dùng những vật ấy? Ai bảo toàn luân thường đạo lý?

- Ai ngồi tham thiền? Ai hành đạo? Ai đắc quả? Ai nhập Niết bàn? Ai là kẻ sát sinh? Ai trộm cắp? Ai tà dâm? Ai phạm ngũ giới? Nếu thế thì không có thiện, không có ác, không ai làm thiện, cũng không ai làm ác; những việc làm dù tốt hay xấu cũng chẳng có quả báo? 

Thưa thánh giả, vậy thì không ai đánh giết; tỳ kheo và tỳ kheo ni ơi! Các người không có ai là thầy, không ai là người giảng dạy, không ai là người truyền đạo pháp, nếu thánh giả nói rằng: Này các huynh, hoàng thượng gọi ta là Nagasena thì Nagasena là ai? Thưa Thánh giả, xin ngài giảng cho. Hay là tóc trên đầu ngài là Nagasena?

- Hay là lông, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, cật, tim, gan, lá lách, phổi, ruột, cuống ruột, đồ ăn chưa tiêu hóa, đồ ăn đã tiêu thành phân, đờm, dãi, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước miếng, nước tiểu v.v…

- Không. 

- Hình sắc kia có phải là Nagasena chăng?

- Không… 

- Sự nhận biết vui buồn, sướng khổ, sự suy tưởng phải trái; sự toan tính hành động, trong lòng, có phải là Nagasena?

- Không. 

- Thế không có chi là Nagasena cả, vậy Nagasena là gì?

- Không là gì hết, thưa hoàng thượng.

- Có lẽ nào Nagasena chỉ là một tiếng không thôi sao, trẫm e thánh giả nói dối. 

Bấy giờ, thánh giả (luôn thể) trông thấy cái xe, liền hỏi đức vua Milinda: 

- Tâu hoàng thượng, chứ ngài tới đây đi bộ hay đi xe?

- Đi xe, thưa thánh giả.

- Hoàng thượng bảo đi xe, vậy tôi xin hỏi: Xe là gì? Có phải cây gọng là xe không? 

- Không. 

- Phải bánh xe là không?

- Không. 

- Phải ổ máy của xe là xe không?

- Không. 

Hõi mãi như thế, không có cái gì đức vua Milinda có thể chỉ được là xe. Thánh giả Nagasena liền kết luận: Cái xe của hoà thượng chỉ là một dấu hiệu, một tiếng gọi; tôi e hòa thượng nói dối khi nói đi xe đến đây…

Ở đời, hễ cái gì có hình tướng đều biến đổi, không thật. Phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối, có sinh phải có diệt - Kinh Kim Cương .

Cuộc đàm thoại trên đây đã chứng minh cho sự thật của Đạo Lý Duyên Khởi, Vô Thường, Vô Ngã trong đạo Phật. Một sự thật không ai có thể chối cãi. Thật vậy, tất cả sự vật hiện hữu trong thế gian này hoặc đang băng hoại hay sẽ thai sinh là do sự kết hợp "vô thường" của một số tinh thể đơn thuần qua nhiều giai đoạn và cứ thế tiếp tục mãi… Đạo Lý Duyên Khởi cho ta thấy: Sự vật không phải chỉ là những cá thể cố định, đơn điệu, độc lập; mà là những "phần tử" hòa hợp trong một khối chung của "toàn thể". Những phần tử ấy có một xã hội tính, tức tính "Nhân Duyên Sinh". Với tính Nhân Duyên Sinh, đạo Phật đánh dấu sự tương quan mật thiết giữa hết thảy…Vì biết rằng hết thày sự vật trong vũ trụ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng lẫn nhau mà tạo thành. **Vũ Trụ Luận.

Trong Vũ Trụ Luận (Cosmogonie) gồm hai phần: Hình Nhi Thượng: Métaphysique, nghiên cứu Bản Thế Chân Như (Tathatà hay paràmartha). Như Lai Tạng (Tathatagarbha); Hình Nhi Hạ: Physique, phần triết lý thực tiễn; những việc con người, vũ trụ.

1. Thế giới vô biên, chúng sinh vô hạn lượng nhưng tất cả đều do nghiệp biến hiện.

Trong vũ trụ có rất nhiều thái dương hệ, mỗi thái dương hệ là một thế giới, hợp nghìn thế giới thành một Tiểu thiên thế giới, hợp nghìn tiểu thiên thế giới thành một Trung thiên thế giới và hợp nghìn trung thiên thế giới thành Đại thiên thế giới.

Mỗi thế giới có những y báo, chính báo khác nhau nhưng không ngoài "Nghiệp cảm duyên khởi".

Nói đến "Nghiệp" (Karma) tức nói đến sự sinh động biến hóa của vạn hữu (tous les êtres). Nhưng Nghiệp là gì? Và vũ trụ do nhân duyên nào mà có? Nghiệp là Vô Minh (Avidyà) duyên khởi và tự nó tác động, chứ không bị chi phối bởi một sức huyền nhiệm nào cả. Mà Nghiệp thì hoàn toàn động. Bởi có động mà vũ trụ vạn hữu mới tiến hóa, sinh tồn động, hay nói Nghiệp cũng thế - xin hiểu theo nghĩa rộng - khi khởi thủy có thế giới, có các loài sinh vật là có động. Động là biến hóa cần phải có để duy trì trật tự trong vũ trụ và là Lẽ Sống của mỗi hành tinh hệ, gồm nhiều thế giới gọi chung là vũ trụ.

"...Cứ tiến mãi qua 33 tầng trời: 56 cảnh giới Bồ Tát; vũ trụ tùy mỗi tầng mà rộng lớn gấp bội. Mỗi Phật sát là một cõi Phật và mỗi cõi gồm có Tam thiên đại thiên thế giới 3.000.000.000*. Từ cõi đức Phật Cakyamuni vượt qua mười ức vạn cõi Phật khác còn có một cõi do đức Phật A Di Đà (Amitabha buddha) làm giáo chủ. Mỗi cõi Phật sát đối với không gian chỉ là một hạt bụi nhỏ khác. Các Phật sát đầy rẫy hư không. Thật là bao la!**

Chỉ mới đứng về mặt tương đối cuộc đời mà luận ta cũng đã thấy: Vũ trụ rộng lớn có muôn hình, muôn vẻ, nào trăng, sao, trời, đất, núi, sông, cây cỏ, người và vật v.v… Tuy nhiên sự nhận thức của con người (do ngũ quan và ý thức tạo thành) khác với sự nhận thức của các loài động vật "nhìn" và "hiểu" những cảnh vật ấy (cộng nghiệp trong biệt nghiệp). Nghĩa là, tùy mỗi nghiệp lành hay dữ của chúng sinh mà sự cảm ứng khác nhau. Con người thuộc trong những loài động vật. Nhưng đời sống con người khác đời sống của loài muông thú. Mỗi loài có một "tính sống" riêng biệt, như cá thì bơi lội dưới nước, chim bay bổng trên không, hổ báo thì sống ở trên cạn (mặt đất) và trong những miền rừng rú; hoàn cảnh khác nhau, nên sự sống cũng khác nhau.

Theo quan niệm đạo Phật thì vũ trụ (tự nó = chose en soi) đã biến chuyển bao lần và còn biến chuyển mãi mãi. Đó chẳng qua là do "Nghiệp thiện" hay "Nghiệp ác" từ vô thủy kiếp đã tạo; mà "y báo" (chỉ cho tất cả sự tướng hiện hữu, dù lớn hay nhỏ, lớn như thái dương hệ, sơn, hà, đại địa, thành quách lâu dài…, nhỏ như hạt bụi, vi trần...), "chính báo" (gồm hết thảy sinh vật, trong đó có con người và vạn hữu, gọi chung là chúng sinh) làm nhân - nguyên nhân chủ yếu - làm duyên - nguyên nhân phụ thuộc - để phát sinh hiện tượng giới. Tất cả y báo, chính báo cũng lại do Nghiệp cấu tạo mà thành. Nói theo Đạo lý duyên khởi* thì sự vật luôn luôn biến hóa vô cùng tận; đó không phải vật này sinh ra vật kia mà là vật này làm nhân, làm duyên sinh khởi ra vật kia. Hay nói cách khác:

"Cái Này có thì Cái Kia có; Cái Này sinh thì Cái Kia sinh, Cái Này không thì Cái Kia không. Cái này diệt thì Cái Kia diệt (**) - Majjhimani Nikaya II, 63

Cũng như nói, quả sinh ra cây, cây nở hoa, hoa kết thành quả.

Sự "Có, Không", "Còn, Mất" chỉ là sự thay đổi hình dạng mà thôi. Thực ra "Nó" không mất đi đâu cả (**). Ta hãy lấy một dữ kiện để chứng minh cho Sự Thật kia:

Nước H2O khi nước sôi bốc thành hơi, hơi đọng lại vẫn là nước. Đó là một hình thức, chỉ là sự đối thể của một chất liệu. Chúng ta nói: cái chết làm tiêu diệt một sinh vật mà không nói sẵn sinh ra một xác chết; có khác gì ta coi trọng cái hình thức (giả tướng) hơn chính sự sống, là phần tâm tưởng tinh anh.

Thực ra, đối với Bản Thể (Essence) của sự vật, nó không bị tiêu diệt mà chỉ thay đổi qua nhiều trạng thái khác nhau, giữa… sự sống và sự chết và cứ như thế tuần hoàn biến diễn mãi không thôi. Cho nên, ta không thể nói cái nào có trước cái nào có sau. Vũ trụ là một cuộc đại hoạt động vô thủy vô chung (sans commencement ni fin). Từ nguyên tử nhỏ nhiệm đến các tinh tú xa xôi đều nằm trong cái vòng luân lưu không bao giờ đứt quãng…, khác nào như những lằn sống ngoài biển cả. Ngược về trước ta không tìm thấy có thủy, ngó lại sau chẳng thấy có chung thì làm sao có thể gọi được là Nguyên nhân tối sơ (?). Mỗi thời đại hiện ra cùng vạn vật rồi lại tan đi mà biến ra thể vô hình, vô sắc. Khi hiện ra gọi là Sắc khi biến đi gọi là Không *. Do đó, đạo Phật cắt nghĩa sự biến chuyển của vũ trụ vạn pháp (nghĩa như chữ vạn vật) bằng hai chữ "Sắc", "Không".
 
2. Sắc Không

a. Sắc (Rupam hay Lak sana)

Chỉ cho tất cả vật thể trong vũ trụ có hình tướng mà ngũ quan ta cảm giác thấy, những ý tưởng, tâm tình đều thuộc phạm vi "sắc" cả . Cái gì thường còn mãi mới gọi là "có", như Bản Thể (Essence), Chân Tâm (Lêtre infini), Chân Như (Réalitéultime) v.v..., những trạng thái luôn luôn sinh diệt, có rồi lại không như những bọt nước trên mặt sóng biển… Đấy không phải là có mà chỉ là "giả có".

b. Không (Sunyatà):

Không là trạng thái không hình sắc, âm thanh, không thể dùng giác quan mà tiếp xúc hay suy tưởng. Nhưng nó lại có sức linh hoạt như những luồng quang tuyến, tuy vô hình song có một năng lực biến chuyển một giây có thể chạy chu vi địa cầu tám lần. Nghĩa là, "Chân Không Diệu Hữu"*, Cái "Không" này là hoàn toàn không, vĩnh viễn không (Chân Không) chứ không phải không trống rỗng, không có gì (ngoan không - Vide)... Để hiểu Chân Không một cách giản dị, ta hãy lấy một ống chứa đầy không khí bằng thủy tinh rồi cho hút hết không khí - có chứa đựng trong ống thủy tinh ấy - ra ngoài, thì trong đó ta tạm thấy "Chân Không" như những luồng quang tuyến, dù có hiện ra hay biến đi nhưng nó vẫn là nó. Nó chỉ đổi thể mà thôi (changement détat). Trong kinh Bát nhã (Prajnà paramita) chép: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc… thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm...

Các bậc tu hành khi đã chứng được "bát nhã trí" (prajnà) nhìn thấy các pháp đều là không. Một trong những vị thiền sư đắc đạo của nước ta, Ngài Từ Đạo Hạnh, triều đại nhà Lý, đã cảm thông được lẽ "có", "không" hiện ra trong vũ trụ vô biên, biểu thị qua những vần thơ tuyệt diệu dưới đây:

"Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không.
Thử xem bóng nguyệt dòng sông. 
Ai hay không có, có không là gì?"

Tùy theo nhân duyên mà hiện ra nhu là có sinh, cho nên gọi là tạm có. Bởi không có tự tính nên gọi là Không = Tòng duyên sinh cố, danh chi vi hữu. Vô tự tính cố, danh chi vi vô - Kinh Đại Bát Niết Bàn.

Sự đổi thể giống như nước đổi ra hơi, hơi lại về nước; như những luồng quang tuyến tuy bị tắt là do tại vì bóng hỏng và máy hư (tùy duyên bất biến). Nhưng điện tính thì không bao giờ mất hẳn (bất biến tùy duyên). Nó vẫn có đầy rẫy trong khắp cả hư không giới (nghĩa chữ "sắc bất dị không") nhưng khi đủ yếu tố nhân duyên, như dây, bóng… ta bật đèn là thấy có ánh sáng ngay (trước không, bây giờ có ánh sáng) (nghĩa chữ "Không bất thị sắc". Do đó, cho ta thấy vật chất chỉ như là những làn sóng nhấp nhô ngoài biển cả. Mà tinh thần cũng chỉ là những luồng ý niệm được tiếp nối từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Dưới con mắt Phật học, ta nhìn vũ trụ vạn hữu không ngoài hai định đề "Sắc, Không" và nó còn phải liên quan mật thiết tiếp nối nhau theo luật nhân duyên nhân quả và luôn luôn biến chuyển mà muôn vật được sinh sôi nảy nở, nhịp sống mới đều hòa; nếu vũ trụ bất động, vạn vật sẽ tự diệt.

Ở đây, ta có thể tượng trưng vũ trụ như một hình tròn theo sự biến chuyển như sau:

Không Sắc 

Vẫn biết vạn hữu (tous les êtres) do nhân duyên cấu tạo nên; nhưng cái gì là tượng trưng cho vũ trụ vô biên ấy? Đạo Phật với thuyết "Bản thể thật tại luận".

3. Bản thể thật tại luận 

Hay câu "Nhất thiết duy tâm tạo". Trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsakasutra) chép: "Vạn hữu trong vũ trụ đều do Tâm (Bản Thể) biểu hiện = "Nhất thiết duy tâm tạo". Chữ Tâm ở đây không có nghĩa chỉ cõi lòng vui buồn, ganh ghét hay cái trí hiểu biết của con người, cũng không phải như chữ Tâm theo định nghĩa hạn hẹp của triết học là: Tinh thần chủ quan sinh ra vũ trụ khách quan. Lại càng không nên hiểu theo triết lý của Hégel; Tâm là ý niệm hoặc ý tưởng tuyệt đối. Phần nhiều ta không chịu tìm hiểu, chỉ mãi loay hoay trong rừng rậm danh từ, không tìm ra được lối thoát nên rất dễ bị lầm lạc. Thật đáng tiếc! Chẳng hạn người ta thấy trong kinh Phật thường hay nói đến chữ "Tâm", những người nông nổi vội kết luận cho đạo Phật là "Duy Tâm".

Để hiểu chữ Tâm theo đúng quan niệm đạo Phật, chữ Tâm (ở đây có chia ra "Chân Tâm (Pêtreinfini) và Vọng Tâm (conscience inconnaissable). Ta nên nhớ: Căn bản của phiền não sinh tử là Vọng Tâm. Mà căn bản của bồ đề, Niết bàn là Chân Tâm. Nhưng chữ Tâm xin hiểu nghĩa là Bản thể của vũ tru vạn hữu, tức Tâm Chân Như hay Thể Tính chân Tâm (les éléments essentiels de l etre infini).

Cũng xin nói thêm về chữ "Tâm" (Citta), hiểu theo danh từ Phật học, có nhiều tên khác nhau; tùy trường hợp, cũng gọi là Chân Tâm, Bồ Đề, Niết Bàn, Như Lai Tạng, Alaya Thức hay Pháp Thân, chân Lý v.v… 

Thật ra những danh từ trên đức Phật tạm đặt ra để chỉ cái "Bản thể tuyệt đối" của vũ trụ, đó cũng chỉ là phương tiện để hướng dẫn con người đạt được Chân Lý. Trong kinh có câu: “Nhân chỉ kiến nguyệt", nghĩa là nhờ có ngón tay chỉ mà ta biết được mặt trăng. Mặt trăng ở ngoài ngón tay người chỉ. Ngón tay là ám chỉ cho lời nói, lý luận và danh từ, còn mặt trăng mới đích là chân lý của Bản thể vũ trụ. Khoa học ngày nay thì nói đến những Electron, Atome et Noyau để cắt nghĩa vật thiên thiên đã tạo nên vũ trụ vạn vật… Đó chẳng qua cũng chỉ tạm mượn cái tên điện tử, nguyên tử hay hạch tử để chỉ cái nguyên chất (có sẵn) trong vũ trụ mà thôi.

Trong Đại thừa khởi tính luận chép: Đứng về phương diện Bản Thể thì tất cả các pháp từ xưa tới nay, lìa các "tướng" như lời nói, chữ nghĩa, tư tưởng, tuyệt đối bình đẳng, không có thay đổi, không hư hoại, cùng chung một Bản thể sáng suốt của nhất tâm nên gọi là Chân Như = Nhất thiết chư pháp, tòng bản dĩ lai, ly ngôn tuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, vô hữu biến dị, bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chân như.

Để hiểu chữ "Tâm" trong đạo Phật một cách sâu rộng hơn, kinh Lăng Nghiêm (Suramrama sutra) có ghi lại mẩu chuyện đối thoại giữa đức Phật và đệ tử là Ananda, sau bảy lần gạn hỏi ý nghĩa chữ "Tâm" đều bị đức Phật bác bỏ, cho là không đúng. Và dưới đây là mẩu chuyện lý thú đó:

1. Ananda chấp tâm ở nơi thân - "Tâm không phải trong thân. Nếu bảo tâm ở trong thân, trước hết ông phải lấy tim, gan, mật, phổi, lá lách…, sau mới thấy cảnh vật bên ngoài". Tại sao ông không trông thấy? - lời đức Phật .

2. Ananda chấp tâm ở ngoài thân. Đức Phật: "Tâm ở ngoài thân thì tâm và thân ông không dính dấp nhau. Vì lẽ gì, mắt ông vừa trông thấy cảnh vật, tâm ông liền biết? Như vậy, thân và tâm đâu có tách rời nhau.

3. Ananda chấp tâm ở trong con mắt. Đức Phật: Nếu tâm ở trong con mắt; tại sao tâm ông lại không thấy được mắt ông. Cũng như người chết, con mắt còn đó, tại sao lại trông không thấy gì?

4. Ananda chấp trở lại, tâm ở trong thân, ông nói: "tôi mắt thấy tối, mở mắt thấy sáng là tâm thấy cảnh vật bên ngoài. Như vậy, tâm ấy đúng ở trong thân tôi". Đức Phật liền hỏi vặn lại Ananda: "Nếu ông nói rằng nhắm mắt thấy tối, vậy cái tối ấy có đối trước mắt ông hay không?".

5. Ananda chấp tâm tùy chỗ hòa hợp mà có. Đức Phật: "Ông nói tâm tùy chỗ hòa hợp có nghĩa là tâm ấy không có thực thể (tức không có) thì lấy gì làm hòa hợp? Nếu nói nó từ trong thân hoặc từ hư không hiện ra, lẽ tất nhiên nó phải thấy lục phủ, ngũ tạng bên trong và thấy hình thể con người bên ngoài. Còn nói tâm ấy có nhiều thể (thành ra có nhiều tâm) biết cái nào là tâm của ông? Tùy hòa hợp chỗ nào tâm liền ở chỗ đó là sai".

6. Ananda chấp tâm ở khoảng giữa. Đức Phật dạy: "tâm" và "cảnh" là hai thể khác nhau, một bên có tri giác (tâm), một bên không có tri giác (cảnh), hai cái đối lập, riêng biệt nhau thì lấy cái gì gọi được là giữa?

7. Ananda chấp cái không trược* là tâm. Đức Phật: Hễ cái gì có hình tướng như núi, sông, trái đất thì gọi là "giả có"; còn cái gì không hình tướng, như lông rùa, sừng thỏ đều gọi là không và đã không thì có gì mà nói là "trược"?…

Đến đây đức Phật giảng rõ thế nào là Thể tính chân tâm để giúp cho chúng sinh sớm ngộ nhập "Phật tri kiến", nhìn thấy các pháp là không tướng, con người và chúng sinh là do nhân duyên cấu tạo, nên nó "vô ngã” và hết thảy sự vật hiện hữu trên cõi đời này đều "vô thường" chuyển biến. Muốn giải thoát những ràng buộc mê luân khổ đau thì con người phải biết "tu tâm, dưỡng tính" để mình không còn bị làm nô lệ cho cái hình hài giả tạm và sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, một cuộc sống vĩnh cửu, thanh tịnh, tự tại, như nhất…

Vòng tròn tượng trưng cho "Tâm" hay "Bản Thể" của vũ trụ vạn hữu. Đường thẳng và cong biểu tượng. Sát na sinh diệt.

Vậy tâm ấy là thể bản nhiên thanh tịnh (Đại Ngã Thể)* bao trùm khắp pháp giới - xin hiểu nghĩa như chữ vũ trụ - hư không giới, bao giờ nó cũng là một thể tồn tại, không sinh diệt, không thêm, không bớt, không sắc tướng, cũng không hẳn là hư không; vũ trụ vạn hữu đã từ vô lượng kiếp luân hồi…

Đến đây ta hãy lấy một thí dụ để chứng minh như "nước" là Bản Thể, có tính chất thành Sóng. Mặc dù là nó tĩnh nhưng vẫn có tính chất động. Tĩnh và Động là hai tính chất có ở trong nước. Sóng chỉ cho hiện tượng "tinh thần và vật chất".

Nước chỉ Bản Thể "vô biên"... Vậy có sóng là có nước. Cũng như nói có hiện tượng là có bản thể.

4. Thể, Tướng, Dụng

a. Thể 

Bản Thể chỉ cho vũ trụ bao la - "Tâm Chân Như". Ví như nước mênh mông trong đó có đầy đủ các yếu tố nhân duyên để "cấu tạo" vạn hữu, nếu ta thu hẹp lại thì nó chỉ là một con số không (0), nhưng trong đó vẫn hàm tàng hai tính chất "Sắc" (vật chất), "Tâm" (tinh thần). Đạo Phật quan niệm Tâm hay Vật nhị nguyện đồng nhất thể, nghĩa là dù Tâm hay Vật đều có ở trong "Bản Thể; không phải "Tâm" có trước "Vật", như phái Duy Tâm chủ trương "tinh thần có trước ,vật chất có sau”. Hay nói ngược lại, "Vật" có trước "Tâm", như phái Duy Vật chủ trương "vật chất sản sinh ra tinh thần". Trong Duy Thức Học (Vijnànavàda) nói: "Tâm và Vật là hai cái "đồng thời" có ở trong Bản thể chân như... Nếu không có Tâm thì không có Vật; mà không có Vật thì cũng không có Tâm = Kiến, Tướng đồng thời nhi khởi, vô kiến tắc vô tướng, vô tướng tắc vô kiến".

Viên đá lửa sẵn có "tính lửa" hàm chứa bên trong nên khi ta bật thấy lửa phát hiện. Cũng như "tính ướt" của nước vẫn sẵn có ở trong nước. Bản thể của vũ trụ hiện hữu như ta đã thấy, nó không ngoài Hiện Tượng mà có Bản Thể. Hiện Tượng, tức Bản Thể to như Thái dương hệ, nhỏ như vi trần cũng đều do nơi Bản Thể vô biên diệu dụng kia mà biến hiện ra cả…

b. Tướng

Tướng Trạng chỉ cho núi, sông, người và vật - Hiện Tượng giới - Ví như nước biển đem pha các màu xanh, đỏ, vàng, tím; tuy sắc tướng có khác nhưng nó vẫn không ngoài thể chất "nước". Vũ trụ với thiên hình vạn trạng khác nhau về hình thái song đều chung một Bản Thể, không hai, không khác.

c. Dụng

Công dụng tức chỉ cho sự sai biệt giữa vật này và vật kia: sinh diệt, vô thủy vô chung -với sự áp dụng của "Sắc"  hay "Tâm", tùy theo trường hợp thiện và ác của "Tướng", như màu xanh, màu vàng v.v… để dùng vào việc viết (hay vẽ) các vật xanh, vật vàng v.v…

5. Những nguyên nhân cấu thành vũ trụ vạn hữu

Trong Bản Thể Vũ Trụ gồm sáu yếu tố công năng hoạt động làm căn bản, cũng gọi là "Lục đại duyên khởi" (Màhàhhutas les six élémants) tức: Địa (Prthividhàtuh), Thủy (Abdhàtuh), Hỏa (Tejodhàtuh), Phong (Vàyudhàtuh), Không (Sùnyatà), Thức (Vijnàna), dung hòa lẫn nhau và tạo ra muôn loài vạn vật hiện hữu ở thế gian này.

Sáu công năng đó là:

* Công năng rung động: Gió

* Công năng nặng: Đất 

* Công năng nóng: Lửa

* Công năng mịn ướt: Nước

* Không gian: Hư không 

* Linh thức

Tính chất của sáu công năng rất tinh tế, không phải là hình thức thô sơ như những nguyên tử, điện tử còn có thể phân tích; đằng này tự nó có đủ năng lực tiến hóa, phát triển. Đứng về quan niệm sai biệt, ta nhận thấy có sáu công năng khác nhau; nhưng đứng về phương diện tuyệt đối thì chỉ thấy (duy nhất) có một "Bản Thể" - Bản Thể Bình Đẳng Như Nhất. Bản Thể - xin nhắc lại - cũng có chỗ gọi "Không Tướng hay "Chân Không", như trong Bát Nhã Tâm Kinh nói: "Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt…" Các pháp vốn không thật có. Mà đã không thật có thì làm gì còn có sinh diệt. Bởi không còn bị sinh diệt nên gọi là Chân Như (Tathatà). Vẫn biết trong Bản Thể Vũ Trụ chứa sẵn sáu yếu tố công năng nhưng ta cần biết cái nào hiện trước, cái nào hiện sau? Vấn đề này khoa học hiện đại hãy còn đương trong vòng tìm hiểu. Nhưng đạo Phật đã có giải thích rõ trong Kinh Lăng Nghiêm (Suramrama-sùtra), quyển IV chép:

Khoảng không gian vô cùng tận do nguồn linh thức quá mạnh làm rung động một lượt "6 yếu tố công năng" và cùng quay chuyển biến mà sinh ra "phong đại" (Vent) trước. Và do những luồng gió thổi "quyên" các yếu tố lại tạo thành "không khí" (Atmosphère), rồi đến "địa đại" (Minéral) và do sự cọ xát giữa hai áp lực gió và không khí tạo thành lửa "hỏa đại” hay "điện lực" (Electricité); hơi nóng bốc lên gặp khí lạnh ép xuống thành nước "Thủy đại" (Océan); Lửa bốc lên, nước dội xuống làm cho lắng động lại và nguội dần, chỗ nào bằng phẳng là đất, chỗ nào sụt xuống là bể hay hồ ao; nơi nào sức nước mạnh hơn mọc ra cây cối..."

Tất cả những thứ đó gọi chung là "Khí thế gian".

Đức Phật còn cho ta biết: ở thế gian cả thảy có bốn loài sinh (Catvàro yonayah)* khác nhau. Bốn loài đó là:

- Hóa Sinh (Upapàdukàh) như con sứa do "khí hóa" của bọt nước, con đom đóm do củi mục sinh…

- Thấp Sinh (Sumsedajàh), những loài giun, dế từ nơi ẩm ướt...

- Thai sinh (jaràyujàh), những loài sinh bằng bào thai như loài người. 

- Noãn Sinh* (Andajàh), những giống sinh bằng trứng như loài cá, chim v.v...

Những loài sinh trên đây đều mang trong tự thể cái hình hài giả tạm và cùng chịu chung một định luật; Sinh, già, ốm, chết!

Rồi cứ như thế hết sinh vật này đến sinh vật khác tiếp nối nhau sinh sản mãi thì đấy gọi là "Tình thế gian".

Vũ trụ vạn hữu đã do "nhân duyên nhân quả" cấu tạo, vậy ta biết được rằng giữa các hiện tượng có là do những mối dây quan hệ chằng chịt mật thiết với nhau mà không bao giờ bị đức quãng; bởi vũ trụ là một khối duy nhất: "Vạn vật đồng nhất thể", tức có nghĩa nói rằng trong vũ trụ gồm có tinh thần và vật chất vốn cùng một "Bản Thể" và cùng bất biến (éternel).

Thật thế, muôn vạn cảnh tượng biến hiện trên thế gian này to như Thái dương hệ, nhỏ như vi trần cũng đều là hiện thân của Bản thể vô biên tuyệt đích. Tuy nhiên, khi hiện tượng giới đã hình thành thì nó bắt buộc phải theo một công lệ "Thành, Trụ, Hoại, Không”... 

Mỗi thời kỳ có hai mươi tiểu kiếp* bốn thời kỳ là tám mươi tiểu kiếp. Mỗi tiểu kiếp có 16.800.000 năm, 80 tiểu kiếp gọi là một đại kiếp, tính có 1.34.000.000 năm; trải qua bốn giai đoạn dài dặc ấy rồi trở lại vô cùng tận… Địa cầu được đứng vững là nhờ những dẫn lực của các hành tinh và các vòng "phong luân", "thủy luân", "hóa luân và "không luân".

Thật ra, từ khi có con người và vạn vật trên địa cầu đã có biết bao lần đổi dời, biết bao sự khủng hoảng về kinh tế, chính trị  về phong tục, đạo đức, về văn hóa, tôn giáo và không kể xiết với những trang sử thịnh suy, bĩ thái, lớp này chết, lớp khác sinh, trái đất này tan làm nhân cho trái đất khác; trong vũ trụ có hàng triệu thế giới… biết bao nguồn sống của chúng sinh, mỗi nơi có khác nhau, không tìm thấy mối hóa khứ từ đâu, không chứng nghiệm được những tương lai vô tận.

Vũ trụ và con người cứ như dòng sông chảy xiết ra biển "Bản thể Vô Biên", mênh mông bát ngát không ngừng? Nhưng đó chỉ mới đứng về phương diện tương đối mà nói, còn về phương diện tuyệt đối thì tất cả hiện tượng vạn vật không sinh mà cũng không diệt, cái Bản thể Tuyệt Đích thật ra cũng không thêm, không bớt *. Mặc dù hình tướng đổi dời song Bản Thể thì vẫn còn mãi (Pháp Nhi Như thị Dhardama). Nó khác nào chất "cứng" đổi ra "lỏng", rồi "lỏng" biến thành "hơi", dần dần biến trạng kết trở lại thành "cứng"(...)

Đến đây ta lại cần nghiên cứu để hiểu mặt trời tại sao có chất lửa? Trong Kinh Lăng Nghiêm chép: Mặt trời thuộc về "hóa đại" (chất lửa) do nhân duyên kết cấu. Ta hãy lấy một ví dụ để chứng minh cho sự thật này: giữa lúc nắng về buổi trưa mùa hè, ta lấy một ít bông gòn để dưới một cái kính hiển vi thường (loupe) hay tối tân (microscope électronique) rồi đem kính ấy soi vào mặt trời lúc lâu thì thấy hốc khói và có lửa phát hiện. Như vậy là "chất lửa" vốn có khắp trong vũ trụ, cùng với các chất đất, nước, gió… 

Nói tới đây, ta cũng không quên tìm hiểu mặt trăng? Đức Phật dạy: Mặt trăng thuộc "thủy đại" (chất nước nên ánh sáng phản xạ của mặt trăng trong trẻo, mát mẻ. Thực nghiệm, ta lấy một cái đĩa để dưới một cái kính "phương chư" bằng thủy tinh (cristal) rồi soi vào giữa mặt trăng trong những đêm 15, 16 âm lịch thì ta sẽ thấy có nước nhỏ từng giọt xuống đĩa…

Thiền sư Thích Đức Nhuận (còn tiếp)

TIN, BÀI LIÊN QUAN:


Truy cập phiên bản mobile tại địa chỉ: http://m.phatgiao.org.vn/

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu


 Refresh

Vũ trụ quan (P.2)

Nói đến "Nghiệp" (Karma) tức nói đến sự sinh động biến hóa của vạn hữu (tous les êtres). Nhưng Nghiệp là gì? Và vũ trụ do nhân duyên nào mà có?
Vũ trụ quan (P.2) Vũ trụ quan (P.2)
810 700
Nói đến "Nghiệp" (Karma) tức nói đến sự sinh động biến hóa của vạn hữu (tous les êtres). Nhưng Nghiệp là gì? Và vũ trụ do nhân duyên nào mà có?